Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

10

Đến nay, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, chức năng

phim tài liệu truyền hình. Tùy theo góc độ nghiên cứu khác nhau của các tác giả sẽ có

những quan niệm riêng về loại phim này. Tuy còn tồn tại những quan niệm khác nhau,

nhưng phần lớn vẫn tập trung vào hai khuynh hướng sau đây:

Thứ nhất, đề cao tính chân thực của phim tài liệu truyền hình, đây là khuynh

hướng được nhiều học giả và nhà chuyên môn ở Việt Nam và quốc tế theo đuổi.

Thứ hai, đề cao tính nghệ thuật của phim tài liệu truyền trình lẫn tính báo chí

của nó. Phim tài liệu truyền hình chuyển tải những sự kiện, hiện tượng nóng bỏng của

cuộc sống thơng qua những thủ pháp nghệ thuật. Vì vậy, phim tài liệu truyền hình vừa

thể hiện rõ nét tính chính luận và tính thời sự của báo chí, đồng thời vừa thể hiện ý đồ

sắp đặt của tác giả theo hướng gia tăng tính sinh động, hấp dẫn của bộ phim.

Từ điển bách khoa toàn thư Encartna (Mỹ) ở mục từ Documentaries cho

rằng: “Phim tài liệu truyền hình là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ

nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một

cách chi tiết”. Phim tài liệu theo quan điểm này liên quan chặt chẽ với mọi mặt của

đời sống xã hội, từ lịch sử, văn hóa, chính trị cho tới thế giới tự nhiên.

Trong giáo trình Nghệ thuật điện ảnh, David Bordwell và Kristin Thompson,

thuộc Trường Đại học Wisconsin, định nghĩa: “Phim tài liệu là một tác phẩm chứa

đựng trong nội dung của nó những thơng tin chân thực về thế giới bên ngoài” . Định

nghĩa này cũng nhấn mạnh vào tính chân thực của phim tài liệu truyền hình như Từ

điển bách khoa tồn thư Encarta. Tính chân thực được hai tác giả coi như đặc tính

quan trọng nhất, quy định những đặc tính khác của phim tài liệu.

Theo quan điểm của Andrew Britton - nhà nghiên cứu phê bình về điện ảnh –

ông cho rằng: trước hết, một bộ phim tài liệu có giá trị phải phản ánh được những

góc cạnh khác nhau của sự thực, một sự thực khơng đơn giản như chúng ta nhìn thấy

mà là một sự thực được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng. Quan niệm

này của Andrew Britton đã thốt khỏi được tính tự nhiên chủ nghĩa mà nhiều nhà làm

phim tài liệu phương Tây mắc phải. Sự thực trong phim tài liệu phải được đặt trong

bối cảnh đã sinh ra nó, nằm trong mối quan hệ biện chứng với những sự kiện, hiện

tượng khác.

Các thể loại phim tài liệu truyền hình

Phim tài liệu truyền hình với nguyên tắc hàng đầu là loại bỏ sự hư cấu, chất

liệu của nó là những hình ảnh quay người thực, việc thực.

Phim tài liệu truyền hình có thể chia làm ba nhóm: phim tài liệu chân dung,

phim tài liệu ký sự ( phóng sự), phim tài liệu thời sự chính luận và nhằm vào ba đối

tượng là: con người, sự kiện, vấn đề. Cả ba nhóm thể loại này thường có sự giao thoa,

hòa nhập và hỗ trợ lẫn nhau.

Phim tài liệu chân dung

Đối tượng thể hiện chính là nhân vật có thực với đầy đủ số phận, tính cách

trong cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, với con người, với bản thân

mình. Trong phim tài liệu chân dung, tác giả phải tôn trọng các sự kiện trong thời

gian, khơng gian lịch sử, nhưng có quyền giới thiệu những nhân vật có thực ấy theo



11

cách nhìn và cách hiểu của riêng mình; việc hư cấu các chi tiết hoặc sự kiện của nhân

vật, đơi khi có sự khác biệt thậm chí ngược hẳn lại với quan niệm đương thời.

