Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động Đại lý Thương Mmại

Các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động Đại lý Thương Mmại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Căn cứ vào mức độ trao quyền, đại lý thương mại được phân thành đại lý hoa hồng, đại lý bao

tiêu và đại lý độc quyền.

-



Đại lý hoa hồng là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán hàng hoặc cung

ứng dịch vụ theo giá mua, giá bán do bên giao đại lý ấn định để được hưởng hoa hồng.

Mức hoa hồng được tính theo tỷ lệ phần trăm do các bên thoả thuận trên giá mua, giá bán

hàng hố.



-



Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một

khối lượng hàng hóa hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý. Trong hình

thức này, bên giao đại lý ấn định giá giao đại lý, bên đại lý quyết định giá bán cho khách

hàng, do đó, thù lao mà bên đại lý được hưởng là mức chênh lệch giá giữa giá mua, giá

bán thực tế so với giá mua, giá bán do bên giao đại lý quy định.



-



Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý

chỉ giao cho một đại lý thu mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc

một số loại dịch vụ nhất định. Hình thức đại lý độc quyền có thể là trên quy mơ tồn quốc

hay quy mơ khu vực, ví dụ như: khu vực Đơng Nam Á.



Căn cứ vào phương thức tổ chức, đại lý thương mại được phân thành tổng đại lý và đại lý con.

Tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một

hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho bên giao

đại lý. Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lý trực thuộc hoạt động dưới

sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng đại lý. Khi một thương nhân có nhu cầu trở

thành đại lý cho một doanh nghiệp thì việc lựa chon loại hình đại lý nào là phụ thuộc vào nhu

cầu của doanh nghiệp đó và điều này được nêu rõ trong hợp đồng đại lý.

Tùy thuộc vào việc lựa chọn hình thức đại lý và sự thỏa thuận giữa bên giao đại lý và bên đại lý

mà bên đại lý có thể thực hiện quyền ấn định giá bán đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đó.

Hiện nay, theo Luật thương mại Việt Nam 2005, tại điều 169 có quy định về các hình thức đại lý

bao gồm: đại lý bao tiêu; đại lý độc quyền; tổng đại lý mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; và

các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận. Luật TM năm 1997 có quy định về hình thức

đại lý hoa hồng, trong khi luật TM năm 2005 bỏ qua hình thức này. Xét rằng, việc thiết lập các

hình thức đại lý là do thỏa thuận của các bên, do đó Luật Thương mại khơng nên có quy định về

hình thức đại lý cụ thể mà cần tạo hành lang pháp lý giúp mở rộng các hình thức đại lý để luật đi

vào thực tế.

2.2.



Hợp đồng đại lý



Theo Điều 168 Luật Thương mại 2005 có quy định về hình thức hợp đồng đại lý như sau: “Hợp

đồng đại lý phải được lập thành bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương

đương.”



4



Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản

bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp

luật.”

Hợp đồng đại lý là hợp đồng dùng để xác định quyền và nghĩa vụ của bên đại lý và bên giao đại

lý. Đây là một loại hợp đồng song vụ, tức quan hệ đại lý tồn tại song song hai quan hệ hợp đồng

giữa bên giao đại lý và bên đại lý, bên đại lý và bên thứ ba. Sau khi hợp đồng đại lý thương mại

giữa bên giao đại lý và bên đại lý có hiệu lực, bên đại lý phải ký kết, thực hiện hợp đồng mua,

bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ với bên thứ ba. Quan hệ giữa bên đại lý và bên thứ ba chịu sự

điều chỉnh của các quy định về mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Bên đại lý nhân danh chính

mình và phải tự chịu trách nhiệm với bên thứ ba khi giao kết, thực hiện hợp đồng. Trong quá

trình hoạt động, nếu bên đại lý thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào ví dụ như: thay

hàng thật của công ty bằng hàng giả, háng nhái để kiếm lời, thực hiện hành vi cạnh tranh không

lành mạnh với các đại lý khác,… thì bên đại lý sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp

luật về hành vi do mình gây ra.

