Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng hoạt động đại lý thương mại tại Việt Nam

Thực trạng hoạt động đại lý thương mại tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.1. Vai trò hoạt động Đại lý thương mại trong nền kinh tế:

Đại lý là những thương nhân trung gian thường hiểu biết, nắm vững thị trường, pháp luật, tập

quán địa phương và có kinh nghiệm, điều kiện thuận lợi có khả năng thúc đẩy việc giao lưu,

bn bán giữa các bên, hạn chế rủi ro xảy ra và có thể hạn chế chi phí cho bên thuê dịch vụ với

những khâu trung gian khác. Hơn nữa, đại lý là những tổ chức, cá nhân có những điều kiện nhất

định về cơ sở vật chất, nhân viên thực hiện các giao dịch kinh doanh chuyên nghiếp, vì vậy, việc

thực hiện giao dịch thông qua đại lý sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được nhiều chi phí để mở rộng

hoạt động kinh doanh của mình – hình thành mạng lưới buôn bán, tiêu thụ, cung cấp các loại

dịch vụ trên phạm vi rộng, tạo điều kiện mở rộng thị trường. Hoạt động trung gian thương mại

phát triển làm cho thị trường hàng hóa, dịch vụ sơi động hơn, khối lượng hạn hóa lưu thơng tăng

lên, giao lưu bn bán hàng hóa dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và

góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển.

Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hoạt động mua bán hàng giữa nhà sản xuất và người tiêu

dùng có thể được tiến hành theo nhiều phương thức khác nhau. Nhà sản xuất có thể trực tiếp giới

thiệu và bán sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên hoạt động giới thiệu và bán sản phẩm lại

tiêu tốn một nguồn nhân lực khá lớn. Chính vì vậy họ thường phát triển mạng lưới bn bán theo

cách lập một hệ thống các đại lý thương mại, các đại lý này sẽ trở thành cầu nối giữa nhà sản

xuất và người tiêu dùng.

4.2. Thực trạng hoạt động tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, hoạt động đại lý trở nên rất sôi động và phát triển ở nhiều lĩnh vực,

ngành nghề khác nhau như xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng, thuốc lá, rượu bia, nước giải khát…

Hiện tại, Việt Nam chưa có một số liệu điều tra chính thức về số lượng các đại lý nói chung cũng

như số lượng các đại lý trong các lĩnh vực cụ thể. Nếu chỉ xét trong lĩnh vực xăng dầu, 11 doanh

nghiệp đầu mối của Việt Nam đã có khoảng 3.800 đại lý trực thuộc và 240 tổng đại lý, trong đó

các tổng đại lý lại có rất nhiều đại lý trực thuộc khác…Đại lý thương mại ngày càng có vai trò

quan trọng trong hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trên thị trường. Tuy nhiên, cho đến

nay, việc quản lý hoạt động của các đại lý thương mại còn khá lỏng lẻo, bất cập. Tình trạng lãi

làm, lỗ bỏ, mua đi bán lại giữa các đại lý, đẩy giá bán lẻ thị trường tăng lên gây bất ổn về giá, thị

trường thương mại bị xáo động đang là những vấn đề khiến các nhà quản lý chính sách Việt Nam

đau đầu.

Nhìn vào thống kê trên đủ thấy hoạt động đại lý thương mại đang rất phát triển. Không chỉ lĩnh

vực xăng dầu, trong những năm gần đây, hoạt động đại lý còn sinh sơi, nảy nở ở các lĩnh vực,

ngành nghề khác như: khí dầu mỏ hóa lỏng, thuốc lá, rượu, bia, nước giải khát, thuốc tân dược,

sắt thép, xi măng… Phát triển nhanh nhưng lại thiếu quy hoạch và phần lớn số đại lý là các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn rất ít, chủ yếu vay ngân hàng, cơ sở kinh doanh nghèo nàn. Đáng

lo ngại hơn cả là pháp luật quy định về hoạt động đại lý đến nay vẫn còn rất lỏng lẻo.