Phim phóng sự tài liệu hay còn gọi là phim tài liệu ký sự

Phim phóng sự (ký sự) tài liệu hướng ống kính vào những đối tượng khác

nhau và bố cục theo những cách thức khác nhau để làm nổi bật con người, sự kiện hay

một vấn đề xã hội mang tính thời sự nhất. Qua lời bình, tác giả dẫn giải, phân tích,

đánh giá, bình luận theo quan điểm, cảm nghĩ của riêng mình.

Hiện trong luận án nghiên cứu sinh tập trung khá nhiều phim tài liệu ký sự do

chất liệu hiện có tại các đài truyền hình địa phương hay Trung ương. Theo xu thế thời

đại, sự tách biệt này khơng còn rõ ràng nữa mà gần như được pha trộn, tổng hợp nhằm

đáp ứng được thị hiếu người xem, tăng sự thu hút, rating cao và dòng ký sự tài liệu về

miền Tây Nam Bộ đang chiếm ưu thế và chiếm cảm tình khán giả vì sự gần gủi, chân

thực và ln có chất thơ trong đó.

Phim tài liệu thời sự chính luận

Phim tài liệu thời sự chính luận thường phản ảnh một bối cảnh xã hội – kinh

tế- văn hóa – chính trị nhất định ở thời điểm sự kiện xảy ra có dấn ấn và gây sự chú ý

tác động nhất định đối với bối cảnh lịch sử xã hội đó hay cơng chúng nghe nhìn có thể

sản xuất định kỳ hay đột xuất.

Các yếu tố trong kịch bản phim tài liệu truyền hình

Lời bình

Lời bình thường được viết sau khi phim đã dựng xong và nhiều khi cũng do

người khác viết chứ không phải tác giả kịch bản hay đạo diễn, nhưng ngay trong kịch

bản cũng phải tính đến điều này.

Đối thoại ( phỏng vấn)



Lời của các nhân vật (phát biểu, trả lời phỏng vấn, trao đổi với nhau…) và

câu hỏi của tác giả trong những trường hợp cần thiết, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng

khơng gì thay thế được vì tính xác thực, trực tiếp của nó

Chạy phụ đề

Giới thiệu nhân vật, bối cảnh, không gian, thời gian, nguồn gốc, xuất xứ…

của tư liệu trong các trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo tính chân thực, tránh sự hiểu

lầm, suy diễn….

* Điểm lưu ý là hiện nay những dòng phim tài liệu hiện thực thường bỏ qua

lời bình, lấy tự sự nhân vật hay người dẫn truyện làm kết nối câu chuyện tạo sự chân

thực, sống động nhất có thể.

1.1.2. Lý thuyết tiếp cận

Để lý giải sự phản ánh của phim truyền hình về yếu tố sơng nước trong văn

hóa người Việt miền Tây Nam Bộ, chúng tôi dùng lý thuyết sinh thái văn hóa.

Sinh thái văn hóa trong nhân học phát triển vào những năm 1950 đã cung cấp

một cái nhìn cụ thể về sự tương tác giữa con người và môi trường qua thích nghi văn

hóa.



12

Thuyết sinh thái văn hóa gắn liền với tên tuổi của Julian Steward (1902-1972)

nằm trong trào lưu tiến hóa đa tuyến như một hướng phát triển tách ra khỏi ảnh hưởng

của quan điểm đặc thù luận lịch sử vốn chiếm ưu thế trong nhân học Mỹ vào nửa đầu

thế kỷ XX.

Theo Ngô Thị Phương Lan (2016), sự quan tâm của Steward đến yếu tố môi

trường là chịu ảnh hưởng của các tiền bối trước đó như Clark Wissler (1870-1947) và

C. Daryll Forde (1902-1973) vốn quan tâm đến sự tác động của mơi trường đến văn

hóa. Clark Wissler qua tác phẩm Indians of the United States (1940) thao tác khái

niệm vùng văn hóa (culture area). Mặc dù, Ơng nhấn mạnh đến vai trò sáng tạo của

văn hóa trong việc định hình các cách con người tương tác với mơi trường vật chất và

cho là có sự tương ứng giữa vùng văn hóa và vùng mơi trường tự nhiên nhưng Ơng

vẫn cho là có một số yếu tố quyết định của tự nhiên đối với văn hóa. Sinh thái văn hóa

của Julian Steward tập trung vào sự thích nghi của các nền văn hóa riêng biệt với các

mơi trường cụ thể. Như vậy, với hướng tiếp cận này, khái niệm thích nghi (adaptation)

là trung tâm của mối tương tác giữa con người và mơi trường. Thích nghi cho thấy

tính chủ động của con người thơng qua văn hóa để lựa chọn các khả năng mà môi

trường cung cấp.

