Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1. Một sớ vấn đề về tính từ và tính từ tiếng Việt

Nội dung phần này tập trung bàn về: các quan niệm về TT trong

các ngôn ngữ và nhấn mạnh quan điểm của Dixon – một khái quát đầy

đủ, sâu sắc về TT; Quan điểm của Givón về ý nghĩa đặc trưng của TT, để

từ đó, khẳng định nếu thừa nhận mợt tập hợp TT trong tiếng Việt, thì nó

chỉ nằm ở phương diện đặc trưng (phân biệt với tập hợp TT được luận

án giả định); Một quan điểm phổ biến về TT tiếng Việt – về tập hợp TT

mà luận án giả định.

Các tiêu chí được dùng để xác định, nhận diện TT được bàn đến.

Về cơ bản, các tiêu chí - ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng

cú pháp - vẫn có tác dụng ở một mức độ nhất định, trong những phạm vi

nhất định trong việc phân chia từ loại. Nếu không tính đến các tiêu chí

này thì khó có thể bàn đến việc phân chia từ loại. Thực tế cho thấy rằng:

có sử dụng cả ba tiêu chí, hay kết hợp các tiêu chí mợt cách riêng rẽ thì

vẫn chưa có khả năng tìm được mợt kết quả nhất quán, mợt hướng để

phân định mợt cách triệt để từ loại nói chung cũng như từ loại tiếng Việt

nói riêng. Cần quan niệm đúng về các phương diện hoạt đợng của mỗi

nhóm từ loại, từ đó, xác định rõ ranh giới của từ loại trong tiếng Việt.

Trong luận án này, chúng tôi cũng đề cập đến một hướng phân chia

từ loại – dựa trên thang độ nghĩa. Hướng phân chia này cũng cho thấy

chỉ có hai từ loại cơ bản, phổ quát trong các ngôn ngữ (danh từ và ĐT).

TT, nếu được thừa nhận, thì nó chỉ tờn tại ở phương diện đặc trưng, hay



8



nói như Đinh Văn Đức: “Nói một cách tổng quát, TT là từ loại chỉ đặc

trưng của tất cả những khái niệm được biểu đạt bằng danh từ và ĐT”.

Đối với việc phân loại TT tiếng Việt: Về mặt ngữ nghĩa, việc tìm

kiếm sự khu biệt rạch ròi giữa TT nội động với TT ngoại động là ít tính

khả thi. Nếu cần phân biệt sâu hơn về mặt nghĩa, có thể coi TT nợi đợng

là những từ chỉ trạng thái, tính chất tự thân của đối tượng giữ vai chủ

ngữ ở bình diện cú pháp. Trong quá trình khảo sát chúng tôi cũng nhận

thấy, vai nghĩa giữ chức vụ bổ ngữ trên bình diện cú pháp thường đóng

vai trò chỉ phạm vi ảnh hưởng đến chủ thể mà nghĩa của TT thể hiện chứ

không phải ảnh hưởng đến một thực thể khác. Đây là những điểm khác

biệt cơ bản, quan trọng để phân biệt TT nội động được dùng với tư cách

ngoại đợng và TT có bản chất là ngoại đợng. Về mặt cú pháp, nhìn

chung có thể phân loại TT dựa trên khả năng bắt buộc hay không bắt

ḅc có bổ ngữ trực tiếp (thành TT nợi đợng và TT ngoại động). TT

ngoại động khi chuyển sang dùng như nội động thường làm diễn tố (chủ

ngữ), ý nghĩa của câu bị thay đổi. Đây chính là một điểm quan trọng

phân biệt TT nội động dùng như ngoại động với TT ngoại động.

1.2. Cấu trúc tham tố và cấu trúc tham tớ của tính từ

Tập hợp các tham tớ được lựa chọn bởi một hạt nhân bao gồm các

đặc tính, quan hệ, và vai trò cú pháp của chúng được gọi là cấu trúc

tham tố (argument structure) của hạt nhân đó. Hạt nhân này đóng vai trò

quyết định. Chính ý nghĩa của nó sẽ chi phới, quyết định đến sớ lượng

9



tham tớ (cần bao nhiêu, có thể có bao nhiêu) và đặc tính ngữ nghĩa của

tham tố (các kiểu vai nghĩa).

Trong các ngơn ngữ có sự phân biệt rõ ràng giữa động từ và TT

(chẳng hạn tiếng Anh), các tham tố liên quan chủ yếu với các động từ

nhưng chúng cũng có thể liên quan tới TT và mợt sớ danh từ. Nói cách

khác, TT, danh từ cũng có CTTT. Trong những ngơn ngữ có sự khu biệt

rõ ràng giữa ĐT và TT (chẳng hạn tiếng Anh), tham tố liên quan chủ yếu

với các ĐT nhưng chúng cũng có thể liên quan tới hạt nhân là các từ loại

khác. Việc phân loại tham tớ có thể thực hiện dựa những tiêu chí khác

nhau. Nhìn chung, trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, tham tố

thường được phân loại như sau:

(i) Tham tố bắt buộc và tham tố tùy ý (obligatory argument and

optional argument); (ii) Tham tố ngoại tại và tham tố nội tại (external

argument and internal argument); (iii) Tham tố trực tiếp và tham tố gián

tiếp (direct argument and indirect argument); (iv) Tham tố ngầm ẩn

(suppressed/ implicit argument); (v) Tham tố bị lược bỏ (deleted

argument); (vi) Tham tố sự kiện (event argument).

