Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

Tải bản đầy đủ - 0trang

hạt nhân của nó là TTĐT. Để làm rõ được vấn đề này, chúng tôi dành

một dung lượng khá dài để lần lượt lý giải: về ngữ TT; vai trò của tiêu

chí TD/RB trong việc xác định cương vị từ tiếng Việt; tiếng có quan hệ

thế nào với tư cách của từ; quan hệ cú pháp có quan hệ thế nào với tư

cách của ngữ và tư cách của từ.

2.2. Tham tớ của tính từ tiếng Việt

Ḷn án ập trung làm rõ các tham tố gồm diễn tố và chu tố. Diễn

tố sẽ nằm trong một kết cấu vị ngữ hạt nhân còn chu tớ nằm trong kết

cấu vị ngữ mở rộng. Trong quan hệ với vị từ, diễn tố thường giữ vị trí

nòng cớt trong câu, có nghĩa nó bắt ḅc phải có mặt để làm nên sự tình.

Chu tớ là thành tớ khơng có chức năng xác định các sự tình theo đúng

nghĩa, nhưng nó cung cấp nhiều thơng tin gắn với sự tình theo mợt tổng

thể bằng cách chỉ định thời gian hoặc vị trí của các sự tình, đưa ra lí do

hoặc nguyên nhân của các sự tình, và cung cấp những thơng tin bổ sung

khác. Ở mợt phương diện khác, có thể chia tham tớ thành tham tố ngoại

tại và tham tố nội tại. Tham tớ ngoại tại thường đóng vai trò chủ ngữ,

nằm ngoài cấu trúc của vị từ làm vị ngữ. Tham tố nội tại thường được

xem như các bổ ngữ (trực tiếp, gián tiếp) có quan hệ nợi tại với vị từ

(nằm trong cấu trúc vị từ).

2.3. Cấu trúc đơn trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Hạt nhân là tính từ tiếng Việt được xác định trong cấu trúc đơn trị.

TT nhóm nợi đợng có thể mợt mình làm vị ngữ, có quan hệ chặt với chủ

12



ngữ cả về cú pháp và ngữ nghĩa. Các TT nhóm nợi đợng này khi tự mình

làm thành phần Thuyết có thể kết hợp với phần Đề để tạo thành câu đơn

hai thành phần tối giản mà không cần đến những thành phần khác. Về

mặt cấu tạo, TT nhóm nợi đợng này có thể là một từ đơn hoặc từ phức.

Sự kết hợp trực tiếp giữa Đề với TT kiểu này cho ta một câu trọn nghĩa –

có thể hiểu được mà khơng cần phải đặt trong ngữ cảnh (context). Phần

lớn TT này tương đương với những vị từ trạng thái. Những TT có bản

chất là ngoại động nhưng cũng được dùng như nội đợng. Đó là những

TT ở nhóm ngoại đợng thỏa mãn về tiêu chí hình thức cú pháp (mợt bổ

ngữ trực tiếp) nhưng không thỏa mãn về phương diện ngữ nghĩa. TT loại

này có thể rút gọn sớ lượng diễn tớ ở cấu trúc nghĩa ban đầu để trở thành

một TT mới có sớ lượng diễn tớ ít hơn, có thể có sự chuyển đổi tư cách

cú pháp.

2.4. Cấu trúc song trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Đây là những TT đòi hỏi phải có 2 tham tớ tham gia vào sự tình.

Mợt diễn tớ xuất hiện trên bề mặt cú pháp là chủ ngữ, diễn tố kia là bổ

ngữ. Dựa vào cấu trúc ngữ pháp, bổ ngữ có những hình thức là (ngữ)

danh từ, ngữ giới từ, kết cấu chủ - vị, một vị từ hoặc ngữ vị từ. Trong đó

bổ ngữ có hình thức (ngữ) danh từ, ngữ giới từ là phổ biến.

Nội dung phần này cũng so sánh hoạt đợng của đơn vị song tiết

có mợt trung tâm và mợt yếu tớ sau có tư cách bổ ngữ với đơn vị song

tiết có mợt trung tâm và mợt yếu tớ láy, ĐVST có mợt trung tâm và mợt

yếu tớ sắc thái hóa, và đơn vị song tiết còn chưa xác định. Chúng tơi xác

13



định: những đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tớ sau có

tư các bổ ngữ có khả năng hoạt đợng như những ngữ đoạn chức năng –

có hạt nhân là TT nội động / ngoại động. Nếu hạt nhân là TT ngoại đợng

thì ngữ đoạn có kết hợp rất chặt, và yếu tố sau là bổ ngữ trực tiếp. Nếu

hạt nhân là TT nợi đợng thì ngữ đoạn thường có kết hợp lỏng, và yếu tớ

sau là mợt bổ ngữ trực tiếp mang vai Phạm vi, có thể là một bổ ngữ gián

tiếp nếu chèn được giới từ vào giữa. Trong nhiều trường hợp, dù TT hạt

nhân là nợi đợng hay ngoại đợng thì bổ ngữ theo sau vẫn mang vai phạm

vi. Đây là vấn đề chúng tơi chưa xử lý triệt để được, và nó cũng cho

thấy: việc xác lập, nhận diện nhiều vấn đề trong ngơn ngữ vẫn phải chú

trọng đến bình diện cú pháp. TT nội động được dùng như ngoại động

cũng được làm rõ, đó là những TT có bản chất là nợi đợng, nhưng được

dùng với tư cách TT ngoại đợng, có nghĩa chúng đòi hỏi bổ ngữ trực tiếp

theo sau.

