Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đặc điểm hoạt động nhượng quyền thương mại

Đặc điểm hoạt động nhượng quyền thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

GVHD: TS. Lê Văn Hưng



đào tạo của xã hội, của nền kinh tế đối với lớp doanh nhân mới lần đầu tự kinh doanh.

Thật vậy, thông qua cửa hàng franchise, doanh nhân mới vào nghề có cơ hội học hỏi kinh

nghiệm điều hành từ một hệ thống bài bản và đã được chứng minh thành công của chủ

thương hiệu. Sau khi được trang bị kiến thức và kinh nghiệm thực tế, người mua

franchise sẽ tự tin hơn nếu muốn bắt đầu xây dựng riêng cho mình một mơ hình kinh





doanh mới.

Giải quyết tranh chấp (nếu có) theo điều lệ của WTO: Do nhượng quyền thương mại là

một hoạt động có liên quan đến li-xăng và chuyển giao công nghệ nên việc xảy ra tranh

chấp cũng là một vấn đế cần quan tâm. Khi đã là thành viên của WTO, các tranh chấp về

thương mại của Việt Nam cũng sẽ được giải quyết dựa trên những điều lệ của tổ chức

này. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thơng thống hơn, ít tốn thời gian và có tính



ràng buộc cao.

 Lợi ích đối với Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền:

Nhượng quyền thương mại là một bước tiến vĩ đại của nền kinh tế thế giới, với

khả năng khuếch trương các địa điểm kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cho doanh

nghiệp một các đáng kể.

 Bên nhượng quyền (Franchisor):



− Vốn: vì trong hệ thống nhượng quyền, người bỏ vốn ra để mở rộng hoạt động kinh doanh



lại chính là bên nhận quyền. Nói cách khác, bên nhượng quyền mở rộng hoạt động kinh

doanh bằng chính đồng vốn của người khác nên giảm đươc chi phí thâm nhập thị trường.

Đồng thời việc phải bỏ vốn kinh doanh là động lực thúc đẩy bên nhận quyền phải cố

gắng hoạt động có hiệu quả, mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho bên nhượng quyền. Đây

có thể nói là một mũi tên trúng hai đích.

− Thời gian: vì việc chuẩn bị tất cả những “nguyên liệu” cần thiết cho việc kinh doanh có



bàn tay của cả hai bên góp vào. Hình thức nhượng quyền sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng

sự hiện diện thương mại một cách nhanh chóng cả trong và ngồi nước. Đặc biệt, bên



Nhóm 7



Trang 9



GVHD: TS. Lê Văn Hưng



nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà bên nhượng quyền khơng thể tiếp cận

được.

− Tối đa hóa thu nhập: Khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền bản quyền thuê



thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ thống của bên nhượng quyền.

Đồng thời, bên nhận quyền phải mua sản phẩm, nguyên liệu của bên nhượng quyền, nhờ

đó mà bên nhượng quyền có thể tối đa hóa thu nhập của mình.

− Mở rộng hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng: Ngày nay, những sự thay đổi trên



thị trường diễn ra rất nhanh. Lẽ dĩ nhiên là nếu bạn không thay đổi, phát triển và mở rộng

cùng với thị trường thì bạn sẽ bị các đối thủ cạnh tranh qua mặt, những cơ hội kinh doanh

cũng sẽ trơi qua tầm tay. Hình thức nhượng quyền sẽ giúp bạn mở rộng hoạt động kinh

doanh, xây dựng sự hiện diện ở khắp mọi nơi một cách nhanh chóng với hàng trăm cửa

hàng trong và ngồi nước mà khơng một hình thức kinh doanh nào có thể làm được.

− Thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu: Khi sử dụng hình thức nhượng quyền, bên nhượng



quyền sẽ tạo được những lợi thế trong việc quảng cáo, quảng bá thương hiệu của mình.

Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở khắp nơi của chuỗi cửa hàng sẽ đưa hình ảnh về

sản phẩm đi sâu vào tâm trí khách hàng một cách dễ dàng hơn.





