Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giao kết hợp đồng dân sự

Giao kết hợp đồng dân sự

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phản biện Chủ đề 9

Nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 389 Bộ luật dân

sự Việt Nam năm 2005 gồm:

1. Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;

2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.

Như vậy, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các chủ thể

tham gia dựa trên nguyên tắc tự do giao kết và tự nguyện, bình đẳng khi giao kết vì

vậy tất cả các hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa là những hợp

đồng không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện, tự do khi giao kết hay là những hợp

đồng có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội đều bị coi là vơ hiệu.

3.2. Trình tự giao kết

Trình tự giao kết hợp đồng: là một q trình trong đó các bên bày tỏ ý chí với

nhau bằng cách trao đổi các ý kiến trong việc cùng nhau đi đến những thỏa thuận làm

phát sinh quyền và nghĩa vụ. Về thực chất, đó là q trình mà hai bên “mặc cả” với

nhau về những điều khoản trong nội dung của hợp đồng.

Quá trình này diễn ra qua hai giai đoạn được pháp luật dân sự quy định như sau:

3.2.1. Giai đoạn thứ nhất: Đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng: là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu

sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.

Thực chất, đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước

người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người

đó một hợp đồng dân sự.

Về mặt hình thức, việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện bằng nhiều

cách thức khác nhau như:

- Người đề nghị có thể gặp trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị trao đổi

thỏa thuận hoặc có thể thơng qua các đường liên lạc khác như đện thoại, liên lạc ở trên

mạng Internet….Trong những trường hợp này thời hạn trả lời là một khoảng thời gian

do hai bên thỏa thuận ấn định.

- Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự còn có thể được thực hiện bằng việc

chuyển, gởi công văn, giấy tờ qua đường bưu điện….Trong trường hợp này thời hạn

trả lời là một khoảng thời gian do bên đề nghị ấn định.

Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên

đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



4



NHĨM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà khơng được giao kết hợp

đồng nếu có thiệt hại phát sinh.

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (Điều 391 Bộ luật dân sự 2005

được xác định như sau: Do bên đề nghị ấn định hoặc nếu bên đề nghị khơng ấn định

thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề

nghị đó.

3.2.2. Giai đoạn thứ hai: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với

bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Chấp nhận giao kết hợp

đồng thực chất là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao

kết hợp đồng với bên đã đề nghị

Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được hiểu như sau: (Điều 397 Bộ

luật dân sự 2005):

- Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có

hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận

được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của

bên chậm trả lời. Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm

vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì

thơng báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả

lời ngay khơng đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.

- Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại

hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận

hoặc khơng chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời. Nếu việc trả

lời được chuyển qua đường bưu điện, thì ngày gửi đi theo dấu bưu điện được coi là

thời điểm trả lời, căn cứ vào thời điểm đó để bên đề nghị xác định việc trả lời đề nghị

có chậm hay khơng so với thời hạn đã ấn định.

3.3. Thực hiện giao kết

Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự: Địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các

bên thoả thuận; nếu khơng có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng dân sự là nơi

cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.

Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự: Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời

điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết. Hợp đồng dân sự cũng xem

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



5



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu

có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.

Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về

nội dung của hợp đồng. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên

sau cùng ký vào văn bản.

4. Đối tượng của hợp đồng:

Là nội dung của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hoặc là sự đáp ứng của người

giao kết đối với người cùng giao kết trong khuôn khổ thực hiện hợp đồng.

4.1. Chuyển giao một quyền:

* Vật: Dù hữu hình hay vơ hình, vật phải tồn tại (ví dụ: HĐ chế biến sản phẩm),

định giá được bằng tiền, lưu thông được (vi dụ: xe cộ), xác định được (ví dụ: Laptop

Dell), vật phải thuộc về người chuyển giao. ( Điều 181 BLDS)

* Số tiền: được ấn định như là đối tượng của nghĩa vụ trả tiền, còn được gọi

trong ngơn ngữ thơng dụng là giá trị hợp đồng

4.2. Làm hoặc không làm một việc: đều có thể thực hiện được mà pháp luật

không cấm và không trái với đạo đức xã hội.

* Chế tài:

- Đối tượng của HĐ không hợp pháp, HĐ vô hiệu ( Điều 128 BLDS)

- Đối tượng của HĐ khơng thể thực hiện được ( Điều 411 BLDS)

II. Hình thức của hợp đồng:

1. Khái niệm:

Là cách thức biểu hiện ra bên ngồi của những nội dung của nó dưới một dạng

vật chất hữu hình nhất định.