CTTT của TT là một dạng CTTT trong đó hạt nhân là mợt TT, các

tham tớ là những ngữ đoạn bổ sung về phương diện nghĩa cho TT đó.

Các ngữ đoạn này thường là ngữ danh từ, ngữ giới từ hoặc một cấu trúc

cú pháp phức hợp (một cú, hoặc một ĐT nguyên mẫu, v.v.).

1.3. Tiểu kết



10



TT tiếng Việt cũng chia sẻ hầu hết đặc tính của TT trong các ngôn

ngữ khác. TT trong tiếng Việt – mợt ngơn ngữ khơng biến hình, khơng

được nhận diện về hình thức – là nhóm từ gây nhiều tranh ḷn. Đặc

điểm có khả năng đợc lập làm vị ngữ như một vị từ nội động khẳng định

tư cách là một tiểu loại của vị từ (giớng như ĐT) của nó.

Ngoài ba tiêu chí – ý nghĩa, chức năng cú pháp, khả năng kết hợp

thường được nêu ra, luận án này bổ sung thêm một tiêu chí – tiêu chí

CTTT. Trong CTTT, khả năng kết hợp của vị từ trung tâm với các tham tớ

trên cả bình diện cú pháp, ngữ nghĩa được làm rõ. CTTT cũng được bàn

đến ở các khía cạnh: vai trò của vị từ hạt nhân, phân loại các tham tố và

khả năng kết hợp với tham tố. CTTT của TT cũng được trực tiếp hoặc

gián tiếp đề cập đến, đặc biệt là vai trò trung tâm của TT trong CTTT.

Về phân chia từ loại TT, luận án chia TT thành ba loại (TT nội

động, TT ngoại đợng, TT có hai cách dùng). Việc phân chia TT được

dựa trên cơ sở của phạm trù nội động / ngoại động và chú trọng đến

tiêu chí cú pháp [+/- Bổ ngữ trực tiếp].



Chương 2

CẤU TRÚC THAM TỐ CỦA TÍNH TỪ TIẾNG VIỆT

2.1. Vấn đề hạt nhân cấu trúc tham tớ của tính từ tiếng Việt

Chúng tơi quan niệm: những đơn vị song tiết có hạt nhân là TT

đơn tiết và yếu tớ sau có tư các bổ ngữ là những ngữ đoạn chức năng mà

11



hạt nhân của nó là TTĐT. Để làm rõ được vấn đề này, chúng tôi dành

một dung lượng khá dài để lần lượt lý giải: về ngữ TT; vai trò của tiêu

chí TD/RB trong việc xác định cương vị từ tiếng Việt; tiếng có quan hệ

thế nào với tư cách của từ; quan hệ cú pháp có quan hệ thế nào với tư

cách của ngữ và tư cách của từ.

2.2. Tham tớ của tính từ tiếng Việt

Luận án ập trung làm rõ các tham tố gồm diễn tố và chu tố. Diễn

tố sẽ nằm trong mợt kết cấu vị ngữ hạt nhân còn chu tớ nằm trong kết

cấu vị ngữ mở rộng. Trong quan hệ với vị từ, diễn tớ thường giữ vị trí

nòng cớt trong câu, có nghĩa nó bắt ḅc phải có mặt để làm nên sự tình.

Chu tớ là thành tớ khơng có chức năng xác định các sự tình theo đúng

nghĩa, nhưng nó cung cấp nhiều thơng tin gắn với sự tình theo mợt tổng

thể bằng cách chỉ định thời gian hoặc vị trí của các sự tình, đưa ra lí do

hoặc nguyên nhân của các sự tình, và cung cấp những thông tin bổ sung

khác. Ở một phương diện khác, có thể chia tham tớ thành tham tớ ngoại

tại và tham tớ nợi tại. Tham tớ ngoại tại thường đóng vai trò chủ ngữ,

nằm ngoài cấu trúc của vị từ làm vị ngữ. Tham tố nội tại thường được

xem như các bổ ngữ (trực tiếp, gián tiếp) có quan hệ nội tại với vị từ

(nằm trong cấu trúc vị từ).

2.3. Cấu trúc đơn trị có hạt nhân là tính từ tiếng Việt

Hạt nhân là tính từ tiếng Việt được xác định trong cấu trúc đơn trị.

TT nhóm nợi đợng có thể mợt mình làm vị ngữ, có quan hệ chặt với chủ

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×