Luật Thương mại 2005 và một số văn bản pháp luật khác quy định về hoạt động đại lý thương

mại nhưng chỉ thấy các quy định liên quan đến đại lý thương mại của một số mặt hàng như xăng

12



dầu, LPG... trong khi đó, hoạt động đại lý thương mại lại có mặt ở hầu hết các loại hàng hóa trên

thị trường

Các văn bản quy định hiện hành về đại lý tuy đã có nhưng nằm rải rác trong nhiều bộ luật khác

nhau như: Bộ Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ người tiêu dùng…

Do đó, việc rà soát và thống nhất các quy định trong một văn bản là rất cần thiết nhằm khắc phục

những bất cập trong hoạt động và quản lý các đại lý hiện nay.

Hoạt động đại lý thương mại phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực. Đơn cử, khi xảy ra tình

trạng thiếu nguồn hàng cung ứng từ nhà sản xuất thì giữa các đại lý thương mại thường xuất hiện

việc mua đi bán lại với nhau. Việc này tất yếu dẫn đến tăng chi phí tiêu thụ hàng hóa, đẩy giá bán

lẻ tăng cao, gây bất ổn cho thị trường. Ngoài ra, thực tế hiện nay việc mua đi bán lại giữa các đại

lý hay việc ký kết đại lý thương mại chưa đảm bảo quyền lợi của các bên nên đã gây nhiều khó

khăn trong cơng tác quản lý nhà nước.

Một số biểu hiện tiêu cực của hoạt động đại lý tại Việt Nam:

Đại lý vé máy bay: Khi các hãng hàng không tung ra loại vé giá rẻ, đại lý thường nhanh tay đặt,

đăng ký dưới một tên giả. Sau đó, họ đem vé này bán lại cho khách. Vì là vé rẻ, cả đại lý lẫn

khách hàng đều không được đổi lại, nên chọn giải pháp "hô biến" tên hành khách trùng khớp với

tên đăng ký. Để làm được điều này, đại lý tìm cách xin cho khách một tờ giấy chứng nhận mất

chứng minh thư tạm thời, mang tên giả. Không chỉ là việc lách luật để bán được vé, các đại lý đã

tạo nên một yếu tố sơ hở trong đảm bảo an toàn hàng không. Nếu các đối tượng bị truy nã, hoặc

không loại trừ tội phạm quốc tế mà dùng cách này để được lên máy bay thì rất nguy hiểm.

Một vài nghịch lý về giá cả như xăng dầu mặc dù doanh nghiệp nhập khẩu đầu mối kêu lỗ nhưng

vẫn tăng hoa hồng cho đại lý. Hoặc giá bán các loại xe mới của Honda tại các đại lý ủy nhiệm

(Head) thường luôn cao hơn giá bán lẻ đề nghị của Honda.

Một sản phẩm khác cũng thường xuyên "nhảy múa" về giá là thuốc chữa bệnh. Theo thống kê, từ

đầu năm 2012 đến nay, giá thuốc tây trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã ba lần tăng giá. Theo đó,

trong tháng 4-2012, do giá nguyên liệu đầu vào, giá điện, xăng đều tăng nên đã đẩy giá kéo theo

giá thuốc tây cũng như nhiều mặt hàng thiết yếu lên mức giá khiến người dân chóng mặt. Với lý

do là giá nguyên liệu đầu vào tăng nhưng theo Tổng cục Hải quan thì chỉ có một mặt hàng tăng

giá (chiếm chưa đầy 2,5%) với mức tăng là 0,5% trong số 40 mặt hàng ngun liệu được nhập

về. Ðiều đáng nói, tình trạng tăng giá vô tội vạ không chỉ diễn ra tại một vài điểm đơn lẻ mà

ngay cả các hệ thống các trung tâm bán lẻ, bán sỉ cũng như các nhà thuốc bệnh viện giá thuốc

cũng tăng đều khiến hàng triệu người dân ngán ngẫm. Việc tăng giá thuốc hiện nay dường như

đang nằm trong sự "điều khiển" của các doanh nghiệp dược phẩm chứ khơng còn nằm trong tầm

kiểm soát của cơ quan nhà nước.

