Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Quyền và nghĩa vụ của bên mua

III. Quyền và nghĩa vụ của bên mua

Tải bản đầy đủ - 0trang

c) Trường hợp trong hợp đồng khơng có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào

thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp

hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hố thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó;

d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của

bên bán, nếu khơng có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên

bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

Việc người mua yêu cầu người bán giao hàng đúng địa điểm có ý nghĩa thương mại

đặc biệt quan trọng. Nó vừa bảo vệ quyền của người mua vừa hạn chế được các tổn

thất có thể phát sinh khi hàng khơng được giao đúng địa điểm quy định. Ví dụ: trong

hợp đồng mua bán các loại nông sản, người mua yêu cầu người bán giao hàng cho

mình tại kho của người mua nhưng có thể vì một lý do nào đó như: người bán khơng

biết chính xác địa điểm kho đó ở đâu, hay do người bán có sự nhầm lẫn về địa điểm…

nên người bán giao hàng tại địa điểm khác không phải là nơi mà người mua yêu cầu.

Điều này sẽ làm phát sinh tổn thất của hai bên. Người mua sẽ bị chậm trễ trong việc

nhận hàng còn người bán phải chịu một khoản chi phí khác trong việc vận chuyển để

giao hàng tới nơi mà người mua quy định. Rõ ràng nếu từ lúc đầu cả hai bên thỏa

thuận cụ thể địa điểm giao hàng thì các tổn thất đó sẽ khơng xảy ra. Người mua sẽ

nhận được hàng đúng địa điểm mà mình thấy cần thiết, có lợi cho mình còn người bán

vừa khơng phải chịu thêm khoản chi phí khác trong việc vận chuyển hàng hóa vừa

khơng tốn thời gian công sức trong việc giao hàng.

 Quyền yêu cầu người bán giao hàng đúng thời gian

Bên cạnh quyền yêu cầu người bán giao hàng đúng địa điểm, người mua còn có

quyền u cầu người bán giao hàng đúng thời gian. Quyền yêu cầu người bán giao

hàng đúng thời gian là quyền mà người mua yêu cầu người bán phải có nghĩa vụ giao

hàng cho mình đúng theo thời gian đã được thỏa thuận trong hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 37 Luật Thương Mại năm 2005 thì:

1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp

đồng.

2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời

điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong

thời hạn đó và phải thơng báo trước cho bên mua.

3. Trường hợp khơng có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao

hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Quyền này của người mua đã thể hiện hai mặt quan trọng. Một mặt, nó giúp người

mua bảo vệ quyền lợi của mình trước sự giao hàng chậm trễ của người bán hay nói

cách khác nó giúp người mua hạn chế được các tổn thất có thể xảy ra khi người bán

khơng thực hiện nghĩa vụ của mình. Mặt khác, nó ràng buộc người bán phải thực hiện

đúng nghĩa vụ giao hàng của mình, nếu người bán khơng thực hiện hay thực hiện

khơng đúng nghĩa vụ giao hàng của mình, thì người bán phải chịu trách nhiệm trước

người mua.

Do đó, nhằm hạn chế các hậu quả xấu có thể xảy thì trong hợp đồng các bên nên

thỏa thuận rõ thời gian mà người bán có nghĩa vụ giao hàng, vì đây chính là căn cứ



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



giải quyết các tranh chấp nếu có xảy ra sau này, người bán không thực hiện nghĩa vụ

giao hàng dẫn đến người mua bị thiệt hại.

 Quyền yêu cầu người bán giao hàng đúng chất lượng và số lượng hàng hóa

Theo quy định tại Điều 39 Luật Thương Mại năm 2005 thì:

1) Trường hợp hợp đồng khơng có quy định cụ thể thì hàng hố được coi là khơng

phù hợp với hợp đồng khi hàng hố đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Khơng phù hợp với mục đích sử dụng thơng thường của các hàng hố cùng

chủng loại;

b) Khơng phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết

hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã

giao cho bên mua;

d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thơng thường đối với loại hàng

hố đó hoặc khơng theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hố trong trường hợp

khơng có cách thức bảo quản thơng thường.

2) Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hố khơng phù hợp với hợp

đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Việc người mua yêu cầu người bán giao hàng đúng số lượng và chất lượng của hàng

hóa là một quyền khơng thể thiếu của người mua. Theo đó, người mua có quyền yêu

cầu người bán phải giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất như mô

tả trong hợp đồng. Hàng hóa phải đúng số lượng, đủ chất lượng, bao bì phải thích hợp

thì mới được xem là hàng hóa phù hợp với hợp đồng. Trường hợp giao hàng không

phù hợp thì người bán phải hồn tồn chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tổn thất có

liên quan cho người mua.

Do đó, để hạn chế các thiệt hại có thể xảy ra cũng như đảm bảo quyền này cuả

người mua được thực hiện một cách đúng đắn thì các bên, trong quá trình giao kết hợp

đồng, cần phải đặc biệt lưu ý về việc thỏa thuận kiểu dáng, mẫu mã và tính chất của

hàng hóa được dùng giao kết hợp đồng, những vấn đề này phải được cả hai bên thống

nhất đi đến thỏa thuận chung trong quá trình thực hiện hợp đồng. Có như vậy sẽ tránh

được trường hợp người bán vi phạm hợp đồng khi giao hàng không phù hợp với hợp

đồng và người mua sẽ có được số hàng mà mình mong muốn hay nói cách khác quyền

của hai bên sẽ được bảo vệ.

III.1.1.2. Quyền yêu cầu người bán giao các chứng từ liên quan tới hàng hóa

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 42 Luật Thương mại 2005 thì: “Trường hợp có

thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến

hàng hóa cho người mua trong thời hạn, tại địa điểm và bằng theo phương thức đã

thỏa thuận”, do đó, người bán phải có trách nhiệm giao những giấy tờ liên quan tới

hàng hóa đúng địa điểm, thời gian mà cả hai bên đã thỏa thuận khi giao kết hợp đồng

nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua đối với hàng hóa của mình.

Bên cạnh đó, Khoản 2 và 3 Điều 42 Luật Thương mại 2005 còn quy định thêm về

thời hạn, địa điểm mà người bán giao chứng từ liên quan cho người mua. Theo như

điều khoản này quy định nếu khơng có sự thỏa thuận về thời gian và địa điểm giao



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



chứng từ cho bên mua trong thời hạn và tại địa điểm hợp lý. Thời hạn và địa điểm

hợp lý ở đây được hiểu là người bán phải giao chứng từ cho người mua trong thời hạn

và tại địa điểm mà người mua thấy cần thiết và không gây trở ngại nào khác cho người

mua. Rõ ràng ở đây, quyền lợi người mua được pháp luật bảo vệ. Và trong trường hợp

nếu bên bán vì một lý do nào đó mà họ giao các chứng từ trước thời hạn thì trong

trường hợp này, người bán phải bảo đảm rằng việc làm này không gây cho người mua

một trở ngại hay một phí tổn nào. Nếu việc người bán giao trước thời hạn này đã gây

trở ngại cho người mua hay làm phát sinh các chi phí bất hợp lý cho người mua thì

người bán phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về những gì mà người mua gánh

chịu.

III.1.1.3. Quyền liên quan tới sở hữu đối với hàng hóa

Người bán khơng những phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu mà còn phải có

nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa cho người mua; ngoại trừ

trường hợp sự tranh chấp đó bắt nguồn từ việc người bán đã tuân theo các bản thiết kế

kỹ thuật, hình vẽ, cơng thức hay những số liệu cơ sở do người mua cung cấp..

Luật Thương mại Việt Nam 1997 không điều chỉnh mối quan hệ pháp lý giữa người

bán và người mua khi có sự tranh chấp của người thứ ba liên quan đến quyền sở hữu

trí tuệ đối với hàng hóa. Sự hạn chế này được khắc phục trong Luật Thương mại 2005

(quy định tại Điều 45 và 46). Có thể nói rằng sự thay đổi này khơng những thể hiện

được sự tương thích của pháp luật Việt Nam với luật pháp quốc tế về thương mại mà

còn đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại ở nước ta.

III.1.2.