2.5. Các vai nghĩa trong cấu trúc tham tố của

tính từ tiếng Việt

Trong phần này, những vai nghĩa cơ bản nhất của TT sẽ được tập

trung làm rõ. Ngoài vai nghĩa tiêu biểu của TT - Nghiệm thể - đã được

các tác giả ít nhiều bàn đến, chúng tôi muốn đề cập thêm ba vai nghĩa

nữa – vai Phạm vi, Đương thể, Đối thể.



14



2.6. Tiểu kết

Tư cách hạt nhân của TT được làm rõ, đặc biệt, những hình thức

đơn vị song tiết có hạt nhân là TT đơn tiết và yếu tớ sau có tư các bổ ngữ

đã được xác định. Các tham tớ của TT, có khá nhiều nét tương đờng với

tham tố của ĐT, mặc dù khả năng hoạt động và số lượng hạn chế hơn so

với tham tố của ĐT. Khả năng kết hợp với diễn tố của TT được làm rõ

trong cấu trúc đơn trị và cấu trúc song trị có hạt nhân là TT tiếng Việt, và

hầu hết TT tiếng Việt có khả năng kết hợp với một hoặc hai diễn tố với

những biểu hiện hết sức đa dạng. Trong chức năng vị ngữ, TT tiếng Việt

thể hiện sự tương đồng rất lớn với ĐT.

Khảo sát cũng cho thấy trong CTTT của TT, ngoài vai Nghiệm thể,

còn có ba nghĩa cơ bản là vai Đương thể, vai Phạm vi và vai Đối thể.

Đây là bốn vai nghĩa cơ bản của TT tiếng Việt, thể hiện khả năng hoạt

đợng đa dạng của TT trên bình diện nghĩa.

Chương 3:

MỐI LIÊN HỆ GIỮA CẤU TRÚC THAM TỐ

VÀ CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

3.1. Cấu trúc cú pháp của tính từ tiếng Việt

Nhìn chung việc nghiên cứu TT trong giới ngôn ngữ học thế giới

cũng như giới Việt ngữ học mới chỉ tập trung ở khả năng hoạt động cú

pháp. Ngay đối với điều này, khả năng hoạt động như là hạt nhân của

một cấu trúc nội động, ngoại động cũng ít được chú ý. Đối với CTTT

của TT, giới ngơn ngữ học có đề cập ít nhiều; riêng giới Việt ngữ học

15



hầu như không ai chú ý tới vấn đề này. Nợi dung trong phần này trình

bày khái quát về phạm trù nội động / ngoại động trong tiếng Việt – một

nền tảng cơ bản của cấu trúc cú pháp, và từ đó làm rõ cấu trúc nợi đợng,

ngoại đợng có hạt nhân là TT ở các phương diện cơ bản, như: (i) Việc

xác định các phạm trù nợi đợng/ngoại đợng dựa trên tiêu chí loại hình;

(ii) Tiêu chí xác định phạm trù nội động/ngoại động trong tiếng Việt;

(iii) Những đối lập cơ bản giữa vị từ nội động và ngoại động; (iv) Sự

chuyển đổi diễn trị và hiện tượng vị từ có 2 cách dùng trong tiếng Việt.

Có thể thấy, hầu hết các TT trong tiếng Việt có thể tham gia làm

hạt nhân trong cấu trúc nợi đợng. Điều này có ng̀n gớc sâu xa từ bản

chất ý nghĩa của nhóm từ này. Những ý nghĩa mà TT đảm nhiệm thường

chỉ đòi hỏi mợt tham tớ giữ vai trò chủ ngữ. Trong cấu trúc nợi đợng,

phần lớn các TT làm hạt nhân trong cấu trúc cú pháp cũng làm hạt nhân

trong cấu trúc đơn trị, nhiều TT vị ngữ có thể làm hạt nhân của cấu trúc

song trị. Tức là chúng có thể hoạt đợng theo cách ngoại đợng - có thể kết

hợp trực tiếp với bổ ngữ. Trong tiếng Việt, có khá nhiều TT có thể hoạt

động theo kiểu kiêm nhiệm (hai cách - vừa nội động vừa ngoại động).

Tư cách bổ ngữ của thành phần phụ ở sau TT cũng được tạm thời

xác định: về phương diện ngữ nghĩa, bổ ngữ của TT là thành phần phụ

để chỉ đối tượng chịu tác dụng trực tiếp hay gián tiếp của đặc trưng nêu

ở TT, hoặc chỉ các chủ thể gắn liền với đặc trưng nêu ở TT, hoặc chỉ các

đặc trưng phụ thêm vào đặc trưng nêu ở TT. Về phương diện cú pháp, bổ

ngữ có thể kết hợp lỏng, hoặc kết hợp chặt với TT. Hay nói cách khác:

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×