Nếu như một số sản phẩm mới mỗi lần tung ra thị trường lại "nhảy múa" về giá thì cũng có rất

nhiều sản phẩm có giá rất ổn định, được nhà sản xuất bán theo đúng giá niêm yết cho dù có qua

các đại lý ủy quyền như máy giặt, điều hòa, hàng điện lạnh, gia dụng... Ðiều này khiến dư luận

đặt ra câu hỏi, chức năng kiểm soát giá cả thị trường của các cơ quan chức năng thực hiện đến

đâu? Ðể giải quyết tình trạng này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần có những biện pháp,

chế tài mạnh tay để người dân khơng phải "gánh" những chi phí khơng đáng có.

13



Hệ thống quản lý đại lý thương mại khơng chỉ quá lỏng, mà lại có chỗ quá chặt, điển hình là

thuế GTGT. Trong trường hợp bên làm đại lý thương mại nhận lô hàng đã bao gồm thuế GTGT

và được chiết khấu thương mại, khi bên đại lý bán hàng cho khách lại phải xuất hóa đơn thuế

GTGT. Như vậy, vơ hình trung lơ hàng đó phải chịu hai lần thuế GTGT, đó là chưa tính đến việc

các đại lý bán hàng cho nhau. Đây chính là căn nguyên đẩy giá hàng lên cao.

Luật Thương mại có quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý trong trường hợp

hai bên không thỏa thuận về thời hạn trong hợp đồng. Tuy nhiên, luật lại không quy định trường

hợp bên sản xuất hàng hóa ký hợp đồng với bên làm đại lý thường yêu cầu không được bán mặt

hàng cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Trong trường hợp này, nếu đại lý vi phạm thì việc đưa ra

giải quyết về pháp lý thường rất khó thực hiện vì rất tốn kém, cơ quan quản lý nhà nước thì

khơng can thiệp được vì đó là tranh chấp thương mại thông thường.

Luật thương mại hiện nay cho phép các bên có phạm vi quyền rất lớn nên khi ký kết các hợp

đồng thương mại, các bên thường đưa ra thỏa thuận nhằm hạn chế tối đa những rủi ro cho mình

nên rất khó cho doanh nghiệp nhỏ khi tham gia làm đại lý thương mại lần đầu. Trong quy định

pháp lý hiện nay cũng chưa phân biệt rõ ràng đại lý thương mại mang tính chất trung gian, nghĩa

là đại lý khơng phải là chủ sở hữu chính thức của hàng hóa và đại lý mua đứt bán đoạn.

5. Thảo luận

Câu hỏi: Hiện có hoạt động “Ngân hàng Đại lý” và cũng có định nghĩa về Ngân hàng đại lý trong

thông tư số 41/2011/TT-NHNN ngày 15 tháng 12 năm 2011 (Hướng dẫn nhận biết và cập nhật

thông tin khách hàng trên cơ sở rủi ro phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền): Hoạt động ngân

hàng đại lý là việc cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và các dịch vụ khác của một ngân

hàng tại một quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể (sau đây gọi là Ngân hàng đại lý) cho một ngân hàng

khác tại một quốc gia, vùng lãnh thổ khác (sau đây gọi là Ngân hàng đối tác). Vậy Ngân hàng đại

lý là mô hình đại lý thương mại gì?

Một số tình huống tranh chấp trong quan hệ đại lý thương mại:

 Tình huống 1: Công ty TNHH thực phẩm nước giải khát A khởi kiện đại lý bán hàng:

Hộ kinh doanh của chị Hương là đại lý bán sản phẩm cho công ty A từ tháng 01/2003.

