Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1  Lý do chọn đề tài

1  Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ở luận án này, chúng tôi tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được

xử lý triệt để, những vấn đề mới được đặt ra trong luận văn, bằng cách

củng cố thêm cơ sở lý luận, khảo sát thêm tập hợp TT đa tiết để xác định

đúng hơn bản chất CTTT của TT tiếng Việt.

Vấn đề trọng tâm mà đề tài đặt ra, cần tiếp tục giải quyết là: xác

định CTTT của TT tiếng Việt để thấy sự tương đồng của nó với CTTT

của ĐT tiếng Việt. Để giải quyết được vấn đề này, phải làm rõ được:

(i) Về vấn đề phân định từ loại; (ii) Về ý nghĩa đặc trưng của TT;



(iii)



Những đơn vị đơn tiết và đa tiết làm TT; (iv) Về phạm trù nội động/

ngoại động; (v) Mối liên hệ giữa CTTT và cấu trúc cú pháp của TT trong

câu tiếng Việt; (vi) Các vai nghĩa cơ bản trong cấu trúc tham tớ có tính

từ làm hạt nhân trong tiếng Việt ; (vii) So sánh CTTT của TT tiếng Việt

với CTTT của TT tiếng Anh ở mức độ toàn diện hơn.

Giải quyết được các vấn đề trên, chúng tơi hy vọng tìm hiểu mợt

cách hệ thớng, đầy đủ hơn về CTTT của TT tiếng Việt. Từ đó, cung cấp

thêm cơ sở chứng minh cho sự gần gũi giữa TT và ĐT trong tiếng Việt.

0.2. Lịch sử vấn đề

Vấn đề từ loại trong ngơn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói

riêng, ln là vấn đề phức tạp và gây tranh cãi. Nhiều nhà Việt ngữ học,

do bị ảnh hưởng nặng nề bởi lý luận ngôn ngữ châu Âu, đã nghi ngờ về

khả năng phân định từ loại trong tiếng Việt, như Grammont - Lê Quang

Trinh, Nguyễn Hiến Lê,v.v.

2



Trái với khuynh hướng trên, phần lớn các nhà Việt ngữ học, như

Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Thiện

Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Đinh Văn Đức,v.v. đều

cho rằng có tờn tại từ loại TT, và từ loại này thường được miêu tả khá

đầy đủ trong mối tương quan với từ loại danh từ và ĐT. Theo hướng này,

một số tác giả đề nghị phân chia từ loại theo một tiêu chí, một số tác

khác lại chủ trương xác định các từ loại qua một tập hợp tiêu chí.

Nhiều nhà Việt ngữ học nhìn thấy sự tương đồng sâu sắc của hai từ

loại ĐT và TT. Do sự gần nhau về đặc điểm ngữ pháp, trước hết là trong

chức vụ vị ngữ, TT và ĐT có những đặc điểm chung, khiến người ta

nghĩ đến khả năng gom chúng vào một phạm trù. Quan điểm này được

nhiều tác giả chia sẻ, như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh văn Đức, Nguyễn Thị

Quy, cao Xuân Hạo,v.v.

