Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. Khái quát chung về tình trạng nam nữ sống chung như vợ chồng.

I. Khái quát chung về tình trạng nam nữ sống chung như vợ chồng.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp

nhận;

- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây

dựng gia đình.”

Dưới góc độ pháp lý thì “nam nữ chung sống như vợ chồng” là trường hợp

nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký

kết hôn. Về nguyên tắc pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ chồng.

Tuy nhiên, trên thực tế, các bên nam nữ vẫn chung sống với nhau như vợ chồng và

thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và với xã hội.

Về bản chất: đây là quan hệ vợ chồng mà quan hệ đó khơng được xác lập theo thủ

tục và trình tự pháp lý nhất định nhưng lại đã và đang tồn tại trên thực tế. Hai bên

chung sống với nhau như vợ chồng, thực sự coi nhau là vợ chồng và thực hiện đầy

đủ các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, với gia đình và với xã hội. Vì

vậy,trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng và hơn nhân có đăng ký kết hôn

về bản chất là giống nhau.

Nam nữ chung sống như vợ chồng có các đặc điểm:

Thứ nhất: nam nữ có điều kiện kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng mà không

đăng ký kết hôn. Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định về các

điều kiện để kết hôn. Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên

nam nữ có đủ điều kiện kết hôn nhưng xuất phát từ một vài lý do mà các bên không

tiến hành đăng ký kết hơn. Ví dụ như ở các tỉnh miền núi, do phong tục tập quán,

kết hôn chỉ cần sự chứng kiến của già làng nên việc đăng ký kết hôn khi lấy vợ, lấy

chồng vẫn chưa được người dân biết đến và quan tâm. Hoặc ở thành phố với lối

sống “nhà nào biết nhà đấy” và do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng tự do cá



nhân đã tạo điều kiện cho việc nam nữ chung sống như vợ chồng khơng đăng ký

kết hơn diễn ra phổ biến. Đây chính là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với trường

hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hay trường hợp kết hôn trái pháp luật. Đối

với các trường hợp nam nữ không đủ điều kiện kết hôn hoặc kết hôn trái pháp luật,

các bên nam nữ đều không đủ điều kiện kết hơn có thể là về độ tuổi, về ý chí tự

nguyện hoặc vi phạm điều cấm của xã hội không thể đăng ký kết hôn hoặc mặc dù

có đăng ký kết hơn nhưng cũng khơng được cơng nhận là vợ chồng. Còn trong

trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng, hai bên không hề vi phạm những

điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giữa hôn nhân hợp

pháp và nam nữ chung sống như vợ chồng khơng có sự khác biệt. Chính vì vậy,

hành vi chung sống như vợ chồng của hai bên hồn tồn khơng vi phạm pháp luật.

Về mặt hình thức, nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp nam nữ chung

sống nhưng giữa họ khơng có Giấy chứng nhận đăng ký kết hơn do cơ quan có

thẩm quyền đăng ký kết hơn cấp. Điều đó có nghĩa là giữa họ trongquan hệ hơn

nhân khơng có chứng cứ về mặt pháp lý để khẳng định họ là vợ chồng. Theo quy

định của pháp luật, nam nữ chung sống như vợ chồng không được công nhận là vợ

chồng. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hơn nhân có đăng ký và trường hợp nam

nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.

Thứ hai: trong thời gian chung sống như vợ chồng, hai người thực sự coi nhau là

vợ chồng. Đây là điểm có thể giúp ta phân biệt với trường hợp nam nữ sống chung

tạm bợ. Việc đánh giá việc hai người có coi nhau là vợ chồng thực sự là vấn đề

phức tạp. Bởi lẽ đây thuộc về ý thức chủ quan của con người, tùy thuộc vào từng

hoàn cảnh và thời điểm khác nhau.

Thứ ba: khi bắt đầu chung sống, hai người muốn chung sống lâu dài và ổn điịnh.

Đây là đặc điểm để phân biệt với khái niệm “hôn nhân thử nghiệm”. Đối với “hôn

nhân thử nghiệm”, trước khi chung sống, các bên thỏa thuận sẽ “thử” chung sống

với nhau như vợ chồng, “thử” thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ



chồng. Nếu sau một thời gian chung sống, các bên thấy phù hợp thì sẽ lúc này sẽ

tiến hành đăng ký kết hơn, còn trường hợp khơng thấy phù hợp với nhau nữa thì

các bên sẽ “đường ai nấy đi”. Còn trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ

chồng, hai bên mong muốn xây dựng một gia đình hạnh phúc nên từ khi bắt đầu

chung sống, họ đã có ý định gắn bó lâu dài với nhau.

2. Pháp luật hiện hành về vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng.

Khoản 1 Điều 11 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 có quy định: “Việc kết

hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi là cơ

quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.

Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều khơng có

giá trị pháp lý. Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ

chồng thì khơng được pháp luật cơng nhận là vợ chồng. Vợ chồng đã ly hôn muốn

kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hôn”. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy

rằng có những trường hợp quan hệ hôn nhân được xác lập từ trước ngày Luật hôn

nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật bởi vậy vấn đề tồn tại trước đó là

một điểm hết sức cần thiết. Với tinh thần này, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày

09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hơn nhân và gia đình, Nghị quyết số

77/2001/NĐ – CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết

hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi

hành Luật hôn nhân và gia đình và Thơng tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao,

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT – TANDTC –

VKSNDTC – BTP ngày 03/01/2001 đã có hướng dẫn cụ thể về việc giải quyết về

mặt pháp luật đối với những trường hợp vi phạm việc đăng ký kết hôn trước ngày

01/01/2001. Theo đó:

- Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 vi

phạm thủ tục đăng ký kết hôn sẽ không bị buộc phải đăng ký kết hơn thì trường hợp

này được trường hợp này được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho việc



việc đăngký kết hơn. Điều đó cũng có thể hiểu là chúng ta chấp nhận quan hệ “hôn

nhân thực tế” đối với những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày

03/01/1987.

- Kể từ ngày 03/01/1987, các bên nam nữ chung sống như vợ chồng mà vi phạm

thủ tục đăng ký kết hơn thì buộc phải “đăng ký kết hơn” và đăng ký “trong thời hạn

hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003”. Trong thời hạn các bên có

nghĩa vụ đăng ký kết hôn, chúng ta vẫn thừa nhận quan hệ “hôn nhân thực tế” cho

các trường hợp chưa đăng ký kết hôn. Hết thời hạn quy định trên mà họ khơng

đăng ký kết hơn thì pháp luật khơng công nhận họ là vợ chồng

- Đối với những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày

01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận

là vợ chồng.

Như vậy, từ ngày 01/01/2001 nam nữ chung sống như vợ chồng mà không

đăng ký kết hôn hoặc những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng sau

ngày 01/01/1987 đến ngày Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực mà

khơng đăng ký kết hơn thì quan hệ hơn nhân của họ khơng có giá trị pháp lý. Nếu

có u cầu giải quyết vấn đề ly hơn tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật

hiện hành và giải quyết. Cụ thể: theo quy định của khoản c mục 3 Nghị quyết 35

của Quốc hội, nếu trong trường hợp các bên xảy ra mâu thuẫn, “có yêu cầu ly hơn

thì tòa án thị lý và tun bố khơng cơng nhận quan hệ vợ chồng; nếu có u cầu về

con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và

gia đình năm 2000 để giải quyết”.

II. Thực trạng nam, nữ sống chung như vợ chồng.

1. Đánh giá chung về tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng.



Hiện nay, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

đang diễn ra ngày càng phổ biến. Trên thực tế, hiện tượng này thường được diễn ra

ở các đối tượng như sinh viên, học sinh thuộc các trường Đại học, Trung học

chuyên nghiệp và các trường dạy nghề.Do sống xa nhà nên thiều thốn tình cảm,

thiếu sự quản lí của gia đình nên bng thả, do sức ép về kinh tế nên phải góp gạo

thổi cơm chung, và, đặc biệt là do ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây....Rất ít khi

thấy mọi người đưa ra lí do đơn giản nhất mà đầu tiên nhất là Tình yêu.Cụ thể,thứ

nhất là điều kiện kinh tế của cả bạn nam và nữ chưa cho phép họ làm đám cưới,

mua nhà, tổ chức đời sống gia đình. Thứ hai, đa số bạn trẻ sống chung trước hôn

nhân đều ở xa gia đình, xa sự quản lý của bố mẹ nên có thể sống theo ý mình. Thứ

ba là đơi nam nữ bị thúc đẩy bởi nhu cầu tình dục cần được thỏa mãn.Có thể nói,

những ngun nhân dẫn đến tình trạng sống chung trước hôn nhân là do giáo dục

và nhận thức. Hiện nay vấn đế giáo dục về tính dục cho con em giữa gia đình và

nhà trường còn hạn chế. Vì thế giới trẻ tự trang bị cho mình những kiến thức đó

qua phim ảnh, sách báo, những trang web về tình dục... Và như vậy một trong

những nguyên nhân khiến sống thử được giới trẻ ủng hộ vì nó phù hợp với tâm lý

tò mò, háo hức khám phá cái mới của giới trẻ.Xét về mặt hoàn cảnh đó là những

người sống xa gia đình, khơng có người thân bên cạnh làm chỗ dựa tinh thần.Xét

về mặt tâm lý đó là những người yếu đuối, cảm thấy cơ đơn và có nhu cầu về tình

cảm cao. Hơn nữa, tình trạng sống chung trước hơn nhân chủ yếu ở các đơ thị vì

nơi đó khơng có sự kiểm sốt của gia đình, nơi đây khơng có người thân thiết, và

rồi họ tìm đến nhau để bù đắp cho nhau những thiếu thốn đó. Một nguyên nhân nữa

khiến ngày càng có nhiều bạn trẻ quan hệ tình dục trước hơn nhân đó là ngày nay

có nhiều các phương pháp ngừa thai nhân tạo hiệu quả.