Mặc dù bên đại lý là chủ thể trực tiếp thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá với bên thứ 3 nhưng

theo quy định của luật Thương mại 2005 thì bên giao đại lý vẫn là chủ sở hữu của hàng hoá và

tiền giao cho bên đại lý. Do đó bên giao đại lý cũng phải chịu trách nhiệm trước khách hàng và

trước pháp luật về chất lượng của hàng hoá trừ trường hợp chất lượng hàng hoá hư hỏng, hết hạn

sử dụng… là do lỗi của bên đại lý.

2.3.



- Quyền và nghĩa vụ bên giao đại lý và bên đại lý



Khi một doanh nghiệp có ý định mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm của mình dưới hình

thức đại lý thương mại hoặc cá nhân, tổ chức nào có ý định trở thành đại lý của một doanh

nghiệp để nhận thù lao thì cần tìm hiểu rõ các quy định của pháp luật về đại lý thương mại để có

thể bảo vệ quyền lợi của mình ở mức tối ưu nhất. Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, quyền

và nghĩa vụ của bên giao đại lý và bên đại lý được quy định như sau:

2.3.1. Quyền của bên giao đại lý

Quyền của bên giao đại lý được quy định tại Điều 172 Luật Thương mại 2005 như sau:

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các quyền sau đây:

1. Ấn định giá mua, giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ đại lý cho khách hàng;

2. Ấn định giá giao đại lý;

3. Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy định của pháp luật;

4. Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồng đại lý;

5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý.



5



2.3.2. Nghĩa vụ của bên giao đại lý

Nghĩa vụ của bên giao đại lý được quy định tại Điều 173 Luật thương mại 2005 như sau:

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các nghĩa vụ sau đây:

1. Hướng dẫn, cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho bên đại lý thực hiện hợp đồng đại lý;

2. Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của

đại lý cung ứng dịch vụ;

3. Trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại lý;

4. Hồn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng để bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng

đại lý;

5. Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại lý, nếu nguyên nhân của

hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của mình gây ra.

2.3.3. Quyền của bên đại lý

Quyền của bên đại lý được quy định tại Điều 174 Luật Thương mại 2005 như sau:

Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có các quyền sau đây:

1. Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ trường hợp quy định tại

khoản 7 Điều 175 của Luật này;

2. Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý; nhận lại tài sản dùng để bảo

đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;

3. Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấp thơng tin và các điều kiện khác có liên quan để

thực hiện hợp đồng đại lý;

4. Quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng đối với đại lý bao tiêu;

5. Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại lý mang lại.

2.3.3. Nghĩa vụ của bên đại lý

Nghĩa vụ của bên đại lý được quy định tại Điều 175 Luật Thương mại 2005 như sau:

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại lý có các nghĩa vụ sau đây:

1. Mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ

do bên giao đại lý ấn định;

2. Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng với bên giao đại lý;

3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật;

4. Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lý bán; giao hàng mua đối với đại lý

mua; tiền cung ứng dịch vụ đối với đại lý cung ứng dịch vụ;

6



5. Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trước khi giao đối với đại lý mua; liên

đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ

của đại lý cung ứng dịch vụ trong trường hợp có lỗi do mình gây ra;

6. Chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tình hình hoạt động đại lý với bên

giao đại lý;

7. Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý

với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định thì phải tn thủ quy

định của pháp luật đó.

2.4.



Thời hạn đại lý



Trong hợp đồng đại lý, các bên có thể thỏa thuận về thời hạn hiệu lực của hợp đồng đại lý. Nếu

bên nào tự ý chấm dứt hợp đồng trước thời hạn này thì phải bồi thường cho bên còn lại. Giá trị

của khoản bồi thường này sẽ được xác định dựa trên các thiệt hại mà việc chấm dứt hợp đồng

trước thời hạn gây ra.

Luật Thương mại 2005 quy định một số trường hợp chấm dứt hợp đồng đại lý tại Điều 177 như

sau:

1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lý

nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho

bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.

2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy

định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản

tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó.

Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý

cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý

dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời

gian nhận đại lý.

3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý

khơng có quyền u cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên

giao đại lý.