Theo đó, những điều khoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể

hiện ra bên ngồi dưới một hình thức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp

đồng là phương tiện để ghi nhận nội dung mà các chủ thể đã xác định.

Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào

uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong

việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thể.

Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về hình thức hợp đồng

dân sự như sau:



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



6



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

“1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng

hành vi cụ thể, khi pháp luật khơng quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng

một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng

văn bản có cơng chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân

theo các quy định đó.

Hợp đồng khơng bị vơ hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Từ quy định trên có thể thấy hình thức của hợp đồng dân sự rất đa dạng, phong

phú, tựu trung lại thì hình thức của hợp đồng dân sự có mấy dạng sau đây:

- Hình thức miệng (bằng lời nói): Thơng qua hình thức này các bên chỉ cần thỏa

thuận miệng với nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng. Hình thức này thường

được áp dụng đối với những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc các

đối tác lâu năm hoặc là những hợp đồng mà sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt. Ví

dụ bạn thân cho mượn tiền, hay đi mua đồ ở chợ….

- Hình thức viết (bằng văn bản): Các cam kết của các bên trong hợp đồng sẽ

được ghi nhận lại bằng một văn bản. Trong văn bản đó các bên phải ghi đầy đủ những

nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào văn bản, thơng thường hợp

đồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản.

- Hình thức có chứng thực: Hình thức này áp dụng cho những hợp đồng có tính

chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của hợp đồng là những tài sản mà nhà

nước quản lý, kiểm sốt thì khi giao kết các bên phải lập thành văn bản có Cơng chứng

hoặc chứng thực của Cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền trong lĩnh vực này.

Ví dụ: Hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều 467 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005)

quy định: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có cơng chứng, chứng

thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký

quyền sở hữu. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký;

nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực

kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

- Hình thức khác: ngồi những hình thức nói trên, hợp đồng có thể thực hiện

bằng các hình thức khác như bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ cơ thể…)



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



7



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

miễn là những hành vi đó phải chứa đựng thơng tin cho bên kia hiểu và thõa thuận

giao kết trên thực tế.

- Theo quy định hiện hành thì hình thức HĐ là điều kiện có hiệu lực của HĐ

nếu pháp luật có quy định, và khi HĐ vi phạm hình thức thì có thể bị vơ hiệu hoặc

khơng có giá trị pháp lý đối với người thứ ba ( Điều 122, 124, 127, 134, 401 BLDS

2005)

2. Một số quy định đặc biệt:

2.1. Hình thức:

- Hợp đồng trọng thức: là HĐ muốn có hiệu lực pháp lý phải tuân thủ đúng

những qui định của pháp luật.

Ví dụ: HĐ mua bán nhà phải được cơng chứng hoặc chứng thực và có hiệu lực

từ thời điểm HĐ được công chứng, chứng thực (Khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng

2006), hay HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ( Luật Đất đai)

- Hợp đồng thực tại: Được giao kết bằng cách chuyển giao vật mà các bên

quan tâm. Việc giao kết đó cũng được coi là điều kiện về hình thức HĐ: khơng có hình

thức đó, sự thỏa thuận đơn thuần giữa hai bên khơng có hiệu lực ràng buộc.

Ví dụ: Hợp đồng cho mượn tài sản: nếu chỉ có thỏa thuận về việc cho mượn mà

khơng có việc chuyển giao tài sản từ người cho mượn sang người mượn thì HĐ chưa

hình thành

2.2. Thủ tục:

- Đăng ký: Đối với tài sản có giá trị cao, Nhà nước, tổ chức hệ thống đăng ký

để đặt cơ sở cho việc xác định lai lịch của người có quyền, đặc biệt là quyền sở hữu.

- Xin phép cơ quan có thẩm quyền: Với các trường hợp có tính chất quan

trọng của tài sản giao dịch hoặc của bản thân giao dịch đối với kinh tế quốc dân hoặc

đối với trật tự cơng cộng. Ví dụ: HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

2.3. Hiệu lực:

- Hình thức là điều kiện để HĐ phát sinh hiệu lực (Điều 134 BLDS 2005)

- Hình thức là chứng minh sự tồn tại của hợp đồng (Điều 528 BLDS 2005)

- Hình thức là điều kiện cơng bố HĐ...