Hướng tiếp cận lý thuyết này sẽ giúp lý giải tại sao con người ở những vùng

đất khác nhau lại lựa chọn cách sống, cách ăn mặc hay phương tiện đi lại phù hợp với

điều kiện sinh thái của họ. Về mối quan hệ giữa thích nghi văn hóa với mơi trường

sông nước của cư dân Nam Bộ, Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Chính yếu tố nước

đã tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như

sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có

cái chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình”.

Với đặc điểm là một vùng sông nước, vùng Tây Nam Bộ đã hình thành cho

mình một lối sống rất riêng mang đậm tính thích nghi với đặc điểm sinh thái này. Do

vậy, với góc nhìn sinh thái văn hóa qua dữ liệu là các bộ phim tài liệu truyền hình,

chúng tơi sẽ phân tích được các yếu tố thích nghi riêng biệt và đặc sắc này trên nhiều

khía cạnh như vấn đề định cư, phân bố dân cư, phương thức sản xuất, văn hóa nghệ

thuật …của Nam Bộ.

1.1.3 Tổng quan về vùng đất Tây Nam bộ

Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực Nam của Việt Nam, còn được

gọi là vùng đồng bằng Nam Bộ khu biệt hơn là miền Tây Nam Bộ (ngắn gọn theo

cách gọi của người người Việt Nam là miền Tây) có 1 thành phố trực thuộc trung

ương và 12 tỉnh.

Đồng bằng sơng Cửu Long được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi

dần qua thời gian; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc

theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sơng và biển đã hình thành những vạt đất

phù sa phì nhiêu dọc theo ven sơng lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn

trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên –

Hà Tiên, Tây Nam sơng Hậu và bán đảo Cà Mau.



13

Đồng bằng này còn được hình thành từ dòng chảy sơng Mê Cơng mang phù

sa bồi lắng. Người dân Việt khi đến định cư đã có tập qn chọn các vị trí gần các

vùng tập trung nước như hai bên bờ sông rạch, kênh mương, các vùng trũng chứa

nước hoặc vùng ven biển. Nhờ nguồn nước dồi dào và trong lành, từ xưa đồng bằng

sơng Cửu Long được cả nước ví như vựa lúa, giỏ cá và rổ trái cây của đất nước.

Là vùng đất mới với lịch sử trên 300 năm, trong quá trình khai phá, vùng Tây

Nam Bộ có những đặc thù về tự nhiên, lịch sử, xã hội. Với cảnh trí thiên nhiên và môi

trường sinh thái đa dạng, phức tạp, người dân Tây Nam Bộ đã lập nên những vùng

quần cư, định cư với các tên gọi rất mộc mạc. Đó là những “miệt giồng”, “miệt

vườn”, “miệt cù lao”, “miệt kênh”, “miệt thứ”, “miệt trên”, “miệt dưới. Mỗi “miệt”

đều có những đặc điểm địa hình, kinh tế, dân cư riêng. Hình thức cư trú của dân cư

vùng lúa nổi cũng khá đặc biệt. Họ tập trung ở ven sông, các trục lộ, trục kênh lớn,

trên những nhà sàn. Chuồng trâu bò cũng ở trên sàn cao. Đồng ruộng xa nhà từ vài

kilômét đến vài chục kilômét.

Nghề trồng lúa nước gắn liền với lịch sử khai thác và phát triển đồng bằng

sơng Cửu Long. Với một đồng bằng phẳng, có chế độ ngập lũ hàng năm lại nằm trong

vùng nhiệt đới gió mùa nên việc trồng lúa nước là hình thức sử dụng có hiệu quả nhất

nguồn tài nguyên của khu vực này. Đây được xem là vựa lúa lớn nhất nước với sản

lượng lương thực hàng năm lên đến hàng triệu tấn, không những bảo đảm cho nhu cầu

tiêu thụ trong nước mà còn cho xuất khẩu.