Thấy rằng, thời hạn đại lý quy định tại điều 177 LTM chỉ quan tâm đến bên chấm dứt, không

quan tâm đến lỗi. Điều này là không hợp lý, dễ dẫn đến tình trạng bên giao đại lý dễ dàng lạm

dụng để ép bên đại lý không được làm đại lý nữa và ảnh hưởng đến quyền của bên đại lý. Ngoài

ra, giá trị bồi thường là một tháng đại lý trung bình theo năm, khơng đủ lớn để ràng buộc trách

nhiệm giữa bên giao đại lý và bên nhận đại lý.

Để làm rõ hơn về khái niệm một tháng thù lao đại lý trung bình, ví dụ sau được đưa ra:

Đại lý B đã làm đại lý cho công ty A trong thời hạn 3 năm với mức thù lao như sau:

7



-



Năm 2010: 20 triệu/tháng;



-



Năm 2011: 35 triệu/tháng;



-



Năm 2012: 15 triệu/tháng.



Trong hợp đồng đại lý giữa công ty A và đại lý B không nêu rõ về thời hạn chấm dứt công việc

đại lý của đại lý B. Nay công ty A đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng với đại lý B. Thì cơng ty A

phải bồi thường cho đại lý B một khoản bằng:

1 tháng thù lao trung bình = (20+35+15)/3 = 23,3 triệu đồng.

2.5.



Thù lao đại lý



Thù lao trong hoạt động đại lý là một mấu chốt rất quan trọng trong hợp đồng đại lý bởi nó

khơng chỉ là điều kiện giúp bên đại lý thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình mà còn là căn cứ để

các bên xác định mức bồi thường khi hợp đồng chấm dứt.

Điều 171 Luật Thương mại 2005 quy định như sau về thù lao đại lý:

1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thù lao đại lý được trả cho bên đại lý dưới hình thức hoa

hồng hoặc chênh lệch giá.

2. Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ cho

khách hàng thì bên đại lý được hưởng hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán

hàng hóa hoặc giá cung ứng dịch vụ.

3. Trường hợp bên giao đại lý khơng ấn định giá mua, giá bán hàng hố hoặc giá cung ứng dịch

vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý cho bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh

lệch giá. Mức chênh lệch giá được xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung

ứng dịch vụ cho khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý.

4. Trường hợp các bên không có thoả thuận về mức thù lao đại lý thì mức thù lao được tính như

sau:

a) Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó;

b) Trường hợp khơng áp dụng được điểm a khoản này thì mức thù lao đại lý là mức thù lao trung

bình được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ mà bên giao đại lý đã trả cho các đại lý khác;

c) Trường hợp không áp dụng được điểm a và điểm b khoản này thì mức thù lao đại lý là mức

thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.

Đưa một ví dụ để làm rõ quy định này của Luật thương mại 2005: Công ty A chuyên sản xuất

sữa bột. Cơng ty A và đại lý B có ký với nhau một hợp đồng đại lý theo đó đại lý B sẽ trở thành

đại lý phân phối, bán hàng cho công ty A. Trong quý I năm 2012, công ty A giao cho đại lý B lô

hàng 800 hộp sữa. Có 2 trường hợp xảy ra:



8



Thứ nhất: Cơng ty A định giá sẵn cho đại lý B là đại lý phải bán ra thị trường với mức giá

200.000đ/hộp và mức hoa hồng là 5% trên tổng doanh thu. Vậy thù lao đại lý B được hưởng:

200.000 x 800 x 5% = 8.000.000đ.

Thứ hai: Công ty A chỉ định giá bán cho đại lý B là 200.000đ/hộp mà không quy định giá bán ra

thị trường. Đại lý B bán ra với mức giá 205.000đ/hộp. Vậy thù lao đại lý B được hưởng là:

(205.000 – 200.000) x 800.000 = 4.000.000đ.

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc thanh tốn tiền hàng, tiền cung ứng dịch vụ và thù lao

đại lý được thực hiện theo từng đợt sau khi bên đại lý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng

hàng hoá hoặc cung ứng một khối lượng dịch vụ nhất định (Điều 176 Luật Thương mại 2005 về

Thanh toán trong đại lý).

3. So sánh Đại lý thương mại với các hình thức trung gian thương mại khác và với hoạt

động nhượng quyền thương mại

3.1.