Chi phí quảng cáo cho một đơn vị kinh doanh là rất nhỏ: vì chi phí quảng cáo sẽ được

trải rộng cho rất nhiều cửa hàng. Điều này giúp bên nhượng quyền xây dựng được một

ngân sách quảng cáo lớn. Đây là một lợi thế cạnh tranh mà khó có đối thủ cạnh tranh nào

có khả năng vượt qua. Hoạt động quảng cáo càng hiệu quả, hình ảnh về sản phẩm,

thương hiệu càng được nâng cao, giá trị vơ hình của cơng ty càng lớn sẽ mang lại nhiều

thuận lợi cho bên nhận quyền khi sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền.

Và như thế cả bên nhượng quền và bên nhận quyền ngày càng thu được nhiều lợi nhuận

từ việc áp dụng hình thức kinh doanh nhượng quyền.



Nhóm 7



Trang 10



GVHD: TS. Lê Văn Hưng

− Tăng doanh thu: Chủ thương hiệu hoàn toàn có thể cải thiện doanh số của mình bằng việc



nhượng quyền sử dụng thương hiệu và công thức kinh doanh mà ngày nay đã được xem

như là một thứ tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp. Thông qua các phí: Phí nhượng

quyền ban đầu, phí hàng tháng, doanh thu từ việc bán các nguyên liệu đặc thù để đảm bảo

tính đồng bộ của sản phẩm hay mơ hình kinh doanh. Ví dụ như Mc Donald’s cung cấp và

bán cho các cửa hàng nhượng quyền của mình một số nguyên liệu quan trọng như khoai

tây, bánh táo, pho mat…

 Bên nhận quyền (Franchisee):



− Giảm thiểu được rủi ro: Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều rủi ro và tỷ



lệ thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người quản lý là những người mới

bước vào nghề, khơng có kinh nghiệm và phải mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các

đặc trưng riêng của từng loại hình kinh doanh.

Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền sẽ được truyền đạt các

kinh nghiệm quản lý, bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền đã thành công qua

những lần trải nghiệm trên thương trường. Chính vì thế, bên nhận quyền sẽ không phải

trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên nhượng quyền sẽ hướng dẫn bên

nhận quyền các nguyên tắc chung. Bên cạnh đó, bên nhận quyền chỉ cần tập trung vào

việc điều hành hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy

trình vận hành, chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền chuyển giao.

Những nghiên cứu gần đây nhất đã cho thấy 90% công ty theo hợp đồng thương

hiệu tại Hoa Kỳ tiếp tục hoạt động sau 10 năm, trong khi 82% công ty độc lập phải đóng

cửa và cũng chỉ có 5% cơng ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so

với 38% công ty độc lập.

− Được sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền: Ngày nay, trên thị trường có hàng



ngàn sản phẩm và dịch vụ có cùng giá trị sử dụng nhưng được cung cấp bởi các nhà sản

Nhóm 7



Trang 11



GVHD: TS. Lê Văn Hưng



xuất khác nhau. Do đó, việc cố gắng tạo dựng một thương hiệu nổi tiếng, được khách

hàng tin cậy và nhớ đến là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp.

− Tận dụng các nguồn lực: bên nhận quyền không phải nghiên cứu marketing hay thiết lập



mạng lưới mà có thể tham gia ngay vào hệ thống vốn sản xuất, kinh doanh những sản

phẩm, dịch vụ vốn đã và đang nổi tiếng. Bên nhận quyền chỉ tập trung vào việc điều hành

hoạt động kinh doanh, phần còn lại như xây dựng chiến lược tiếp thị, quy trình vận hành,

chiến lược kinh doanh sẽ do bên nhượng quyền đảm trách và chuyển giao.

− Tận dụng nguồn nhân lực: bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh doanh và đây là



động lực để thúc đẩy họ làm việc tốt hơn. Vì khi người nhận quyền là chủ nên họ có trách

nhiệm hơn. Nhờ vậy, bên nhượng quyền tận dụng được nguồn nhân lực từ phía nhận

quyền.

Ngồi ra, bên nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà bên nhượng quyền

không thể tiếp cận được và họ có thể nắm vững thơng tin địa phương hơn bên nhượng

quyền.

− Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền ln có những ưu



đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên nhận quyền. Do đó, bên nhận

quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên liệu với khối lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao

đầy hấp dẫn, tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp nhận quyền.

Giá của các sản phẩm, nguyên liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh

tranh lớn. Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm nguồn hàng thì

bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận quyền trước. Điều này giúp cho

bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh được những tổn thất từ biến động thị trường.