Cơng ty A có ký hợp đồng kinh tế số 005/2005 ngày 1.2.2005 với chị Hương là hộ có đăng

ký kinh doanh, để đại lý, bán sản phẩm cho Công ty A, với số lượng hàng gồm các sản phẩn là

nước tinh lọc 3000 thùng trong một tháng tính theo thời điểm từ 1.2.2005 đến 30.4.2005. Còn từ

1.5.2005 đến 31.1.2006 mỗi tháng chị Hương phải tiêu thụ 2400 thùng 1 tháng. Giá cả theo báo

giá hàng tháng do cơng ty kèm theo chương trình khuyến mại là có chiết khấu cho đại lý.

Sau khi ký hợp đồng chị Hương đã thực hiện đến 01/05/2005 chị nghỉ sinh con nên chị có

cơng văn gửi đến cơng ty A xin được nghỉ. Ngày 1.6.2005 cơng ty có Cơng văn số 024 gửi cho

chị Hương yêu cầu, chị thực hiện hết tháng 6.2005 và thực hiện tháng 5.2006 nhưng chị Hương

chỉ thực hiện hết tháng 6.2005 còn tháng 5.2006 chị không thực hiện. Ngày 27.6.2005 chị đã gửi

tiếp công văn cho Cơng ty và cơng ty A khơng có ý kiến gì nữa.

Tuy nhiên, ngày 27.4.2006 Cơng ty A đã có đơn khởi kiện yêu cầu chị Hương phải bồi

thường cho Cơng ty là 212.520.000 đồng vì khơng thực hiện tiếp hợp đồng.

14



Về phía chị Hương trình bày rằng mình không vi phạm hợp đồng và yêu cầu công ty A chi trả

cho chị 1 khoản tiền cho thời gian làm đại lý của mình. (Ở đây là 1.5 năm)

TỊA ÁN XÉT XỬ:

Xét thấy Cơng ty A có ký hợp đồng kinh tế số 005/ĐL/2005 với chị Hương là có thật như 2

bên đã xác nhận và phía chị Hương khơng tiếp tục thực hiện hợp đồng là có. Căn cứ vào các điều

khoản của hợp đồng 2 bên ký kết thì khơng quy định thời hạn khiếu nại, khi xảy ra tranh chấp.

Vì thế phải căn cứ vào điều 318 Luật Thương mại đã quy định và tại khoản 3 điều 318 có nêu

thời hạn khiếu nại là 9 tháng kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng.

Như vậy từ tháng 7.2005 chị Hương không thực hiện nghĩa vụ nhưng bên Công ty A cũng khơng

có cơng văn nào u cầu chị Hương thực hiện tiếp hợp đồng trên, như vậy phía cơng ty đã đồng

ý đơn đề nghị dừng hợp đồng từ 1/6/2005 và từ bỏ quyền khiếu nại, đối với quyền lợi của công

ty. Căn cứ điều 426 Bộ luật dân sự 2005 thì khi một bên muốn chấm dứt hợp đồng phải làm bằng

văn bản gửi cho bên kia biết trước, nếu khơng thơng báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Luật còn quy định thời điểm chấm dứt hợp đồng là từ khi bên kia nhận được thông báo và vụ án

này công ty đã nhận được thông báo của chị Hương xin nghỉ đẻ, nên ngày 1/6/2005 cơng ty có

cơng văn số 24 u cầu chị Hương thực hiện. Hết tháng 6/2005 và tháng 5/2006 và chị Hương

thực hiện tháng 6/2005 còn tháng 5/2006 khơng nằm trong hợp đồng nên chị không thực hiện.

Nay công ty buộc chị Hương phải thực hiện chỉ tiêu 5/2006 là không có căn cứ. Bởi vậy nghĩ nên

bác yêu cầu khởi kiện của Công ty A.

Yêu cầu của chị Hương về khoản bồi thường là khơng có căn cứ theo khoản 3 điều 177 LTM

2005 về thời hạn đại lý : trường hợp hợp đồng đại lý đươc chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên

đại lý thì bên đại lý khơng có quyền u cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã

làm đại lý cho bên giao đại lý.

Căn cứ điều 29, điều 58, 59, 60, 131, 245 Bộ luật tố tụng dân sự 2004.