Cùng với việc trồng lúa, cư dân Tây Nam Bộ ngay từ những ngày đầu khai

khẩn vùng đất mới này đã biết lập vườn trồng cây ăn trái. Vườn thường ở sát nơi cư

trú, gần nhà. Những vùng đất phù sa có nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu là địa bàn

của các vườn tược, người ta gọi đó là miệt vườn hay văn minh miệt vườn.

Ngồi những cây chính, người ta còn trồng xen một số loại cây khác hoặc

trồng kiểu vườn tạp. Một số nơi trong các nhà vườn, trên cao là dừa, rồi đến cây ăn

trái, kết hợp với các thùng ong, trồng nấm, rau xanh, chuồng heo, dưới mương là tôm

càng xanh, cá.

Hệ thống sông rạch chằng chịt, đồng bằng Tây Nam Bộ là môi trường lý

tưởng cho việc chăn nuôi vịt. Cá là nguồn sản vật phong phú, dồi dào ở Tây Nam Bộ,

gần như chỗ nào có nước là có cá. Ngồi sơng Tiền, sơng Hậu, đồng bằng sơng Cửu

Long còn có diện tích mặt nước kênh rạch, ao hồ, đồng ruộng mông mênh cho cá tôm

sinh sống, phát triển. Hàng năm, cá tôm từ Biển Hồ (Campuchia) theo mùa nước tràn

về đồng bằng sông Cửu Long; các bưng, bàu, đìa, ao, hồ, ruộng đều ngập trong lũ.

Các loài cá đen, cá trắng lên đồng ruộng sinh đẻ và tăng trưởng nhanh nhờ nguồn thức

ăn dồi dào.

Song song với việc đánh bắt, để làm giàu nguồn lợi thủy sản, người dân đồng

bằng sông Cửu Long đã biết nuôi trồng các loại thủy sản bằng những phương cách

sáng tạo.

Với hệ thống sông rạch chằng chịt, dọc ngang, giao thông chủ yếu bằng

đường thuỷ, diện mạo văn hóa tinh thần gắn bó rất chặt chẽ với đời sống sơng nước,

biểu hiện cụ thể qua số từ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến nước ở vùng đất



14

này rất phong phú, đa dạng. Nó bao gồm những từ trong tiếng Việt phổ thông và

những từ riêng trong phương ngữ Tây Nam Bộ.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Quá trình phát triển truyền hình của Việt Nam

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phim tài liệu Việt Nam đã phát

triển mạnh ở cả hai miền Nam – Bắc, phản ánh kịp thời thực tế chiến đấu, sản xuất ở

chiến trường lớn cũng như ở hậu phương, góp phần vào thắng lợi năm 1975. Sau khi

đất nước thống nhất, phim tài liệu chuyển dần sang hình thức phát sóng trên các đài

truyền hình, phản ảnh những sự việc, sự kiện xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới.

Từ 1954 đến 1983, phim tài liệu Việt Nam giành được 46 giải Bông sen vàng,

71 Bông sen bạc trong các liên hoan phim quốc gia, 15 Huy chương vàng, 7 Huy

chương bạc trong các liên hoan phim quốc tế. Trong đó có nhiều phim tài liệu truyền

hình ý nghĩa, góp phần vào xây dựng hàng trăm phim tài liệu của điện ảnh Việt Nam.

Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ,

phim tài liệu truyền hình trở thành món ăn tinh thần hàng ngày khơng thể thiếu được

của đại chúng, đóng góp đắc lực vào sự nghiệp nâng cao dân trí và đấu tranh tư tưởng.

1.2.2. Quá trình phát triển phim tài liệu truyền hình phản ánh văn hóa

sơng nước miền Tây Nam Bộ

Phim tài liệu truyền hình về văn hóa sơng nước miền Tây Nam Bộ thực sự

phát triển sau năm 1975. Bên cạnh mảng đề tài về cuộc sống và chiến đấu của nhân

dân hai miền, mảng đề tài mới về cuộc sống cư dân Nam Bộ, đặc biệt là Tây Nam Bộ

được quan tâm sản xuất.