− Nhãn hiệu đã được bảo hộ sẵn: Đa số các thương hiệu, nhãn hiệu khi bán Franchise đã



được đăng kí bảo hộ nhãn hiệu tại nhiều nước nên giảm thiểu chi phí đăng kí cho bên

mua cũng như được bảo hộ trong kinh doanh.

Nhóm 7



Trang 12



GVHD: TS. Lê Văn Hưng

− Bán những sản phẩm chất lượng cao và ổn định: Phần lớn các doanh nghiệp và những



sản phẩm mới bị thất bại thường là do phải chi phí nhiều cho việc nghiên cứu và phát

triển. Còn quy trình tạo ra sản phẩm trong các chuỗi nhượng quyền được phân nhỏ và

tiêu chuẩn hóa, đảm bảo mọi sản phẩm bán ra từ một chuỗi các cửa hàng nhượng quyền

của cùng một thương hiệu có chất lượng đồng nhất, đảm bảo.

Quy trình làm việc cụ thể còn giúp cho nhân viên làm việc có hiệu quả và thích

nghi với tất cả cơng việc.

− Giảm thiểu chi phí xây dựng ban đầu: quảng cáo, thành lập doanh nghiệp, nghiên cứu thị



trường. Bên mua cũng không phải lo lắng quá nhiều về thái độ của người tiêu dùng đối

với sản phẩm của mình.

− Có được sự huấn luyện ban đầu kỹ lưỡng và sự hỗ trợ toàn diện về lâu dài: Việc nhượng



quyền không chỉ dừng ở việc đào tạo. Sự thành công và lợi nhuận của cả bên bán và bên

mua có quan hệ mật thiết với nhau. Bên bán có một đội ngũ chuyên gia cố vấn cao cấp sẽ

hỗ trợ cho người được nhượng quyền mọi lĩnh vực từ nhân sự tới hệ thống kế tốn… Có

19 hạng mục quan trọng mà người mua Franchise có thể thụ hưởng:

1. Kỹ thuật bán hàng

2. Nghiên cứu phát triển sản phẩm

3. Phương pháp kiểm soát chất lượng

4. Đào tạo, huấn luyện

5. Quan hệ khách hàng

6. Chiến thuật về giá

7. Hỗ trợ, tư vấn thuê, mua bất động sản

Nhóm 7



Trang 13



GVHD: TS. Lê Văn Hưng

8. Hỗ trợ thiết kế

9. Danh sách trang thiết bị cần thiết

10. Các vấn đề pháp lý

11. Thương hiệu

12. Sản phẩm

13. Dịch vụ

14. Phương pháp kinh doanh

15. Hệ thống sổ sách kế toán

16. Phương pháp dự đoán trong kinh doanh

17. Phương pháp lên kế hoạch chiến lược

18. Phân tích xu thế thị trường

19. Tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại

 Thách thức đối với Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền:

 Bên nhượng quyền (Franchisor):



Thông thường, chúng ta nghĩ rằng bên giao nhượng quyền sẽ hưởng một khoản

không nhỏ từ bên nhận nhượng quyền. Tuy nhiên, thực tế không hẳn như vậy! Đôi bên

hợp tác, chắc chắn mục đích của họ là lợi nhuận, nhưng họ cũng có những khó khăn nhất

định.

− Uy tín của một mắt xích trong hệ thống nhượng quyền sẽ quyết định uy tín của cả một hệ



thống, đặc biệt là đối với những hệ thống nhượng quyền mới phát triển. Thách thức này

Nhóm 7



Trang 14



GVHD: TS. Lê Văn Hưng



nằm ngay trong lợi thế của nó. Khi mạng lưới phân phối dày đặc rộng lớn tồn tại yếu

điểm với một số lượng lớn cửa hiệu nhượng quyền cách trở về địa lý, thơng tin thì việc

quản lý của các nhà quản lý sẽ gặp trở ngại nhất là khi cần có sự xử lý kịp thời và mang

tính chun mơn (một vấn đề có thể là hạn chế đối với bên mua). Đôi khi chỉ là thái độ

thiếu lịch sự của một nhân viên một cửa hàng franchise hay vết bẩn trong món ăn dẫn tới

tổn hại chung cho cả thương hiệu và các đối tác trong hệ thống. Yếu điểm của một đại lý

sẽ tổn hại tới uy tín của cả thương hiệu, hoặc chỉ cần có những tin đồn thất thiệt về một

khâu sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới tồn bộ chuỗi cung ứng.