Từ khi ngữ pháp chức năng được áp dụng giải quyết các vấn đề

trong ngôn ngữ học, nhiều vấn đề như việc xác định câu, từ loại được

xem xét lại, được xác định gần bản chất hơn. Trọng tâm nghiên cứu câu

được chuyển từ chủ - vị sang vị từ. Câu không chỉ được xem xét trên

bình diện cú pháp như trước đây, mà còn được chú trọng làm rõ trên

bình diện nghĩa. Từ loại cũng được xác định rõ hơn trong sự hành chức

của từ, trong khung tham tố, trong câu. Việc xác định từ loại trong

khung tham tố làm cho từ loại bợc lợ bản chất rõ nhất trên các bình diện,

đặc biệt là bình diện nghĩa – mợt bình diện có khả năng xác định được

những vấn đề phổ quát trong ngơn ngữ. Việc xác định TT từ góc đợ

3



CTTT cũng là một hướng khả thi, cần thiết. Những nhà ngữ pháp chức

năng đã nghiên cứu các quy tắc chi phối hoạt đợng của ngơn ngữ trên

các bình diện hình thức và nợi dung trong mới liên hệ có tính chức năng

– mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích – để từ đó tìm

ra quy tắc xây dựng cấu trúc của đơn vị ngôn từ cơ bản là câu. Nghĩa

miêu tả của câu (còn được gọi là nghĩa biểu hiện, nghĩa trình bày, nghĩa

kinh nghiệm) phản ánh sự tri nhận và kinh nghiệm của chúng ta về thế

giới, theo đó mỗi câu nói có mợt vị từ làm cốt lõi và quay quần xung

quanh là những tham tớ, biểu thị những vai nghĩa nào đó. Những tác giả

tiêu biểu cho xu hướng này là Tesniere, Fillmore, Givón, Dik, Cao Xuân

Hạo, Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Vân,v.v.

Việc nghiên cứu CTTT của TT chỉ mới được giới ngôn ngữ học

thế giới chú ý trong vài chục năm gần đây. Chưa bàn trực tiếp về CTTT

của TT nhưng nhiều nhà Việt ngữ học, như Nguyễn Tài Cẩn, Diệp

Quang Ban, Đinh Văn Đức,v.v. đã gián tiếp bàn về CTTT của TT với

những tên gọi khác nhau như “cụm TT”, “đoản ngữ TT”, “tổ hợp TT”,

“nhóm TT”, v.v. Như vậy, TT đã được nhiều tác giả bàn đến trong mối

liên hệ với các thành tố phụ trước, thành tố phụ sau, nhưng chưa tác giả

nào bàn đầy đủ, thấu đáo về CTTT của TT, và đặt nó trong thế đới sánh

với CTTT của ĐT, nhằm làm rõ những tương đồng về nhiều mặt giữa TT

và ĐT trong tiếng Việt. Việc xác định TT từ góc đợ CTTT nằm trong xu

hướng xác định từ loại trong ngữ đoạn chức năng, trong sự hành chức

của từ. Vai trò hạt nhân trong khung tham tớ sẽ giúp TT bộc lộ hết khả

4



năng hoạt động trong sự tương ứng, sự bất xứng giữa hai bình diện cú

pháp và ngữ nghĩa.

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

Xác định rõ bản chất của từ loại TT trong tiếng Việt. Từ góc đợ

CTTT, ḷn án tập trung xác định nhóm từ vẫn được coi là TT tiếng Việt

(cùng với ĐT) có tư cách là mợt tiểu loại của vị từ. Chúng có CTTT với

nhiều điểm tương đồng CTTT của ĐT tiếng Việt.

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát, phân tích khả năng hoạt động của TT tiếng Việt ở hai

phương diện: cấu trúc cú pháp và CTTT. Làm rõ các vai nghĩa và vai cú

pháp của TT trên hai phương diện này. Tìm mới liên hệ giữa CTTT và

cấu trúc cú pháp của TT. Đối chiếu CTTT của TT tiếng Việt với CTTT

của TT tiếng Anh.

0.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TT (TT) trong tiếng Việt

và cấu CTTT của nó. Xác định cụ thể hơn, đối tượng khảo sát sẽ giới

hạn ở 1612 TT đơn tiết và những 769 đơn vị song tiết có hạt nhân là

TT đơn tiết và yếu tớ sau có tư các bổ ngữ.

- Phạm vi nghiên cứu là CTTT của TT, cấu trúc cú pháp của TT, và

quan hệ giữa hai bình diện này.



5



- Ngữ liệu nghiên cứu được lấy chủ yếu từ "Từ điển tiếng Việt"

(Hoàng Phê chủ biên, 2006) và từ ngôn ngữ được được sử dụng trong

giao tiếp hàng ngày (xem Phụ lục).

0.5. Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, đặc biệt là lý

thuyết về CTTT, để xác định CTTT của TT được rõ hơn. Bên cạnh đó,

luận án cũng sử dụng các quan điểm của Dixon, Givon, v.v. để giải quyết

những vấn đề có liên quan.