Khoảng 10 năm sau chiến tranh, 26 tên phim về sông nước Tây Nam Bộ ra

đời trong bộn bề khó khăn về kỹ thuật và phương tiện. Với chừng đó bộ phim, cũng

có thể hình dung về một vùng văn hóa với mênh mang sơng nước, những con người

bình dị hiền hòa đang xây dựng cuộc sống trên cả bình diện vật chất và tinh thần.

Thành tựu của dòng phim này chưa nhiều lắm nhưng cũng là sự ghi nhận sự

đóng góp của những nhà làm phim tài liệu. Đó là các giải thưởng Bơng sen bạc “ Hạt

thóc vàng” (1983), Bơng sen vàng “Cây lúa Tháp Mười” (1987), Giải A Liên hoan

phim môi trường châu Á- Thái Bình Dương phim “Giọt mật” (1987)...

Từ những năm đầu 1990, cuộc sống của người dân khởi sắc và về kinh tế có

nhiều cơ chế thuận lợi hơn, tạo đà cho sự phát triển. Trong thời kỳ này số lượng các

phim truyền hình về đề tài sơng nước khơng tăng lên, chỉ có 14 bộ phim. Tuy vậy, giai

đoạn này chứng kiến một sự thay đổi về kỹ thuật. Về nội dung, đề tài và mục đích làm

phim cũng thể hiện một sự thay đổi và đột phá. Trong 14 bộ phim giai đoạn này, có 4

bộ phim phản ánh về đời sống vật chất của cư dân Tây Nam Bộ, 2 bộ phim phản ánh

đời sống tinh thần, 6 bộ phim có nội dung đan xen (vừa phản ánh đời sống vật chất và

đời sống tinh thần), có 2 bộ phim cảnh báo về việc con người đang tàn phá, hủy hoại

mơi trường thiên nhiên trong q trình khai thác và chinh phục của mình.

Từ năm 2000 đến nay, chủ yếu bắt đầu từ 2005, thống kê cho thấy có khoảng

11 bộ phim tài liệu ký sự truyền hình, chủ yếu do Đài truyền hình TP. Hồ Chí Minh

(TFS) sản xuất và một số đài truyền hình địa phương Tây Nam Bộ như Đài truyền

hình Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang và Đài truyền hình Trung ương (VTV). Hơn nữa,



15

ở đây số lượng khơng còn là quan trọng nữa mà kỹ thuật làm phim, quay phim, nội

dung, thời lượng, nhà sản xuất, tất cả đều có một sự đổi mới ngoạn mục.



TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Để triển khai các nội dung của luận án ở phần sau, trong chương 1 người

nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài với các nội dung sau:

- Các khái niệm cơ bản “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sơng

nước,” và “phim tài liệu truyền hình”

- Lý thuyết tiếp cận (tiếp cận liên ngành, lý thuyết địa văn hóa, lý thuyết của

nhân học, ngôn ngữ học), lý luận và khái niệm về phim tài liệu truyền hình, chức năng

thể loại của phim tài liệu truyền hình, lược sử phát triển của truyền hình Việt Nam và

quá trình thực hiện các phim tài liệu truyền hình về văn hóa sơng nước Tây Nam Bộ.

- Quá trình phát triển phim tài liệu truyền hình Việt Nam cũng như quá trình

phát triển phim tài liệu truyền hình phản ánh văn hóa sơng nước miền Tây Nam Bộ.

Qua đó khẳng định phim tài liệu truyền hình đề tài sơng nước trong văn hóa miền Tây

Nam Bộ là cơng cụ hiệu quả, góp phần tích cực vào việc bảo tồn, truyền bá và phát

huy các giá trị văn hóa Tây Nam Bộ hiện nay.