Ví dụ Cafe Trung Ngun: Trong những năm đầu do là đơn vị đi tiên phong trong lãnh

vực franchise tại Việt Nam nên Trung Nguyên đã khá bối rối trong hướng đi của mình và

khá dễ dãi trong việc bán franchise dẫn đến hiện trạng có q nhiều qn cafe cùng mang

nhãn hiệu nhưng khơng cùng một đẳng cấp. Nói cách khác Trung Nguyên rơi vào tình thế

mất kiểm sốt chất lượng và tính đồng bộ của mình vì bắt đầu bán franchise với số lượng

lớn khi chưa có đủ sự chuẩn bị. Thật vậy có qn thì khá bề thế, có qn lại q xập xệ,

khiêm tốn hay có quán có máy lạnh phục vụ tốt, tay nghề khá và có quán tay nghề kém

bình dân, trang trí nội thất cũng khơng đồng bộ theo một chuẩn mực chung. Từ cuối năm

2002 Trung Nguyên đã cho mời chuyên gia người Úc sang để khắc phục tình trạng này

nhưng trên thực tế để điều chỉnh lại hệ thống với hơn 400 quán cà phê trải dài khắp nước

quả là một thách thức của người điều hành mỗi quán cafe và của người chủ thương hiệu

nói chung.

− Nguy cơ bị mất cắp bí quyết kinh doanh trong quá trình hoạt động cũng là một thách



thức đặt ra đối với một nhà quản lý thương hiệu. Bên mua franchise sẽ được chủ thương

hiệu đào tạo phương thức hoạt động cung cấp những phương công thức chế biến đặc biệt

mang đặc trưng thương hiệu. Đặc điểm này khiến cho kinh doanh nhượng quyền thương

mại khó có thể diễn ra ở những nơi có hệ thống pháp lý chưa đủ mạnh như là ở Việt Nam.

Việc nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của thương hiệu thực tế đã dẫn đến

nhiều bài học vô cùng đắt giá cho chủ thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế. Do

Nhóm 7



Trang 15



GVHD: TS. Lê Văn Hưng



khơng chú trọng tới thương hiệu nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã quên đăng kí bảo

hộ, chỉ đến khi thương hiệu hay nhãn hiệu của mình bị chiếm đoạt thì mới nhận ra và tìm

cách khiếu kiện. Và khi đó mới biết mình không lưu đủ giấy tờ, hồ sơ cần thiết để chứng

minh quyền sở hữu đối với thương hiệu của mình.

Ví dụ: Bánh phồng tôm Sa Giang của An Giang khi xuất khẩu sang Châu Âu thông qua

một đại lý đã bị chính đại lý đó lợi dụng và chủ thương hiệu Sa Giang tại Việt Nam đã

phải mua lại nhãn hiệu của chính mình nếu khơng thì khơng có cách nào xâm nhập thị

trường Mỹ.

− Đối tác chủ thương hiệu (bên mua) thường có xu hướng trở thành đối thủ cạnh tranh của



doanh nghiệp nhượng quyền trong nỗ lực giành lấy khách hàng và thị phần: Các CEO

của bên nhượng quyền cũng phải đối mặt với một khó khăn khơng nhỏ đó (trong trường

hợp cạnh tranh khơng lành mạnh).

− Mối nguy từ những đối thủ tiềm tàng cũng như người nhận quyền không trung thực: Bên



cạnh những thế mạnh như hiệu quả kinh doanh cao, tiềm lực tài chính mạnh, nhiều cơ hội

lấn sân qua những lĩnh vực khác, mặt trái của Franchise chính là mối nguy từ những đối

thủ tiềm tàng cũng như người nhận quyền không trung thực.

− Hợp đồng nhượng quyền chưa thực hiện đăng kí được: Luật Thương Mại 6/2007 có quy



định về hợp đồng Franchise nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thi hành luật nên chưa

thực hiện được việc đăng kí trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Có 4 rủi ro có thể

xảy ra cho hợp đồng Franchise đặt biệt khi không đăng kí:

Khả năng vơ hiệu hợp đồng.

Khơng lấy được tiền bản quyền.

Khơng tính được phí chuyển nhượng.