Về phương pháp, luận án sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, miêu tả: dùng để miêu tả TT ở phương

diện cú pháp và CTTT (trong tiếng Việt và trong tiếng Anh).

- Phương pháp đối chiếu: dùng để chỉ ra những tương đồng, khác

biệt giữa CTTT trong tiếng Việt và trong tiếng Anh, qua đó biện giải,

làm rõ thêm những đặc điểm CTTT của TT trong tiếng Việt.

- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê dữ liệu phục vụ cho

những luận điểm trong luận án.

0.6. Đóng góp của luận án

Về phương diện lý luận, luận án cố gắng làm rõ CTTT của TT;

dùng tiêu chí CTTT để xác định bản chất của TT; tìm mới liên hệ giữa

CTTT và cấu trúc cú pháp của TT; chứng minh sự gần gũi giữa ĐT và

TT trong tiếng Việt.

Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần giúp cho việc sử dụng

tiếng Việt chính xác hơn; những ngữ liệu, phân tích trong luận án cũng

6



sẽ giúp cho người học ngoại ngữ (đặc biệt các ngơn ngữ biến hình,

chẳng hạn, tiếng Anh) thuận lợi hơn trong quá trình nhận diện và sử

dụng các cấu trúc câu có chứa TT. Nợi dung luận án cũng có thể làm tài

liệu cho việc dịch thuật Anh - Việt và ngược lại.

0.7. Cấu trúc luận án

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, luận án được sắp xếp như

sau: phần chính văn có dung lượng 176/184 trang, gồm: phần Mở đầu

(32 trang); Chương 1 – Những cơ sở lý luận chung (39 trang); Chương 2

– Cấu trúc tham tố của tính từ tiếng Việt (51 trang); Chương 3 – Mối

quan hệ giữa cấu trúc tham tố và cấu trúc cú pháp của tính từ tiếng Việt

(21 trang); Chương 4 – Đối chiếu tính từ tiếng Việt với tính từ tiếng Anh

ở phương diện cấu trúc tham tớ và phương diện có liên quan (25 trang);

phần Kết ḷn (4 trang). Phần còn lại gờm Danh mục tài liệu tham khảo,

Danh mục các bài báo khoa học.



Chương 1

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG



7



1.1. Một số vấn đề về tính từ và tính từ tiếng Việt

Nợi dung phần này tập trung bàn về: các quan niệm về TT trong

các ngôn ngữ và nhấn mạnh quan điểm của Dixon – một khái quát đầy

đủ, sâu sắc về TT; Quan điểm của Givón về ý nghĩa đặc trưng của TT, để

từ đó, khẳng định nếu thừa nhận mợt tập hợp TT trong tiếng Việt, thì nó

chỉ nằm ở phương diện đặc trưng (phân biệt với tập hợp TT được luận

án giả định); Một quan điểm phổ biến về TT tiếng Việt – về tập hợp TT

mà luận án giả định.

Các tiêu chí được dùng để xác định, nhận diện TT được bàn đến.

Về cơ bản, các tiêu chí - ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng

cú pháp - vẫn có tác dụng ở mợt mức đợ nhất định, trong những phạm vi

nhất định trong việc phân chia từ loại. Nếu không tính đến các tiêu chí

này thì khó có thể bàn đến việc phân chia từ loại. Thực tế cho thấy rằng:

có sử dụng cả ba tiêu chí, hay kết hợp các tiêu chí một cách riêng rẽ thì

vẫn chưa có khả năng tìm được mợt kết quả nhất quán, một hướng để

phân định một cách triệt để từ loại nói chung cũng như từ loại tiếng Việt

nói riêng. Cần quan niệm đúng về các phương diện hoạt đợng của mỗi

nhóm từ loại, từ đó, xác định rõ ranh giới của từ loại trong tiếng Việt.