16

CHƯƠNG 2

THÀNH TỐ VẬT CHẤT TRONG VĂN HĨA SƠNG NƯỚC MIỀN TÂY

NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU TRUYỂN HÌNH VIỆT NAM



2.1. Khơng gian văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu

truyền hình Việt Nam

Các nhà làm phim tài liệu truyền hình về đề tài Nam Bộ đều đưa vào trong

tác phẩm của mình những đặc điểm tự nhiên nổi bật của vùng đất với các hình ảnh lời

bình chân thực và đầy tính nghệ thuật. Hình ảnh sơng nước Nam bộ xuất hiện trong tất

cả các phim tài liệu, đặc biệt là phim Mekong ký sự.

Mặc dù chỉ là một ký sự về dòng sơng Mekong bắt nguồn từ Trung Quốc, sau

khi đi qua Việt Nam, tn ra Thái Bình Dương, bộ phim Mekong ký sự như một cơng

trình khảo sát công phu về đời sống cư dân cùng các giá trị địa văn hóa của vùng sơng

nước miền Tây Nam Bộ. Bộ phim phản ánh bức tranh chung, đồng thời làm nổi bật

nhiều mặt hoạt động riêng biệt, đặc thù mà sông nước là yếu tố chi phối trực tiếp hoặc

gián tiếp.

Qua phim tài liệu, có thể hình dung q trình di cư khai hoang lập ấp của

người Việt tại Nam Bộ, có một cái nhìn bao qt hơn về người Việt xưa trong quá

trình khai hoang mở đất. Cũng qua phim tài liệu, khán giả biết rõ hơn về vai trò của

người Hoa trong nơng nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long, họ gắn với rau màu và

biết tận dụng vùng đất phù sa màu mỡ này với những sản phẩm tiêu biểu.

Với cảnh trí thiên nhiên và mơi trường sinh thái đa dạng, phức tạp, người dân

Nam Bộ đã lập nên những vùng quần cư, định cư với các tên gọi rất mộc mạc. Đó là

những “miệt giồng”, “miệt vườn”, “miệt cù lao”, “miệt kênh”, “miệt thứ”, “miệt trên”,

“miệt dưới. Mỗi “miệt” đều có những đặc điểm địa hình, kinh tế, dân cư riêng. Hình

ảnh các miệt này hiện lên ở hầu hết các trong các tập phim Dư địa chí, Đất chín rờng,

Mekong ký sự...chân thật sống động với đầy đủ các điều kiện tự nhiên đặc trưng đan

xen đời sống thực tại, các giá trị văn hóa của con người sinh sống ở đó.

Đất chín rờng (Tập 2, chuyên đề về miệt vườn) miêu tả sống động các vườn

cây ăn trái, sự hình thành phát triển và cơng sức con người đã tạo ra nó. Miệt vườn là

khu dân cư hình thành sớm và nhanh chóng phát triển với tất cả sự trù phú của nó ở

châu thổ Cửu Long.

Miệt cù lao là vùng đất cư trú trên các cù lao nằm giữa sông Tiền và sông

Hậu, kéo dài từ Tân Châu (An Giang) đến Mỹ Tho (Tiền Giang), Bến Tre. Ta có thể

thấy rõ nét trong các tập phim Mekong ký sự về An Giang, Tiền Giang, Bến Tre. Miệt

cù lao là vùng đất cư trú trên các cù lao nằm giữa sông. Các cù lao này như những “ốc

đảo” nổi cao giữa bốn bề sông nước. Đặc trưng trong phương thức sản xuất kinh tế

của kiểu quần cư này là: vườn cây – ao cá – đàn vịt – ruộng lúa - thương phẩm.

2.2. Phương thức sản xuất của cư dân miền Tây Nam Bộ qua phim tài

liệu truyền hình Việt Nam

2.2.1. Nghề trờng lúa nước

Phim tài liệu Đất chín rờng có riêng một tập phim để nói về cây lúa (tập 1) và

cuộc mưu sinh của lớp lớp người Việt dựa vào cây lúa ở mảnh đất phương Nam. Tập

phim lấy việc phản ánh công cuộc chinh phục Đồng Tháp Mười làm chủ đạo, thơng



17

qua đó phản ánh nghề trồng lúa nước, các thành tựu từ cây lúa mà người nông dân

Nam Bộ đạt được. Phim làm nổi bật các giá trị lao động tiêu biểu của con người Nam

Bộ trong sản xuất nông nghiệp: cần cù, dám nghĩ dám làm, đi đầu với những cái mới.