Căn cứ điều 388, 426 Bộ luật dân sự 2005.

Căn cứ điều 166, 167,177, 168, 318 Luật Thương mại sửa đổi năm 2005

 Tình huống 2: Cơng ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam khởi kiện đại lý

Xét bị đơn xác nhận còn thiếu nguyên đơn 545.379.200đ00 cùng 14.871 két vỏ chai chưa

thanh tốn nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu nguyên đơn .

Xét bị đơn có yêu cầu phản tố đòi nguyên đơn phải trả tiền chiết khấu 572.280.000đ00 ...

cấn trừ nghĩa vụ hai khoản nêu trên nguyên đơn còn phải giao lại cho bị đơn tiền chiết khấu

572.280.000đ00 -545.379.200đ00 = 26.900.800đ00, đồng thời bị đơn phải giao trả cho nguyên

đơn 14.871 két vỏ chai..

Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ trên số

tiền nước còn thiếu 545.379.200đ00 x 0,975% x 51,9 tháng =377.538.751đ00 là không có cơ sở

chấp nhận nên bác yêu cầu của nguyên đơn bởi tiền chiết khấu nguyên đơn đã không thanh toán

cho bị đơn, nghĩa vụ hai bên phải thực hiện song song .

Bản án số 470 /2006/KDTM-ST Ngày : 18/09/2006 v/v: tranh chấp hợp đồngđại lý

Ngày 18 tháng 09 năm 2006 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

xét xử sơ thẩm cơng khai vụ án thụ lý số 166/KTST ngày 11 tháng 12 năm 2004 về việc tranh

15



chấp “ Hợp đồng đại lý “ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/QĐXX-ST ngày 11 tháng

09 năm 2006 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH NƯỚC GIẢI KHÁT COCACOLA VIỆT NAM

Địa chỉ: Km17 Xa lộ Hà Nội, phường Linh Trung, quận Thủ Đức có ơng Phạm Quốc Tuấn

đại diện theo uỷ quyền.

Bị đơn: BÀ ĐÒAN THỊ TÚ OANH

Địa chỉ: 191 Quang Trung, phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM

Nguyên bị đơn đều có mặt

NHẬN THẤY

Ngun đơn Cơng ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola ViệtNam trình bày: Ngày 07/06/1996

và 08/07/1996 nguyên bị đơn ký hợp đồng đại lý độc quyền, ngày 11/10/1997 ký phụ lục kèm

hợp đồng đại lý có nội dung: bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh ký hợp đồng đại lý độc quyền với

nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam, theo hợp đồng bà Oanh được

công ty cocacola chỉ định làm đại lý để tiếp thị và phân phối sản phẩm do công ty cocacola sản

suất trong khu vực kinh doanh đã được xác định, đổi lại bà Oanh được hưởng hoa hồng phân

phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có nghĩa vụ là mua hàng và thanh toán các khoản đúng

hạn theo thoả thuận, trong quá trình kinh doanh bà Oanh đã không thực hịện việc trả tiền đúng

hạn nên nguyên đơn đã có thơng báo xác nhận số dư nợ ngày 21/09/2005 bà Oanh còn nợ

557.879.200đ và 15.271 két vỏ chai, sau đó bà Oanh trả được một ít tiền và vỏ chai, còn lại

545.379.200đ cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh tốn, nay ngun đơn kiện bị đơn đòi số tiền

nợ mua nước ngọt còn thiếu và và tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trên số tiền mua nước

ngọt còn thiếu từ tháng 21/09/2001 đến nay ngày 18/09/2006 cụ thể là 545.379.200đ x 0,975% x

51,9 tháng =318.515.057đ, tổng cộng nợ và lãi là 863.894.287đ và 14.871 két vỏ chai x

63.200đ/két = 939.847.200đ. Chứng cứ do phía nguyên đơn xuất trình là xác nhận nợ của bà

Oanh tháng 02/1999 , 07/1999 ngày 21/09/2001, 27/09/2001.

Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh trình bày: năm 1996 bà có ký kết hợp đồng đại lý cùng nguyên

đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola ViệtNam để mua nước ngọt cocacola, ngày

11/10/1997 bị đơn ký tiếp hợp đồng đại lý độc quyền với nguyên đơn, bản hợp đồng này được

đính kèm vào hợp đồng đại lý nhưng bị đơn không được giữ, xác nhận có ký xác nhận nợ tháng

02/1999, 07/1999 ngày 21/09/2001, 27/09/2001 do nguyên đơn giao, theo bị đơn việc xác nhận

nợ đó là xác nhận nghĩa vụ từ 01 bên, tính đến năm 2001 xác nhận có nợ nguyên đơn số tiền

545.379.200đ cùng 14.871 két vỏ chai nhưng khi xác nhận nợ bị đơn có yêu cầu nguyên đơn cấn

trừ nghĩa vụ về phần tiền chiết khấu, giảm giá theo điều 5 của hợp đồng đại lý ngày 11/10/1997

nhưng nguyên đơn không thực hiện. Nay bị đơn yêu cầu đình chỉ vụ kiện vì đây là hợp đồng

kinh tế ký kết năm 1997 và chấm dứt ngày 22/08/1999 cho đến nay chưa thanh lý hợp đồng kinh

tế này, nếu Tồ vẫn tiến hành xét xử bị đơn có u cầu phản tố đòi ngun đơn phải tính tiền

chiết khấu trả bằng sản phẩm là 572.280.000đ, căn cứ vào số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do

nhân viên công ty cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc

quyền .

16



Trước yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý vì hợp đồng đại lý đã chấm dứt,

hai bên đã giải quyết xong vấn đề chiết khấu nên hai bên mới thống nhất ký xác nhận công nợ

ngày 21/09/2001.

XÉT THẤY

Giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ mua bán hàng nước ngọt thông qua hợp đồng đai lý,

và hợp đồng đại lý độc quyền ký vào năm 1996 kèm phụ lục hợp đồng ký ngày 11/10/1997. Theo

hợp đồng bà Oanh được công ty Cocacola chỉ định làm đại lý để tiếp thị và phân phối sản phẩm

do công ty Cocacola sản suất trong khu vực kinh doanh đã được xác định, đổi lại bà Oanh được

hưởng hoa hồng phân phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có nghĩa vụ là mua hàng và

thanh tốn các khoản đúng hạn theo thoả thuận.

Trong quá trình kinh doanh bà Oanh không thực hịện việc trả tiền đúng hạn nên ngun đơn

đã có thơng báo xác nhận số dư nợ ngày 21/09/2004 bà Oanh còn nợ 557.879.200đ và 15.271két

vỏ chai, sau đó bà Oanh trả được một ít tiền và vỏ chai, còn lại 545.379.200đ cùng 14.871 két vỏ

chai chưa thanh tốn nay ngun đơn kiện bị đơn đòi số tiền này.

Xét: Về yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn số tiền nợ mua nước ngọt còn thiếu

545.379.200đ và 14.871 két vỏ chai, đây không phải là việc đòi nợ đơn thuần mà việc xác nhận

nợ này trên cơ sở thực hiện hợp đồng đại lý 1996 kèm phụ lục ngày 11/10/1997 Toà án yêu cầu

nguyên đơn xuất trình hợp đồng đại lý và hợp đồng đại lý độc quyền ngun đơn khai có nhưng

khơng xuất trình được bản chính .

Phía bị đơn xác nhận là đúng còn thiếu nguyên đơn 545.379.200đ cùng 14.871 két vỏ chai

chưa thanh toán nhưng phản tố cho rằng theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền nguyên đơn

còn thiếu chưa chiết khấu tiền nước ngọt 1000đ/két nước nên đòi nguyên đơn phải tính tiền chiết

khấu trả bằng sản phẩm là 572.280.000đ, căn cứ vào số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do nhân

viên công ty Cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền.