Quyền của người mua khi người bán có hành vi vi phạm hợp đồng

III.1.2.1. Quyền yêu cầu người bán thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng

Quyền này của người mua chỉ được thực hiện khi người bán đã vi phạm một nghĩa

vụ nào đó trong hợp đồng. Hay nói cách khác, người mua sử dụng quyền này để bảo

vệ quyền lợi của mình trước sự vi phạm hợp đồng của người bán. Người bán vi phạm

nghĩa vụ hợp đồng của mình trong các trường hợp sau thì người mua có quyền yêu cầu

người bán thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng theo đúng quy định tại Điều 297 Luật

Thương Mại năm 2005 :

1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực

hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và

bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.

2) Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ khơng đúng hợp

đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp

đồng. Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì

phải loại trừ khuyết tật của hàng hố, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay

thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc

hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận

của bên bị vi phạm.

3) Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều

này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để

thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật

của hàng hố, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.

4) Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao

dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều

này.

5) Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả

tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong

hợp đồng và trong Luật này.

Nhìn chung, quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng của người mua đó là một

trong những chế tài của người mua áp dụng đối với người bán nhằm mục đích bảo vệ

quyền lợi của mình. Vì trong thực tiễn ký kết hợp đồng không phải lúc nào các bên

cũng đạt mục đích mà mình đặt ra khi ký kết hợp đồng, điều này có nghĩa là một trong

các bên khơng thực hiện hay thực hiện khơng đúng nghĩa vụ của mình được quy định

trong hợp đồng và như vậy sẽ gây thiệt hại cho bên kia. Cho nên,việc người mua yêu

cầu người bán thực hiện đúng hợp đồng là người mua đã bảo vệ quyền lợi của chính

mình khi người bán đã không thực hiện hay thực hiện không đúng như những gì đã

thoả thuận trong hợp đồng.

III.1.2.2. Quyền tuyên bố hủy hợp đồng

Việc huỷ hợp đồng giải phóng các bên khỏi những nghĩa vụ của mình được quy

định trong hợp đồng, trừ những khoản bồi thường mà bên vi phạm phải gánh chịu có

thể có.Việc huỷ hợp đồng liên quan đến hiệu lực của các quy định của hợp đồng về

giải quyết tranh chấp hay liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bên trong

trường hợp hợp đồng bị huỷ.

Trong trường hợp này, theo Điều 314 Luật Thương Mại 2005 thì: “Các bên có

quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu

các bên đều có nghĩa vụ hồn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời;

trường hợp khơng thể hồn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải

hồn trả bằng tiền.”

III.1.2.3. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Người mua chỉ có quyền yêu cầu người bán bồi thường thiệt hại trong trường hợp

người bán vi phạm hợp đồng mà đã gây ra thiệt hại cho người mua. Theo quy định

Điều 302 Luật Thương mại, Điều 307 Bộ luật Dân sự, bồi thường thiệt hại là việc bên

bán bồi hoàn những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên mua. Giá trị

bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên mua phải chịu do

bên bán gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên mua đáng lẽ được hưởng.

Thiệt hại trực tiếp mà bên mua gánh chịu bao gồm:

 Hàng hoá mất mát hay bị hư hỏng.

 Chi phí đã được sử dụng hay sẽ được sử dụng để phục hồi hay loại bỏ khuyết

tật của hàng hoá.

 Khoản tiền mà bên mua phải đền bù cho đối tác do bên bán khơng thực hiện

nghĩa vụ của mình.



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



Khoản lợi đáng lẽ được hưởng là những khoản lợi đáng lẽ bên mua được thụ hưởng

trong điều kiện bình thường nếu bên bán thực hiện nghĩa vụ của mình.

III.2.

Nghĩa vụ của bên mua

Luật thương mại 2005 quy định người mua hàng có 02 nghĩa vụ cơ bản là nghĩa vụ

thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng.

III.2.1.

Nghĩa vụ thanh toán:

Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng mua

bán hàng hoá. Theo quy định tại Điều 50 Luật Thương mại 2005:

1) Bên mua có nghĩa vụ thanh tốn tiền mua hàng và nhận hàng theo thoả thuận.

2) Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh tốn

theo trình tự, thủ tục đã thoả thuận và theo quy định của pháp luật.

3) Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất

mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường

hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.