3. Tìm hiểu về luật giao dịch điện tử:

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thơng điệp

dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản”

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



8



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

Rõ ràng, cơ sở pháp lý của hình thức thơng điệp dữ liệu đã được khẳng định một cách

chắc chắn trong BLDS. Bên cạnh đó, theo Khoản 5, Khoản 6 Điều 4 Luật Giao dịch

Điện tử (GDĐT) có hiệu lực ngày 01/03/2006, thì: “Dữ liệu là thông tin dưới dạng ký

hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự”, “Giao dịch điện tử là

giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”

“Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được

lưu trữ bằng phương tiện điện tử”(Khoản 12 Điều 4 Luật GDĐT)

“Thơng điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử,

chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự

khác

Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì

thơng tin đó được thể hiện dưới dạng thơng điệp dữ liệu” (Điều 10 Luật GDĐT)

Điều 12 Luật GDĐT khẳng định “Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn

bản”.Khơng chỉ vậy, Điều 13 của Luật còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa: “Thơng điệp

dữ liệu có giá trị như bản gốc.

Thơng điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện sau

đây:

1. Nội dung của thơng điệp dữ liệu được bảo đảm tồn vẹn kể từ khi được khởi

tạo lần đầu tiên dưới dạng một thơng điệp dữ liệu hồn chỉnh. Nội dung của thơng điệp

dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về

hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu;

2. Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng

hoàn chỉnh khi cần thiết.”

Điều 14 Luật GDĐT nhấn mạnh “Thơng điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ

1. Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là

một thông điệp dữ liệu.

2. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy

của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm

và duy trì tính tồn vẹn của thơng điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và

các yếu tố phù hợp khác.”

Đối với thơng tin trích xuất từ trang thơng tin điện tử, theo Điều 23 Luật Công

nghệ Thông tin (có hiệu lực ngày 01/01/2007) “Tổ chức, cá nhân có quyền thiết lập

trang thông tin điện tử theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm quản lý nội

dung và hoạt động trang thơng tin điện tử của mình”.

Như vậy, với các căn cứ pháp lý được viện dẫn như trên, chúng ta có thể rút

được 3 kết luận quan trọng sau:

- Thơng điệp dữ liệu có giá trị như văn bản pháp lý thông thường.

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



9



NHĨM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

- Thơng điệp dữ liệu có giá trị như văn bản gốc nếu nó được bảo đảm tồn vẹn

từ khi khởi tạo lần đầu, được lưu trữ và có thể truy cập được.

- Thơng điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ.

III.Thực tiễn

1. Thực tiễn của đối tượng hợp đồng dân sự

Hiện nay đối tượng của hợp đồng dân sự rất phong phú (hợp đồng mua nhà,

hợp đồng mua xe, hợp đồng mua bán mùa màng chưa thu hoạch,…), ngoài những đối

tượng mà pháp luật điều chỉnh thì trong thực tiễn còn có các đối tượng giao kết mà

pháp luật chưa quy định. Tức là trong giao lưu dân sự có xuất hiện các đối tượng này

và vấn đề đặc ra là đối tượng đó có được phép giao kết hay bị cấm giao kết; trình tự

thủ tục ký kết như thế nào…, chưa có cơ sở pháp lý thực hiện, mặc dù các đối tượng

giao kết này là chính đáng, không trái đạo đức xã hội, đều do các bên bình đẳng, tự

nguyện thỏa thuận.

Cụ thể là giao kết hợp đồng “mang bầu thuê”. Đối tượng của hợp đồng chính

là con người. Ngày nay tình trạng hiếm muộn đang là vấn đề phổ biến. Nhiều cặp vợ

chồng khơng có khả năng sinh con mặc dù có điều kiện kinh tế ổn định khá, nhu cầu

cần một người con để gia đình trọn vẹn niềm hạnh phúc. Trong khi đó, một số người

có khả năng sinh con nhưng do hồn cảnh kinh tế khó khăn, họ chấp nhận việc mang

bầu thuê.

Hai bên chủ thể thực hiện giao kết hợp đồng “mang bầu th ” khơng nhằm

mục đích kinh doanh thu lợi nhuận, mà các bên chỉ mong muốn, người khơng có con

sẽ có được đứa con để chăm sóc, người mang bầu th thì có được một khoản tiền thỏa

đáng. Y học ngày nay rất phát triển, việc thụ tinh nhân tạo, cấy gen, cho tặng trứng …

được thực hiện thành cơng và phổ biến.

Theo quan điểm của nhóm, đối tượng của hợp đồng dân sự cần điều chỉnh

thêm vấn đề “con người” để kịp thời đáp ứng nhu cầu tiến bộ của khoa học công nghệ

nhất là y học. Ngày nay, việc cho, bán, tặng một quả tim hay một quả thận là việc có

xảy ra trong thực tiễn đời sống. Pháp luật cần thiết phải điều chỉnh vấn đề này vì một

khi có xảy ra tranh chấp thì chủ thể của giao kết hợp đồng có thể tiến hành khiếu nại

theo các trình tự thủ tục mà pháp luật quy định.

