Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
IV. Một số bất cập trong quan hệ mua – bán quy định tại Luật thương mại 2005

IV. Một số bất cập trong quan hệ mua – bán quy định tại Luật thương mại 2005

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Hợp đồng đại diện cho thương nhân trong Luật thương mại và hợp đồng ủy quyền

trong Bộ luật dân sự (điểm khác nhau giữa chúng có lẽ chỉ là chủ thể của hợp đồng).

+ Hợp đồng thuê hàng hóa trong Luật thương mại và hợp đồng thuê tài sản trong Bộ

luật dân sự.

- Thứ hai, nhiều quy định mâu thuẫn nhau, chẳng hạn:

+ Địa điểm giao hàng khi không có sự thỏa thuận trong hợp đồng: Điều 433 và

Điểm b, khoản 2, Điều 284 BLDS – Tại trụ sở của người có quyền-tức là của người

mua. Điểm d, Khoản 2 Điều 35 LTM - tại địa điểm kinh doanh của người bán. Cho nên

khi quy định địa điểm giao hàng ở đâu cũng được nhưng phải thống nhất.

+ Các quy định về phạt vi phạm. i) mức phạt vi phạm, khoản 2 Điều 422 Bộ luật

dân sự quy định rằng: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận” và không giới hạn

mức phạt vi phạm tối đa. Quy định về phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự 2005 gần

giống với phạt vi phạm trong pháp luật các nước Châu Âu lục địa, Liên bang Nga.

Pháp luật của các nước nói trên coi mức phạt vi phạm là khoản thiệt hại được các bên

nhìn thấy trước hay dự liệu được trước tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong khi đó

Điều 301 Luật thương mại 2005 lại quy định rằng: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong

hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Có lẽ

Pháp luật Việt Nam là một trong các quốc gia hiếm hoi quy định giới hạn mức phạt tối

đa vì điều này chưa phù hợp thực tiễn, thơng lệ quốc tế và thể hiện sự can thiệp chưa

hẳn là cần thiết của Nhà nước vào tự do hợp đồng.

Sự khác biệt về mức phạt vi phạm dẫn đến sự khác biệt trong việc quy định mối

quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Điểm 2 Khoản 3 Điều 422 Bộ luật

dân sự quy định “trong trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà khơng có thỏa

thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi

phạm”, trong khi đó, theo quy định của Khoản 2 Điều 307 Luật thương mại 2005,

trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm mà khơng có thoả thuận bồi

thường thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi

thường thiệt hại.

Pháp luật văn minh thường ưu tiên bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn và phải

biết bảo vệ đuợc người lương thiện, trung thực nhưng nhiều quy định của Luật

Thương mại không bảo vệ được bên trung thực, bên yếu hơn trong quan hệ hợp

đồng.

+ Điểm a, khoản 1 Điều 294 Luật thương mại quy định, bên vi phạm hợp đồng

được miễn trừ trách nhiệm nếu có thỏa thuận của các bên. Quy định này áp dụng cho

mọi trường hợp: vi phạm cố ý và vô ý. Với cách quy định này có thể xảy ra trường

hợp, bên không trung thực sẽ lợi dụng sự tồn tại của thỏa thuận miễn trừ để vi phạm

hợp đồng.

+ Điều 318 Luật thương mại quy định, nếu các bên không thỏa thuận thì thời hạn

khiếu nại: 3 tháng kể tự ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa; 6

tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, …Các quy định

nói trên áp dụng cho cả hành vi vi phạm hợp đồng cố ý và vô ý. Với cách quy định



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



như trên chúng tôi cho rằng, bên khơng trung thực và có kinh nghiệm sẽ lợi dụng sự

thiếu kinh nghiệm của đối tác để vi phạm hợp đồng. Cho nên khi một bên cố ý vi

phạm hợp đồng thì thời hạn nêu trên để áp dụng không phát huy hiệu quả tinh thần của

Luật để bảo vệ bên bị thiệt hại

4.2. Bất cập quy định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Nhìn chung, các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế chưa được pháp điển hóa thành một văn bản cụ thể mà nằm rải rác

trong các văn bản pháp luật khác nhau:

- Luật thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hóa

(Chương II) trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về mua bán hàng hóa quốc tế

và khơng có điều luật nào trong Luật thương mại năm 2005 quy định cụ thể, trực tiếp

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

- Nghị định 12/2006/NĐ-CP là nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Thương

mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia

công và quá cảnh hàng hóa với nước ngồi. Trong đó, chương II và chương III quy

định về các hình thức thể hiện của hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu,

nhập khẩu, chuyển khẩu...

- Ngoài ra, như đã liệt kê ở trên có rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác

điều chỉnh về mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng chưa có một văn bản quy phạm pháp

luật nào với tư cách là một văn bản dưới luật làm nhiệm vụ tập hợp để đưa ra những

quy phạm, nguyên tắc chung nhất về mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hợp đồng

mua bán hàng hóa quốc tế.