 Bên nhận quyền (Franchisee):

+

+

+



Mặc dù có quyền cao nhất trong khu vực hoạt động của mình, nhưng bên mua vẫn

phải chịu một số ràng buộc với chủ thương hiệu theo thỏa thuận trong hợp đồng nếu

khơng sẽ bị phạt vi phạm.

Nhóm 7



Trang 16



GVHD: TS. Lê Văn Hưng

− Không được tự ý điều chỉnh việc kinh doanh: thay đổi menu, hạ giá thành sản phẩm…



việc kinh doanh nhắm đến một đối tượng khách hàng với một mục tiêu nhất định theo

phân khúc thị trường mà bên nhượng quyền đã xác định trong chiến lược kinh doanh của

mình.

− Bị giới hạn việc sử dụng thương hiệu trong một khu vực kinh doanh nhất định: Khảo sát



cho thấy 100% các doanh nghiệp nhượng quyền đều Ngoài mục đích kinh doanh chính

các franchisee khơng được phép thay đổi bất kỳ một sự xáo trộn nào không được phép

quy định trong hợp đồng. Tất cả các chương trình quảng bá khuyến mãi đều phải thông

qua ý kiến của bên nhượng quyền. Lý giải về việc này anh Hoàng Trung phụ trách đào

tạo nhượng quyền của doanh nghiệp Trung Nguyên cho biết: “mục đích là để bảo vệ

thương hiệu cho franchisor và đảm bảo sự công bằng cho các franchisee khác trong hệ

thống không làm ảnh hưởng đến doanh số của nhau khi có những chương trình khuyến

mãi, giảm giá tự phát của một số cửa hàng”.





Phải thường xuyên báo cáo doanh thu và tình hình hoạt động định kỳ cho bên bán, đóng

khoản phí hàng tháng dù kinh doanh thua lỗ. Trên thế giới khoản phí này dao động trong

khoảng từ 3 – 10% tổng doanh thu hàng tháng còn ở Việt Nam là 2 – 3%. Tuy nhiên đây

là khoản tính trên tổng doanh thu sau khi đã trừ thuế, vì vậy nếu bên mua franchisee quản

lý chi phí khơng tốt, kinh doanh thua lỗ thì vẫn phải nộp cho bên chủ thương hiệu một

khoản phí định kỳ dựa trên doanh số bán ra.



− Không chủ động được nguồn nguyên liệu: Chỉ có thể sử dụng nguồn nguyên liệu chỉ định



hoặc cung ứng bởi chủ thương hiệu do đó khơng chủ động được giá cả, thậm chí ảnh

hưởng đến tiến độ cơng việc thay vì có thể sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có chất lượng

ngang bằng thì phải đợi để có được nguồn ngun liệu quy định.

Ví dụ: Trường hợp các cửa hàng KFC ở Việt Nam để làm ra món khoai tây chiên mỗi

năm hệ thống này phải nhập về Việt Nam gần 200 tấn khoai tây Wasington từ Mỹ theo

yêu cầu của chủ thương hiệu.

Nhóm 7



Trang 17



GVHD: TS. Lê Văn Hưng

− Nguy cơ bị tổn hại do các franchise khác trong hệ thống hoạt động không hiệu quả hoặc



làm trái với các nguyên tắc hoạt động kinh doanh đã được thống nhất. Gần đây Nam An

Group đã phát hiện một trường hợp cửa hiệu phở 24 làm trái quy định: tiết giảm chi phí

hoạt động bằng việc giảm lượng thịt trong tô, tắt máy lạnh; rất may là phát hiện kịp thời

chưa gây ảnh hưởng đến uy tín của chuỗi cửa hàng phở 24.

− Không chủ động được khi chủ thương hiệu cắt hợp đồng khi hết thời hạn:



Thời hạn hiệu lực của một hợp đồng nhượng quyền được các franchisor Việt Nam xác

định khác nhau tùy theo lĩnh vực và chiến lược nhượng quyền. Kết quả khảo sát cho thấy

lĩnh vực kinh doanh thức uống có thời hạn trung bình là 2 – 3 năm, doanh nghiệp kinh

doanh dịch vụ thực phẩm là 5 năm,… Nguy cơ bị lừa đảo tại một số quốc gia đã có

trường hợp chủ thương hiệu sau khi nhận tiền nhượng quyền các franchisee thì trốn mất

(hiện trạng này hiện chưa có ở Việt Nam).