Xét bị đơn xác nhận còn thiếu nguyên đơn 545.379.200đ cùng 14.871 két vỏ chai chưa thanh

toán nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu nguyên đơn .

Xét bị đơn có u cầu phản tố đòi ngun đơn phải trả tiền chiết khấu 572.280.000đ: Theo

như khai nhận của ngun đơn thì cơng ty cocacola chỉ định bị đơn bà Oanh làm đại lý để tiếp

thị và phân phối sản phẩm do công ty cocacola sản xuất trong khu vực kinh doanh đã được xác

định, đổi lại bà Oanh được hưởng hoa hồng phân phối và các quyền lợi khác đồng thời phải có

nghĩa vụ là mua hàng và thanh toán các khoản đúng hạn theo thoả thuận, điều này được thể hiện

cụ thể tại điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền nguyên đơn phaỉ chiết khấu cho bị đơn

1000đ/két nước trên số bán vượt chỉ tiêu, tại thư nhắc nợ lần 2 ngày 21/06/2000, các biên bản

làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 21/09/2001, 13/05/2004 do nguyên đơn xuất trình thể

hiện bị đơn đềũ có u cầu ngun đơn phải tính tiền chiết khấu từ tháng 10/1997, các biên bản

làm việc giữa nguyên đơn và bị đơn ngày 21/09/2001, 13/05/2004 bị đơn đều yêu cầu nguyên

đơn tính tiền chiết khấu từ tháng 10/1997, nhưng ngun đơn khơng thực hiện, tại phiên tồ

ngun đơn cho rằng đã giải quyết xong nên hai bên mới xác nhận công nợ, nhưng nguyên đơn

không chứng minh được phần đã giải quyết xong, như vậy theo hợp đồng đại lý thì hai bên còn

17



tranh chấp các điều khoản của hợp đồng đại lý độc quyền, không đơn thuần chỉ là phần nợ mà bị

đơn còn thiếu, điều đó cho thấy hợp đồng đại lý giữa hai bên chưa thanh lý, chưa có thoả thuận

nào giữa hai bên đồng ý chấm dứt hợp đồng đại lý và chuyển sang nợ, năm 1999, 2001 khi

nguyên đơn yêu cầu bị đơn xác nhận nợ thì ngược lại bị đơn đòi ngun đơn tính tiền chiết khấu,

nhưng ngun đơn khơng thực hiện, để vụ việc kéo dài từ đó đến nay, nay nếu chấp nhận yêu cầu

của nguyên đơn thì cũng phải tính đến nghĩa vụ của nguyên đơn phải thực hiện tính tiền chiết

khấu cho bị đơn theo điều 5 của hợp đồng đại lý độc quyền mà hai bên đã ký, cụ thể theo bị đơn

số tiền chiết khấu là 572.280.000đ, trên cơ sở số liệu mua hàng trên sổ mua hàng do nhân viên

công ty cocacola ký nhận giao hàng và giao tiền. Phía nguyên đơn cho rằng đã tính tiền chiết

khấu cho bị đơn xong nên mới có việc ký xác nhận nợ nhưng nguyên đơn không xuất trình được

các số liệu hàng đã giao, bị đơn đã nhận, đã thanh toán để dẫn đến số liệu tiền còn thiếu cũng

như khơng chứng minh đã tính tiền chiết khấu cho bị đơn, nên buộc nguyên đơn phải thanh toán

cho bị đơn tiền chiết khấu 572.280.000đ. Như vậy cấn trừ nghĩa vụ hai khoản nêu trên nguyên

đơn còn phải giao lại cho bị đơn tiền chiết khấu 572.280.000đ -545.379.200đ = 26.900.800đ,

đồng thời bị đơn phải giao trả cho nguyên đơn 14.871 két vỏ chai.

Xét việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ trên số

tiền nước còn thiếu 545.379.200đ00 x 0,975% x 51,9 tháng =377.538.751đ là khơng có cơ sở

chấp nhận nên bác yêu cầu của nguyên đơn bởi tiền chiết khấu ngun đơn đã khơng thanh tốn

cho bị đơn, nghĩa vụ hai bên phải thực hiện song song .