2. Thực tiễn của hình thức hợp đồng dân sự

Trong Điều 450 về hình thức hợp đồng mua bán nhà có quy định “hợp đồng

mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có cơng chứng hoặc chứng thực, trừ

GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



10



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định là vậy nhưng thực tiễn lại khác, tại

TAND, UBND các cấp hiện nay hầu hết các hợp đồng bị khởi kiện, khiếu nại đều

không tuân thủ theo thủ tục, hình thức đã quy định.

Đối với những hợp đồng chuyển nhượng QSD đất được ký kết trước ngày 01

tháng 07 năm 2004, đa số là hợp đồng được xác nhận, chứng thực không đúng thẩm

quyền (các hợp đồng được giao kết trong thời gian này luật đất đai quy định là do

phòng cơng chứng, hoặc UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận),

phần lớn các hợp đồng lại là giấy viết tay, chỉ do UBND xã chứng thực, hoặc do khóm

trưởng, tổ trưởng khu phố ký nhận, làm chứng (điển hình của các trường hợp này là do

hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, hợp đồng thế chấp giá trị QSD đất để vay tiền giữa

các cá nhân với nhau, loại thế chấp này đôi khi là giao kết hợp đồng bằng miệng với

nhau,…); đất chuyển nhượng, tặng, cho chưa có giấy chứng nhận QSD đất…

Một vấn đề khác cần quan tâm đó chính là sự phát triển của khoa học công nghệ

thông tin, làm xuất hiện các hình thức hợp đồng giao kết với nhau qua mail, internet,

…các hình thức giao kết dạng này cũng chưa thật sự có cơ sở pháp lý cụ thể. Chính vì

vậy mà khi xảy ra tranh chấp thì việc thụ lý hồ sơ của các hình thức hợp đồng này gây

ít nhiều khó khăn cho người có thẩm quyền giải quyết. Bởi lẽ các HĐDS dưới hình

thức này khơng vi phạm phám luật, cũng không bị pháp luật cấm, song cũng khơng có

cơ sở pháp lý nào để giải quyết.

Nhìn chung, đối tượng và hình thức hợp đồng dân sự ở nước ta được nhà nước

quy định tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ, đã điều chỉnh được phần lớn các vấn về

HĐDS, có sự kế thừa và phát huy những ưu điểm của pháp luật trước đây. Tuy nhiên

qua 10 năm thi hành bộ Luật dân sự, thực tiễn cho thấy đối tượng và hình thức của hợp

đồng dân sự bộc lộ một số bất cập nhất định, gây khó khăn cho viêc thực hiện giao kết

hợp đồng dân sự dẫn đến thực trạng đáng lo ngại về hợp đồng dân sự vô hiệu. Chưa kể

đến việc một số chủ thể cố tình lừa dối, giao kết giả tạo, nhầm lẫn, hoặc thực hiện

những giao kết trái pháp luật (hợp đồng mua bán dâm, hợp đồng mua bán ma túy, vũ

khí,…); các hợp đồng đó trên thực tế là một con số đáng kể. Thiết nghĩ chúng ta cần

phải nhanh chóng đề ra những giải pháp thiết thực nhằm khắc phục những lỗ hổng của

pháp luật, đảm bảo điều chỉnh toàn diện các nhu cầu trong giao lưu dân sự, ổn định

kinh tế, chính trị, xã hội.



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



11



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



12



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9



CÂU HỎI

-----1) Nêu những đặc điểm cơ bản của một hợp đồng?

- Có sự tham gia của từ hai bên trở lên.

- Có sự thống nhất ý chí của các bên tham gia.

- Nhằm làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

2) Điểm khác nhau giữa hợp đồng trọng thức và hợp đồng thực tại ?

- Hợp đồng trọng thức phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật thì mới có

hiệu lực.

- Hợp đồng thực tại được giao kết bằng cách chuyển giao vật mà các bên quan tâm.

3) Vợ chồng anh A nhờ chị B “mang bầu thuê” đây có phải là hợp đồng

dân sự khơng? Giải thích?

Trả lời: Khơng. Vì đối tượng điều chỉnh của hợp đồng dân sự không có con người cho

nên đây khơng thể xe m là một hợp đồng dân sự.

4) Thông điệp dữ liệu trong Luật giao dịch điện tử có giá trị như bản gốc

khi đáp ứng được các điều kiện như thế nào? Cơ sở pháp lý?