Luật Thương mại 2005 chưa có quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa mà

chỉ quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải được "làm thành văn bản" hoặc bằng

"hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương". Khái niệm hợp đồng mua bán hàng

hóa quốc tế là căn cứ quan trọng để xác định những hợp đồng mua bán hàng hóa nào

là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và để áp dụng pháp luật điều chỉnh quan hệ

pháp luật mua bán hàng hóa quốc tế. Việc chưa có một khái niệm thống nhất về hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ gây ra khó khăn và những cách hiểu khác nhau

trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bán hàng hóa

quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia.

Trước đây, trong Luật Thương mại 1997 (đã hết hiệu lực) đã có định nghĩa về "hợp

đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài". Thuật ngữ "hợp đồng mua bán

hàng hóa với thương nhân nước ngồi" khơng phù hợp với Công ước Vienna 1980. Lẽ

ra khi ban hành Luật thương mại 2005 thay thế Luật thương mại 1997 thì định nghĩa

hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài phải được thay thế bằng

định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Nhưng rất tiếc trong Luật thương mại

2005 lại khơng có định nghĩa này. Khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại 2005 chỉ nêu

ra các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế và khoản 2 - điều 27 quy định "mua bán

hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng

hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương" mà không đề cập đến hợp đồng mua



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



bán hàng hóa quốc tế. Từ đó buộc phải hiểu một cách "suy diễn" rằng hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế là văn bản hoặc một hình thức tương đương văn bản ghi nhận

nội dung thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán hàng hóa có yếu tố quốc tế. Nhưng

yếu tố quốc tế đó cũng khơng được chỉ ra một cách rõ ràng trong khoản 1 - điều 27 Luật Thương mại 2005. Trong đó, cũng khơng có những quy định cụ thể về hợp đồng

mua bán hàng hóa quốc tế như: khái niệm, phân loại, nội dung cơ bản, thủ tục giao kết,

điều kiện có hiệu lực... Đặc biệt, Nghị định 12/2006/NĐ-CP với tư cách là một văn

bản hướng dẫn dưới luật vẫn chưa giải thích được cụm từ "hình thức khác theo quy

định của pháp luật" tương đương văn bản trong khoản 2 - điều 27 và khoản 15 - điều 3

- Luật Thương mại 2005 là những hình thức nào? Tương tự, Nghị định 23/2007/NĐCP cũng khơng có quy định nào cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế chưa được điều chỉnh như một chế định độc lập và

một vấn đề riêng biệt. Trong khi tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

tế trong hoạt động thương mại là rất lớn.

Việc xác định phạm vi của hoạt động mua bán hàng hố quốc tế bằng cách liệt kê ra

các hình thức của mua bán hàng hóa quốc tế tại khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại

2005 khiến cho khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trở nên bị hạn hẹp lại và không rõ

ràng.

- Hẹp thể hiện ở chỗ: Nếu căn cứ theo khoản 1 - điều 27 - Luật Thương mại thì mua

bán hàng hóa quốc tế bao gồm 5 hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập - tái xuất,

tạm xuất - tái nhập và chuyển khẩu. Nghĩa là theo Luật thương mại Việt Nam thì yếu

tố quốc tế của mua bán hàng hóa quốc tế chỉ có yếu tố vận chuyển hàng hóa qua biên

giới mà không xem xét đến trụ sở thương mại của các chủ thể tham gia quan hệ mua

bán hàng hóa quốc tế. Điều này chưa phù hợp với quy định của Công ước Vienna 1980

quy định chỉ gồm một yếu tố duy nhất là các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia

khác nhau và Công ước La Haye 1964 gồm ba yếu tố như đã phân tích ở trên. Ví dụ:

Thương nhân A có nơi cư trú và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam ký hợp đồng mua

bán phụ liệu may mặc với Công ty X là Cơng ty Trung Quốc có Chi nhánh hoạt động

sản xuất mặt hàng này tại Việt Nam nhưng trụ sở chính ở Trung Quốc. Hàng hóa

khơng được vận chuyển qua biên giới và hoàn toàn sản xuất và mua bán tại Việt Nam.

Theo Cơng ước Vienna 1980 thì đây là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì trụ sở

thương mại của hai bên ở hai quốc gia khác nhau còn theo quy định tại điều 27 - Luật

thương mại thì đây khơng phải là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì khơng có yếu

tố xuất khẩu, nhập khẩu..."