Về án phí : Nguyên bị đơn phải nộp tiền án phí trên phần phải trả, ngồi ra ngun đơn phải

nộp tiền án phí trên số tiền bị bác, cả hai được cấn trừ tiền án phí tạm nộp, số còn lại phải nộp

theo qui định .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự , Điều 116,118.119, khoản 4 Điều 122,123 Luật

thương mại năm 1997, Nghị định 70/CP ngày 12/09/1997 của Chính phủ qui định về chế độ án

phí, lệ phí Tồ án và Thơng tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/06/1997 của Toà án nhân dân tối cao

–Viện Kiểm sát nhân dân tối cao-Bộ tư pháp-Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án

về tài sản.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát

Cocacola Việt Nam và toàn bộ phản tố của bị đơn xử :

1/ Bác yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam đòi bị

đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải trả số tiền lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ là 318.515.057đ

(ba trăm mười tám triệu năm trăm mười lăm ngàn không trăm năm mươi bảy ngàn đồng).

2/ Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát

Cocacola Việt Nam số tiền mua nước ngọt còn thiếu là 545.379.200đ00 (năm trăm bốn mươi lăm

triệu ba trăm bảy mươi chín ngàn hai trăm đồng) và 14.871 (mười bốn ngàn tám trăm bảy mươi

mốt ) két vỏ chai.

18



3/ Nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam phải trả cho bị đơn Bà

Đòan Thị Tú Oanh số tiền chiết khấu còn thiếu là 572.280.000đ00 (năm trăm bảy mươi triệu hai

hai trăm tám mươi ngàn đồng)

4/ Sau khi cấn trừ hai khoản 2 và 3 nêu trên thì ngun đơn Cơng ty TNHH Nước Giải Khát

Cocacola Việt Nam còn phải trả cho bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh số tiền chiết khấu còn thiếu là

26.900.800đ00 (hai mươi sáu triệu chín trăm ngàn tám trăm đồng ) và bị đơn Bà Đòan Thị Tú

Oanh phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam 14.871(mười

bốn ngàn tám trăm bảy mươi mốt) két vỏ chai.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu nếu bên thi hành án không trả đủ số tiền nêu

trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải cho bên được thi hành án số tiền lãi tính theo

mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành

án .

5/Án phí Dân sự sơ thẩm :

Nguyên đơn Công ty TNHH Nước Giải Khát Cocacola Việt Nam phải nộp là 32.001.050đ00

(ba mươi hai triệu không trăm lẻ một ngàn không trăm năm chục đồng) được cấn trừ tiền tiền

tạm nộp án phí Dân sự sơ thẩm 9.453.792đ00 (chín triệu bốn trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm

chín mươi hai đồng) theo biên lai thu số 003656 ngày 04-11-2004 của Thi hành án Dân sự TP.Hồ

chí Minh còn phải nộp 22.547.258đ00 (hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi bảy ngàn hai trăm

năm mươi tám đồng )

Bị đơn Bà Đòan Thị Tú Oanh phải nộp là 18.907.584đ00 (mười tám triệu chín trăm lẻ bảy

ngàn năm trăm tám mươi tư đồng) được cấn trừ tiền tạm nộp án phí phản tố 9.8ˆ99.970đ00 (chín

triệu tám trăm chín mươi chín ngàn chín trăm bảy mươi đồng) theo biên lai thu số 004939 ngày

26-05-2005 của Thi hành án Dân sự TP.Hồ chí Minh còn phải nộp 9.007.614đ00 (chín triệu

khơng trăm lẻ bảy ngàn sáu trăm mười bốn ngàn đồng)



Tài liệu tham khảo.

1. Luật doanh nghiệp 2005

2. Luật dân sự 2005

3. Luật thương mại 2005

4. http://www.vibonline.com.vn/



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng hoạt động đại lý thương mại tại Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×