Tập 1 trong phim Đất chín rờng đã dùng thủ pháp phóng sự chân dung thơng

qua câu chuyện của người nông dân. Tập phim phản ảnh công cuộc chinh phục Đồng

Tháp Mười, sự gắn bó giữa người nông dân với cây lúa đi theo suốt cuộc đời và

truyền qua nhiều thế hệ. Tập phim cũng đã dựng lại lịch sử khai hoang, trồng lúa ở

vùng đất này theo kết cấu dòng chảy thời gian và sự kiện. Mỗi tập phim là mỗi sự gửi

gắm và nâng cao ý thức của người xem ở những góc độ khác nhau, đơi khi là sự tự

giác, tự nguyện của chính khán giả xem trước khách quan của thực tế.

Những nhân vật được khắc họa trong Mekong ký sự như là một sự so sánh

của các thế hệ trong gia đình gắn với vùng sông nước và chuyển đổi phù hợp, thích

nghi với thời gian, với sự đổi mới. Những hình ảnh minh họa sống động từ thời chiến

tranh cũng như tư liệu, ảnh chụp và cả những thước phim của người nước ngoài đã tạo

nên một ý nghĩa mới. Khán giả xem phim tự cảm nhận về lòng yêu quê hương, đất

nước mình ở mọi góc độ khác nhau theo chủ quan của mỗi người.

2.2.2. Nghề làm vườn

Đất chín rờng (tập 2, Thông điệp từ miệt vườn) mô tả sống động các vườn

cây trái khắp miền Nam Bộ với các loại chôm chôm, măng cụt, cam, nhãn… phản ánh

sự giàu có của cây trái tự nhiên. Phim tài liệu Đất chín rờng còn phản ánh cơng sức

con người đã khai hoang, xây dựng nên các miệt vườn, các kỹ thuật trồng cây ăn trái

từ lúc ươm mầm, sang chiết, trồng chăm sóc, thu hoạch…

Một trong những sáng tạo lớn nhất của người Việt Tây Nam Bộ là đào mương

– lên liếp để lập vườn trồng cây ăn trái. Thường thì ban đầu họ biến miếng đất khai

phá thành ruộng để trồng lúa nước do đất còn thấp, rồi mới chuyển dần những miếng

ruộng gần nhà thành vườn bằng một hệ thống mương dẫn nước tự nhiên vào các liếp

vườn, để đưa nước và phù sa sông vào tận gốc cây; giúp lắng đọng các chất chua mặn

từ đất mặt xuống lòng kênh mương (Mekong ký sự, tập 85, Bạc Liêu).

2.2.3. Nghề đánh bắt thủy sản

Trong Dư địa chí, Mekong ký sự, Đất chín rờng… có thể bắt gặp những hình

ảnh sau:

Nghề đánh bắt cá đồng, cá sông đa dạng, tùy địa phương đủ mọi đối tượng.

Các hình ảnh minh họa trong phim: câu rê, câu nhấp, câu cắm, câu giăng, câu quàng,

câu thả, câu tôm, câu lươn, câu cá chạch, lưới chài, nôm, lưới dồn, lưới kéo, lưới giựt;

ngư cụ cố định có: rớ, vó cất, vó tràm, lưới đáy, đó, lọp, lờ, bơn, trúm, lưới giăng, lưới

qng. (Đất chín rờng, tập 12, Vương quốc các lồi cá)

Tập 3 của phim Uống chung dòng nước tạo hấp dẫn với những cảnh quay từ

thượng nguồn sông Mekong ở Quế Lâm (Trung Quốc), đến hồ Tonlesap (Campuchia)

và điểm dừng chân là An Giang, những nhân vật của các nước khác nhau với cách

mưu sinh khác nhau bằng nghề đánh bắt cá. Uống chung dòng nước đã đem lại cho

khán giả những thước phim đắt giá và chân thực, điều mà các nhà làm phim tài liệu

trong nước cũng cần lưu ý và học hỏi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×