Như vậy: dù trong hợp đồng có thoả thuận hay khơng thì người mua vẫn phải có

nghĩa vụ thanh tốn cho người bán.

Trường hợp các bên khơng có thoả thuận về những nội dung cụ thể liên quan đến

việc thanh tốn thì áp dụng quy định của pháp luật:

- Điều 54 Luật Thương mại 2005 quy định: Trường hợp không có thoả thuận về

địa điểm thanh tốn cụ thể thì bên mua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các

địa điểm sau đây:

 Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp

đồng, nếu khơng có địa điểm kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán.

 Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán được tiến hành

đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ.

- Điều 55 Luật Thương mại 2005 quy định: trường hợp các bên khơng có thoả

thuận khác, thời hạn thanh tốn được quy định như sau:

 Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc

giao chứng từ liên quan đến hàng hoá.

 Bên mua khơng có nghĩa vụ thanh tốn cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng

hố trong trường hợp có thoả thuận về việc bên mua có quyền kiểm tra hàng hoá trước

khi giao.

- Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: trường hợp bên mua chậm thực hiện thanh

toán tiền hàng và các chi phí hợp lý khác thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả

tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại

thời điểm thanh tốn tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận

khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 306 Luật thương mại).

Quy định này của Luật thương mại có sự khác biệt với quy định của bộ luật dân sự

về xử lý vi phạm chậm thanh toán tiền trong hợp đồng mua bán tài sản, theo đó trong

trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm

trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy

định khác. Có thể nhận thấy quy định của Luật thương mại về xử lý vi phạm nghĩa vụ

thanh toán trong hợp đồng mua bán phù hợp với yêu cầu của quan hệ mua bán hàng

hoá trong thương mại, đáp ứng yêu cầu vận động của vốn kinh doanh trong nền kinh tế

thị trường.

III.2.2.

Nghĩa vụ nhận hàng:

Nhận hàng là việc bên mua công nhận nghĩa vụ giao hàng của bên bán, tức là bên

mua đã nhận hàng về mặt pháp lý. Theo quy định tại Điều 56 Luật Thương mại 2005,

Bên mua hàng có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện những công việc

hợp lý để giúp bên bán giao hàng.

Bên cạnh nghĩa vụ phải nhận hàng thì khi nhận hàng, bên mua có nghĩa vụ phải

thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng; cần lưu ý, việc nhận

hàng tại thời điểm giao hàng không đồng nghĩa với việc người mua đã chấp nhận hàng

hoá được giao mà mới chỉ là tiếp nhận hàng về mặt thực tế. Theo luật thương mại, sau

khi giao hàng, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng

hoá đã được giao, nếu các khiếm khuyết của hàng hố khơng thể phát hiện trong q

trình kiểm tra bằng biện pháp thơng thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các

khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua. Đối với hàng hố phải bảo

hành thì bên mua còn phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành. Chỉ đến khi nào bên bán

không còn trách nhiệm gì đối với hàng hố đã bán thì bên bán mới được coi là hồn

thành nghĩa vụ giao hàng.

Khi bên bán đã sẵn sàng giao hàng đúng hợp đồng, mà bên mua khơng tiếp nhận thì

bên mua vi phạm hợp đồng và phải chịu các biện pháp chế tài theo thoả thuận hoặc

theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, bên bán phải áp dụng các biện

pháp cần thiết, phù hợp điều kiện và khả năng cho phép và với chi phí hợp lý để lưu

trữ, bảo quản hàng hố, và có quyền u cầu bên mua thanh tốn chi phí đã bỏ ra. Đối

với hàng hố có nguy cơ bị hư hỏng thì bên bán có quyền bán hàng hố và trả cho bên

mua khoản tiền thu được từ việc bán hàng hoá sau khi trừ đi chi phí hợp lý để bảo

quản và bán hàng hố.

Nghĩa vụ khác: ngồi nghĩa vụ thanh tốn và nghĩa vụ nhận hàng, Luật thương mại

2005 còn quy định nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ trong trường hợp bên mua

yêu cầu bên bán phải tuân theo bản vẽ kỹ thuật, thiết kế, công thức hoặc những số liệu

chi tiết do bên mua cung cấp. Khi đó bên mua phải chịu trách nhiệm về các khiếu nại

liên quan đến những vi phạm quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ việc bên bán đã tuân

thủ những yêu cầu của bên mua.