Không rõ ràng về mặt ngôn từ thể hiện ở chỗ:

Trong các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế mà điều 27 - Luật Thương mại 2005

nêu ra có tạm nhập, tái xuất và tạm xuất, tái nhập. Như vậy, căn cứ tổng cộng có tổng

cộng 7 hình thức mua bán hàng hóa quốc tế. Tuy nhiên, theo các điều khoản giải thích

cụ thể: điều 28, 29 và 30 - Luật Thương mại 2005 thì thực chất "tạm nhập, tái xuất" là

"tạm nhập" đi kèm với "tái xuất" và "tạm xuất" đi kèm với "tái nhập". Kết quả là chỉ

có 5 hình thức mua bán hàng hóa quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập - tái xuất,

tạm xuất - tái nhập và chuyển khẩu. Cần thay hai dấu "," trong khoản 1 - điều 27 bằng



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



dấu "-" thì mới đảm bảo diễn đạt chính xác về các hình thức của mua bán hàng hố

quốc tế. Trong khi còn nhiều hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa mà khơng cần có

yếu tố xuất khẩu nhập khẩu như điều 27 - Luật thương mại 2005 quy định.

Về định nghĩa chuyển khẩu tại điều 30 - Luật Thương mại 2005:

Điều 30 - Luật Thương mại 2005 quy định: "Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua

hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ

Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất

khẩu ra khỏi Việt Nam". Ở đây chúng ta hình dung có sự tham gia của ba bên thương

nhân trong đó có một thương nhân có trụ sở thương mại/nơi cư trú ở Việt Nam đứng ra

mua hàng hóa của thương nhân ở nước xuất khẩu bán cho thương nhân ở nước nhập

khẩu. Nhưng điều 30 - Luật Thương mại lại không xác định rõ ai là người thực hiện

việc mua hàng từ một nước/vùng lãnh thổ để bán sang nước khác/vùng lãnh thổ khác

ngoài Việt Nam? Nếu một thương nhân có trụ sở/ nơi cư trú ở chính nước xuất khẩu

đứng ra mua hàng của thương nhân khác cũng ở nước xuất khẩu và bán hàng hóa sang

nước nhập khẩu thì khơng được coi là "chuyển khẩu" được và khơng hề có liên quan

đến quốc gia thứ ba là Việt Nam. Vấn đề chuyển khẩu chỉ nên đặt ra khi thương nhân

Việt Nam hoặc thương nhân nước ngồi có hiện diện thương mại tại Việt Nam đứng ra

mua hàng hoá từ nước xuất khẩu để bán cho nước nhập khẩu ngoài Việt Nam. Nhưng

quy định tại Luật Thương mại lại không diễn đạt rõ điều này dẫn đến cách hiểu là bất

kỳ thương nhân nào thực hiện việc mua hàng hóa ngồi lãnh thổ Việt Nam mà không

làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

thì đều được coi là chuyển khẩu.



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



KẾT LUẬN



Trên đây là những quy định của Luật thương mại 2005 quy định về quyền của

người bán và người mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Tuy chỉ dừng ở việc hệ thống lại những quy định của luật và một vài tình huống cụ

thể phát sinh từ quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa.

Nhưng qua đó chúng ta có thể thấy pháp luật ln điều chỉnh những quy định sao cho

phù hợp với quyền lợi và nghĩa vụ của từng bên chủ thể. Đó là những căn cứ pháp lí

để các bên tham gia vào quá trình mua bán có một cơ sở pháp lí vững chắc để thực

hiện phù hợp với quy định pháp luật nhằm đạt được mục đích cuối cùng là thỏa mãn

nhu cầu của từng bên. Ở tầm xa hơn đây chính là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế trở nên

năng động và bền vững hơn.



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



DANH MỤC THAM KHẢO

1. Luật thương mại năm 2005 số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005.

2. Bộ luật dân sự năm 2005 số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005

3. Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ.

4. Nghị định 19/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 của Chính phủ.

5. http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu

6. http://www.moit.gov.vn/vn/Pages/Trangchu.aspx



7. Nguồn tham khảo khác như: các báo, tạp chí, diễn đàn …



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



PHÂN CÔNG LÀM VIỆC NHĨM

CƠNG VIỆC

Đặt vấn đề

Khái niệm người mua và người bán trong luật

TM

Quyền của bên bán

Nghĩa vụ của bên bán

Quyền của bên mua

Nghĩa vụ của bên mua

Bình luận về một số bất cập trong quan hệ mua

bán trong hợp đồng mua bán hàng hoá

Kết luận vấn đề.

Tổng hợp và trình bày



THÀNH VIÊN PHỤ

TRÁCH

Nguyễn Tuấn Ngọc

Lê Nguyên Anh Thư

Đỗ Tiến Thanh

Nguyễn Trí Cương

Phan Tuấn Tâm

Trần Văn Xiêm

Phan Văn Riêu và

Nghiêm Xuân Lực



Nguyễn Tuấn Ngọc

Nhóm trưởng: Phan

Văn Riêu



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

IV. Một số bất cập trong quan hệ mua – bán quy định tại Luật thương mại 2005

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×