− Đòi hỏi các CEO phải có kinh nghiệm hoặc hiểu biết chun mơn: Quản lý kinh doanh là



một công việc phức tạp. Đây cũng là điều mà các franchisee cần xem xét quyết định có

nên đăng ký xin được chuyển nhượng hay khơng.

Một trong những thách thức lớn nhất mà Phở 24 gặp phải trong quá trình chuyển

nhượng trong nằm ở chỗ đội ngũ nhân viên hay trang thiết bị đồng bộ mà ở chỗ chính đối

tác mua franchise - người chủ điều hành quán phở nhượng quyền. Nếu chủ quán không

quan tâm hay thiếu kinh nghiệm vì chỉ là một nhà đầu tư đơn thuần thì khó có thể đưa ra

những quyết định đúng đắn và như thế mơ hình kinh doanh nhượng quyền sẽ không đạt

kết quả tối ưu ảnh hưởng ít nhiều đến hình ảnh chung của thương hiệu. Ngược lại trong

một số trường hợp khác nếu đối tác mua franchise có quá nhiều kinh nghiệm trong lãnh

vực nhà hàng thì lại có xu hướng tự làm theo cách của mình vì nghĩ mình đã q rành.

− Phí nhượng quyền: Chi phí thành lập một cửa hàng Franchise cao hơn một cửa hàng độc



lập do có nhiều chi phí phát sinh. Ví dụ: người mua Franchise phải trả cho chủ thương

hiệu một khoản phí cao, ngồi ra phải trả phí tiếp thị, phí doanh thu hàng tháng.

Nhóm 7



Trang 18



GVHD: TS. Lê Văn Hưng



Trong trường hợp doanh nghiệp mua được quyền thương mại (nhượng quyền

thương mại), do được hưởng sự “an tồn” từ một thương hiệu đã có uy tín mang lại, nên

người mua quyền thương mại phải đóng phí nhượng quyền và chia sẻ một phần lợi nhuận

nhỏ cho chủ thương hiệu theo định kỳ hàng tháng mà thuật ngữ chun mơn gọi là

royalty fee.

− Khó phát huy khả năng sáng tạo riêng: Người mua quyền thương mại còn phải tuân thủ



những quy định chung của cả hệ thống nhượng quyền, ví dụ như phần trang trí nội thất,

thực đơn, đồng phục, giờ hoạt động của cửa hàng phải đồng bộ với các cửa hàng khác

trong hệ thống. Yếu tố này sẽ gây khó chịu cho những doanh nhân đầy ý tưởng sáng tạo

và có nhu cầu chứng minh khả năng điều hành và quản lý doanh nghiệp của họ. Tuy

nhiên, người mua trong một số trường hợp cũng có thể đàm phán với chủ thương hiệu để

thay đổi chi tiết nêu trên cho phù hợp với tình hình thực tế của cửa hàng mình.

Do đó, mua nhượng quyền franchise (quyền thương mại) hay tự xây dựng một mơ

hình kinh doanh với thương hiệu độc lập cho riêng mình là một quyết định tùy thuộc vào

mục đích và nhu cầu của mỗi doanh nhân. Nếu doanh nhân không phải là tp người

thích hợp mua nhượng quyền thì sẽ khơng bao giờ hài lòng và hợp tác tốt với chủ thương

hiệu hay người bán franchise.

Còn chủ thương hiệu thì sẽ khơng bao giờ chấp nhận duy trì hợp đồng nhượng

quyền cho các đối tác luôn “sáng tạo” và không tuân theo những tiêu chuẩn chung của hệ

thống chuỗi cửa hàng. Vì tính đồng nhất có vai trò quyết định trong sự thành bại của một

hệ thống nhượng quyền.

− Khơng có quyền sở hữu thương hiệu mãi mãi: Tất cả những công sức và tiền của mà chủ



cửa hàng Franchise đã bỏ ra để quảng cáo củng cố thêm cho thương hiệu (tài sản quý giá

nhất của doanh nghiệp) đều sẽ thuộc về người chủ thương hiệu. Điều này làm cho những

người mua Franchise lưỡng lự, khơng nhiệt tình đóng phí marketing hay quảng cáo cho

hệ thống Franchise.

Nhóm 7



Trang 19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đặc điểm hoạt động nhượng quyền thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×