IV. Một số bất cập trong quan hệ mua – bán quy định tại Luật thương mại

2005

4.1. Bất cập quy định hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước.

- Thứ nhất, có nhiều quy định trùng nhau, chẳng hạn:

+ Hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật thương mại và hợp đồng mua bán tài sản

trong Bộ luật dân sự;



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



+ Hợp đồng đại diện cho thương nhân trong Luật thương mại và hợp đồng ủy quyền

trong Bộ luật dân sự (điểm khác nhau giữa chúng có lẽ chỉ là chủ thể của hợp đồng).

+ Hợp đồng thuê hàng hóa trong Luật thương mại và hợp đồng thuê tài sản trong Bộ

luật dân sự.

- Thứ hai, nhiều quy định mâu thuẫn nhau, chẳng hạn:

+ Địa điểm giao hàng khi khơng có sự thỏa thuận trong hợp đồng: Điều 433 và

Điểm b, khoản 2, Điều 284 BLDS – Tại trụ sở của người có quyền-tức là của người

mua. Điểm d, Khoản 2 Điều 35 LTM - tại địa điểm kinh doanh của người bán. Cho nên

khi quy định địa điểm giao hàng ở đâu cũng được nhưng phải thống nhất.

+ Các quy định về phạt vi phạm. i) mức phạt vi phạm, khoản 2 Điều 422 Bộ luật

dân sự quy định rằng: “Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận” và không giới hạn

mức phạt vi phạm tối đa. Quy định về phạt vi phạm trong Bộ luật dân sự 2005 gần

giống với phạt vi phạm trong pháp luật các nước Châu Âu lục địa, Liên bang Nga.

Pháp luật của các nước nói trên coi mức phạt vi phạm là khoản thiệt hại được các bên

nhìn thấy trước hay dự liệu được trước tại thời điểm ký kết hợp đồng. Trong khi đó

Điều 301 Luật thương mại 2005 lại quy định rằng: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong

hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Có lẽ

Pháp luật Việt Nam là một trong các quốc gia hiếm hoi quy định giới hạn mức phạt tối

đa vì điều này chưa phù hợp thực tiễn, thơng lệ quốc tế và thể hiện sự can thiệp chưa

hẳn là cần thiết của Nhà nước vào tự do hợp đồng.

Sự khác biệt về mức phạt vi phạm dẫn đến sự khác biệt trong việc quy định mối

quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Điểm 2 Khoản 3 Điều 422 Bộ luật

dân sự quy định “trong trường hợp các bên thỏa thuận phạt vi phạm mà không có thỏa

thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi

phạm”, trong khi đó, theo quy định của Khoản 2 Điều 307 Luật thương mại 2005,

trong trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm mà khơng có thoả thuận bồi

thường thiệt hại thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và bồi

thường thiệt hại.

Pháp luật văn minh thường ưu tiên bảo vệ quyền lợi của bên yếu hơn và phải

biết bảo vệ đuợc người lương thiện, trung thực nhưng nhiều quy định của Luật

Thương mại không bảo vệ được bên trung thực, bên yếu hơn trong quan hệ hợp

đồng.

+ Điểm a, khoản 1 Điều 294 Luật thương mại quy định, bên vi phạm hợp đồng

được miễn trừ trách nhiệm nếu có thỏa thuận của các bên. Quy định này áp dụng cho

mọi trường hợp: vi phạm cố ý và vô ý. Với cách quy định này có thể xảy ra trường

hợp, bên khơng trung thực sẽ lợi dụng sự tồn tại của thỏa thuận miễn trừ để vi phạm

hợp đồng.

+ Điều 318 Luật thương mại quy định, nếu các bên không thỏa thuận thì thời hạn

khiếu nại: 3 tháng kể tự ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa; 6

tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa, …Các quy định

nói trên áp dụng cho cả hành vi vi phạm hợp đồng cố ý và vô ý. Với cách quy định



Gv hướng dẫn: Ts. Lê Văn Hưng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Quyền và nghĩa vụ của bên mua

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×