Theo Điều 12 Luật giao dịch điện tử năm 2005

1. Nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi

tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hồn chỉnh. Nội dung của thơng điệp

dữ liệu được xem là tồn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về

hình thức phát sinh trong q trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thơng điệp dữ liệu;

2. Nội dung của thơng điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng

hoàn chỉnh khi cần thiết.”

5) Theo anh/chị hiểu "chữ ký điện tử an toàn" là như thế nào? Cơ sở pháp

lý?

Chữ ký điện tử an tồn là chữ ký điện tử thơng thường và đáp ứng thêm các

điều kiện quy định tại Điều 22 Luật Giao dịch điện tử, cụ thể như dữ liệu tạo chữ ký

điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký trong bối cảnh chữ ký được sử dụng, dữ liệu tạo

chữ ký điện tử chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời điểm ký… Như vậy, chữ

ký điện tử an tồn sẽ khơng nhất thiết phải là chữ ký được chứng thực, nói cách khác

mọi chữ ký được chứng thực bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử thì đều

là chữ ký điện tử an tồn nhưng khơng phải tất cả chữ ký điện tử an toàn đều cần phải

được chứng thực. Cơng nhận điều này cũng chính là tơn trọng sự tự do của các bên

trong giao dịch đối với việc tự do lựa chọn hình thức cơng nghệ để thoả mãn các điều

kiện của chữ ký điện tử an toàn.

6) Hình thức hợp đồng bằng miệng rất thường diễn ra và nó có thể nói

chiếm đa số trong giao dịch dân sự. Vậy theo quan điểm của các anh chị hình



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



13



NHĨM THỰC HIỆN: 18



Phản biện Chủ đề 9

thức hợp đồng miệng được áp dụng trong những trường hợp nào? Và cho ví dụ

để làm rõ hơn vấn đề này cho từng trường hợp mà các anh chị biết.

Trả lời

Hình thức miệng được coi là hợp đồng có lích sử lâu đời và được áp dụng phổ biến

nhất trong giao dịch dân sự. Hình thức hợp đồng miệng thường áp dụng phổ biến cho

các trường hợp sau đây:

- Thứ nhất, hình thức miện được áp dụng trong những trường hợp các bên tham

gia giao kết hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau. Độ tin cậy giữa các chủ thể

thường được xác lập thông qua các quan hệ ruột thịt, quan hệ hàng xóm láng

giềng, quan hệ bạn bè,… sự tin tưởng giữa các chủ thể ở đây đóng vai trò như

một nhân tố chủ quan bổ sung thêm cho sự xác thực của hình thức miệng.

Trong nhiều trường hợp do thiếu độ tin cậy nên các chủ thể khơng thể áp dụng

được hình thức miệng.

- Thứ hai, hình thức miệng được áp dụng với những hợp đồng có giá trị nhỏ. Đối

với những trường hợp có giá trị q nhỏ (ví dụ: mua bó rau, một viên xirum,..)

thì các bên khơng có cách nào khác ngồi cách áp dụng hình thức miệng, nếu áp

dụng các hình thức khác sẽ có thể tạo nên những chi phí q lớn, mà giá trị hợp

đồng thì q nhỏ nên các chi phí đó làm cho việc kí kết hợp đồng trở nên vơ

nghĩa.

- Thứ ba, hình thức miệng được áp dụng đối với những hợp đồng mà có thể được

thực hiện và chấm dứt ngay sau khi giao kết. Ví dụ như đa số các hợp đồng bán

lẻ đều được thực hiện dưới hình thức miệng. Sauk hi thoả thuận miệng xong về

giá cả, số lượng và chất lượng, … thì hai bên thực hiện ngay thoả thuận đó (bên

bán cân đơng và bàn giao hàng bên mua nhận lây hàng và trả tiền). Đến đây

hợp đồng coi như đã thực hiện xong và chấm dứt.

7) Năm 2008 anh A có vay tín dụng đen, thế chấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất và hai bên có ký hợp đồng ủy quyền, thời hạn hợp

đồng ủy quyền là 02 năm kể từ ngày ký. Cho đến nay hợp đồng ủy quyền

đã hết thời hạn, vậy theo quan điểm của các anh chị anh A có được

quyền sử dụng miếng đất trên theo quy định của pháp luật khơng và có

được quyền xin lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó khơng?

Trả lời

Vay tín dụng đen có nghĩa là hai bên không ký hợp đồng vay dưới hình thức

có thế chấp mà việc thế chấp tài sản được che giấu dưới dạng hợp đồng ủy

quyền.



GVHD: ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền



14



NHÓM THỰC HIỆN: 18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giao kết hợp đồng dân sự

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×