Trong luận án này, chúng tôi cũng đề cập đến một hướng phân chia

từ loại – dựa trên thang độ nghĩa. Hướng phân chia này cũng cho thấy

chỉ có hai từ loại cơ bản, phổ quát trong các ngôn ngữ (danh từ và ĐT).

TT, nếu được thừa nhận, thì nó chỉ tờn tại ở phương diện đặc trưng, hay



8



nói như Đinh Văn Đức: “Nói một cách tổng quát, TT là từ loại chỉ đặc

trưng của tất cả những khái niệm được biểu đạt bằng danh từ và ĐT”.

Đối với việc phân loại TT tiếng Việt: Về mặt ngữ nghĩa, việc tìm

kiếm sự khu biệt rạch ròi giữa TT nợi đợng với TT ngoại động là ít tính

khả thi. Nếu cần phân biệt sâu hơn về mặt nghĩa, có thể coi TT nội động

là những từ chỉ trạng thái, tính chất tự thân của đới tượng giữ vai chủ

ngữ ở bình diện cú pháp. Trong quá trình khảo sát chúng tơi cũng nhận

thấy, vai nghĩa giữ chức vụ bổ ngữ trên bình diện cú pháp thường đóng

vai trò chỉ phạm vi ảnh hưởng đến chủ thể mà nghĩa của TT thể hiện chứ

không phải ảnh hưởng đến một thực thể khác. Đây là những điểm khác

biệt cơ bản, quan trọng để phân biệt TT nội động được dùng với tư cách

ngoại động và TT có bản chất là ngoại đợng. Về mặt cú pháp, nhìn

chung có thể phân loại TT dựa trên khả năng bắt ḅc hay khơng bắt

ḅc có bổ ngữ trực tiếp (thành TT nội động và TT ngoại động). TT

ngoại động khi chuyển sang dùng như nội động thường làm diễn tố (chủ

ngữ), ý nghĩa của câu bị thay đổi. Đây chính là một điểm quan trọng

phân biệt TT nội động dùng như ngoại động với TT ngoại động.

1.2. Cấu trúc tham tố và cấu trúc tham tố của tính từ

Tập hợp các tham tớ được lựa chọn bởi một hạt nhân bao gồm các

đặc tính, quan hệ, và vai trò cú pháp của chúng được gọi là cấu trúc

tham tớ (argument structure) của hạt nhân đó. Hạt nhân này đóng vai trò

quyết định. Chính ý nghĩa của nó sẽ chi phối, quyết định đến số lượng

9



tham tố (cần bao nhiêu, có thể có bao nhiêu) và đặc tính ngữ nghĩa của

tham tố (các kiểu vai nghĩa).

Trong các ngôn ngữ có sự phân biệt rõ ràng giữa đợng từ và TT

(chẳng hạn tiếng Anh), các tham tố liên quan chủ yếu với các đợng từ

nhưng chúng cũng có thể liên quan tới TT và mợt sớ danh từ. Nói cách

khác, TT, danh từ cũng có CTTT. Trong những ngơn ngữ có sự khu biệt

rõ ràng giữa ĐT và TT (chẳng hạn tiếng Anh), tham tố liên quan chủ yếu

với các ĐT nhưng chúng cũng có thể liên quan tới hạt nhân là các từ loại

khác. Việc phân loại tham tớ có thể thực hiện dựa những tiêu chí khác

nhau. Nhìn chung, trong các tài liệu ngơn ngữ học hiện nay, tham tố

thường được phân loại như sau:

(i) Tham tố bắt buộc và tham tố tùy ý (obligatory argument and

optional argument); (ii) Tham tố ngoại tại và tham tố nội tại (external

argument and internal argument); (iii) Tham tố trực tiếp và tham tố gián

tiếp (direct argument and indirect argument); (iv) Tham tố ngầm ẩn

(suppressed/ implicit argument); (v) Tham tố bị lược bỏ (deleted

argument); (vi) Tham tố sự kiện (event argument).

CTTT của TT là mợt dạng CTTT trong đó hạt nhân là một TT, các

tham tố là những ngữ đoạn bổ sung về phương diện nghĩa cho TT đó.