So sánh Đại lý thương mại với các hình thức trung gian thương mại khác



Tiêu

chí



Đại

diện

thương nhân



cho Mơi giới thương

Ủy thác thương mại

mại



Bản

chất

pháp





Là hành vi thực

hiện công việc theo

sự ủy nhiệm để

hưởng thù lao



Là hoạt động mang

tính dịch vụ thương

mại, nhằm thực

hiện cơng việc theo

sự ủy quyền và có

hưởng thù lao



Chủ

thể



Bên đại diện và bên

giao đại diện đều

phải là thương

nhân. Trong đó:



Bên mơi giới và Bên ủy thác và bên Bên giao đại lý và

bên được môi giới. nhận ủy thác. Trong đó: bên đại lý đều phải là

Trong đó:

- Bên nhận ủy thác phải thương nhân.

- Bên môi giới phải là thương nhân kinh

là thương nhân, có doanh mặt hàng phù

đăng ký kinh doanh hợp với hàng hóa được

để thực hiện dịch ủy thác.

vụ môi giới thương - Bên ủy thác không

mại và không nhất nhất thiết là thương

thiết phải có ngành nhân

nghề đăng ký kinh

doanh trùng với

ngành nghề ĐKKD

của các bên được

mơi giới.



- Bên giao đại diện

có quyền thực hiện

những hoạt động

thương mại nhất

định.

- Bên đại diện thực

hiện hoạt động đại

diện một cách

chuyên nghiệp



Là quan hệ mang tính

chất dịch vụ thương

mại, thể hiện rõ quan

hành vi mua hộ, bán hộ

để hưởng thù lao



Đại lý thương mại

Là quan hệ mang tính

chất dịch vụ thương

mại, thể hiện qua

hành vi mua hộ, bán

hộ để hưởng thù lao



9



- Bên được mơi giới

có thể là thương

nhân hoặc không.



cách

pháp

lý khi

giao

dịch

với

bên

thứ ba



Bên đại diện sẽ

nhân danh bên giao

đại diện khi giao

dịch và giao kết

hợp đồng với người

thứ ba



Bên mơi giới nhân

danh chính mình để

quan hệ với các bên

được mơi giới, nói

cách khác là mỗi

bên đều nhân danh

tư cách pháp nhân

của chính mình.



Bên nhận ủy thác nhân Bên đại lý nhân danh

danh chính mình khi chính mình trong giao

giao dịch với bên thứ dịch với bên thứ ba.

ba



Nội

dung

hoạt

động



Do các bên tự thỏa

thuận, bên trong đại

diện có thể thực

hiện một phần hoặc

toàn bộ các hoạt

động thương mại

thuộc phạm vi hoạt

động của bên giao

đại diện



Gồm nhiều hoạt

động, như bên môi

giới giúp các bên

trong việc gặp

nhau, đàm phán, ký

kết hợp đồng



Bao gồm việc giao kết,

thực hiện hợp đồng ủy

thác giữa bên ủy thác

và bên nhận ủy thác và

giao kết, thực hiện hợp

đồng mua bán hàng hóa

giữa bên nhận ủy thác

với bên thứ ba theo yêu

cầu của bên ủy thác



Bao gồm việc giao

kết, thực hiện hợp

đồng đại lý giữa bên

giao đại lý và bên đại

lý và giao kết, thực

hiện hợp đồng mua

bán hàng hóa hoặc

cung ứng dịch vụ

giữa bên đại lý với

bên thứ ba theo yêu

cầu của bên giao đại

lý.



Phạm

vi



Bên đại diện có thể

được bên giao đại

diện ủy quyền thực

hiện nhiều hành vi

thương mại khác

nhau



Bao gồm tất cả các

hoạt động môi giới

có mục đich kiếm

lợi (mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch

vụ, xúc tiền thương

mại…)



Bên nhận ủy thác chỉ

được bên ủy thác ủy

quyền mua hoặc bán

hàng hóa cụ thể nào đó

với bên thứ ba.



Có thể thực hiện

trong nhiều lĩnh vực

của hoạt động thương

mại (mua bán hàng

hóa, cung ứng dịch

vụ…)



Cơ sở Hợp đồng đại diện Hợp đồng môi giới

để

cho thương nhân

thiết

lập

quan

hệ



Hợp đồng ủy thác mua Hợp đồng

bán hàng hóa

thương mại



đại



10







Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động Đại lý Thương Mmại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×