Các ngữ đoạn này thường là ngữ danh từ, ngữ giới từ hoặc một cấu trúc

cú pháp phức hợp (một cú, hoặc một ĐT nguyên mẫu, v.v.).

1.3. Tiểu kết



10



TT tiếng Việt cũng chia sẻ hầu hết đặc tính của TT trong các ngôn

ngữ khác. TT trong tiếng Việt – một ngôn ngữ không biến hình, khơng

được nhận diện về hình thức – là nhóm từ gây nhiều tranh luận. Đặc

điểm có khả năng độc lập làm vị ngữ như một vị từ nội động khẳng định

tư cách là một tiểu loại của vị từ (giớng như ĐT) của nó.

Ngoài ba tiêu chí – ý nghĩa, chức năng cú pháp, khả năng kết hợp

thường được nêu ra, luận án này bổ sung thêm một tiêu chí – tiêu chí

CTTT. Trong CTTT, khả năng kết hợp của vị từ trung tâm với các tham tố

trên cả bình diện cú pháp, ngữ nghĩa được làm rõ. CTTT cũng được bàn

đến ở các khía cạnh: vai trò của vị từ hạt nhân, phân loại các tham tố và

khả năng kết hợp với tham tố. CTTT của TT cũng được trực tiếp hoặc

gián tiếp đề cập đến, đặc biệt là vai trò trung tâm của TT trong CTTT.

Về phân chia từ loại TT, luận án chia TT thành ba loại (TT nợi

đợng, TT ngoại đợng, TT có hai cách dùng). Việc phân chia TT được

dựa trên cơ sở của phạm trù nội động / ngoại động và chú trọng đến

tiêu chí cú pháp [+/- Bổ ngữ trực tiếp].



Chương 2

CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

2.1. Vấn đề hạt nhân cấu trúc tham tớ của tính từ tiếng Việt

Chúng tôi quan niệm: những đơn vị song tiết có hạt nhân là TT

đơn tiết và yếu tớ sau có tư các bổ ngữ là những ngữ đoạn chức năng mà

11



hạt nhân của nó là TTĐT. Để làm rõ được vấn đề này, chúng tôi dành

một dung lượng khá dài để lần lượt lý giải: về ngữ TT; vai trò của tiêu

chí TD/RB trong việc xác định cương vị từ tiếng Việt; tiếng có quan hệ

thế nào với tư cách của từ; quan hệ cú pháp có quan hệ thế nào với tư

cách của ngữ và tư cách của từ.

2.2. Tham tớ của tính từ tiếng Việt

Ḷn án ập trung làm rõ các tham tố gồm diễn tố và chu tố. Diễn

tố sẽ nằm trong một kết cấu vị ngữ hạt nhân còn chu tớ nằm trong kết

cấu vị ngữ mở rộng. Trong quan hệ với vị từ, diễn tớ thường giữ vị trí

nòng cớt trong câu, có nghĩa nó bắt ḅc phải có mặt để làm nên sự tình.

Chu tớ là thành tớ khơng có chức năng xác định các sự tình theo đúng

nghĩa, nhưng nó cung cấp nhiều thơng tin gắn với sự tình theo mợt tổng

thể bằng cách chỉ định thời gian hoặc vị trí của các sự tình, đưa ra lí do

hoặc nguyên nhân của các sự tình, và cung cấp những thơng tin bổ sung

khác. Ở mợt phương diện khác, có thể chia tham tố thành tham tố ngoại

tại và tham tố nội tại. Tham tớ ngoại tại thường đóng vai trò chủ ngữ,

nằm ngoài cấu trúc của vị từ làm vị ngữ. Tham tố nội tại thường được

xem như các bổ ngữ (trực tiếp, gián tiếp) có quan hệ nợi tại với vị từ

(nằm trong cấu trúc vị từ).

2.3. Cấu trúc đơn trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Hạt nhân là tính từ tiếng Việt được xác định trong cấu trúc đơn trị.

TT nhóm nợi đợng có thể mợt mình làm vị ngữ, có quan hệ chặt với chủ

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1  Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×