Thêm vào đó, cũng có thể xảy ra trong các trường một trong hai bên đã qua

một lần kết hơn, sau đó hơn nhân của họ chấm dứt do ly hôn hoặc do vợ chồng

chết, khi tuổi đã cao mới “kết bạn” để nương tựa nhau. Cũng có thể là một trong

hai bên là người “quá lứa lỡ thì” chung sống với người khác trong hồn cảnh “rổ rá



cạp lại” nên họ ngại khơng muốn thực hiện thủ tục của việc kết hôn. Tại các vùng

nơng thơn, quan niệm về hơn nhân còn rất hà khắc và dư luận xã hội dẫn đến việc

họ e dèkhơng dám sống như vợ chồng.Còn ở thành phố lớn “nhà nào biết nhà đấy”

nên đây là cơ hội cho hiện tượng này xảy ra phổ biến.

Mặt khác trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và sự

đề cao chủ nghĩa tự do cá nhân trong các quan hệ xã hội thì quyền kết hơn còn

được hiểu dưới góc độ tiêu cực là quyền khơng kết hôn. Quyền không kết hôn đươc

thể hiện dưới hai hình thức: sống độc thân và chỉ nam nữ chung sống như vợ chồng

với người có điều kiện phù hợp kết hôn nhưng lại không đăng ký kết hôn.

Với suy nghĩ: Tờ giấy đăng ký kết hôn chỉ là một tờ giấy. Nếu một trong hai

người không thật tâm muốn vĩnh viễn chung sống, thì có hay khơng đăng ký kết

hơn cũng chẳng ăn nhằm gì. Họ cho rằng, nền tảng của hơn nhân là tình u thực

sự giữa hai cá nhân. Nếu có tình u bền vững, họ sẽ chung sống lâu dài và thương

yêu nhau, còn hơn những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn được công nhận là cặp

vợ chồng hợp pháp, nhưng chỉ sau một thời gian, họ lại mang nhau ra tòa ly dị vì lý

do nào đó, lại phải tốn tiền cho án phí, luật sư... Hơn nữa nếu họ cảm thấy khơng

thể hòa hợp được nữa thì cũng dễ dàng chia tay, khơng bị nhức đầu vì những thủ

tục cũng như chi phí pháp lý,… các bên đã khơng tiến hành việc đăng ký kết hơn.

Hiện nay có thể thấy hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không

tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết nhằm xác định quan hệ vợ chồng trước pháp

luật đã và đang gây ra những hậu quả khác nhau trên cả khía cạnh pháp luật và xã

hội.

2. Những vấn đề có thể nảy sinh trong những cặp nam nữ chung sống như vợ

chồng mà không đăng ký kết hôn.

Hiện tượng đa thê. Khoản 2 Điều 9 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 có quy

định: “Việc kết hơn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép



buộc,lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”. Điều đó cũng có

nghĩa là theo quy định của pháp luật, việc nam nữ có đủ điều kiện kết hơn mà

chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn không phải là hành vi

trái pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế lại xảy ra trường hợp không ít người đàn

ông lợi dụng để chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ khác nhau. Đây

phải chăng là hình thức biến tướng của hiện tượng đa thê. Tình trạng này khơng thể

coi là vi phạm hơn nhân một vợ một chồng theo nghĩa vụ được quy định tại khoản

2 Điều 4 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 147 Bộ luật hình sự năm

1999. Bởi trong cả hai điều luật này, người bị coi là vi phạm chế độ hôn nhân một

vợ một chồng phải là người đang có quan hệ hơn nhân hợp pháp với người khác lại

chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người có quan hệ chung sống như

vợ chồng với một người đang có quan hệ hơn nhân hợp pháp với người khác.

Chung sống như vợ chồng với nhiều người rõ ràng là hành vi trái với đạo đức một

cách nghiêm trọng. Theo quy định của pháp luật hiện hành phải chăng đây chính là

kẽ hở để tình trạng “đa thê” diễn ra.

Đối với vấn đề hưởng di sản thừa kế. Việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà

khơng đăng ký kết hơn thì khơng được cơng nhận là vợ chồng, những người này

không được xác định là “chồng”, “vợ” thuộc hàng thừa kế thứ nhất được quy định

tại điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, họ khơng được

quyền thừa kế tài sản của nhau trừ trường hợp người chết có để lại di chúc và đồng

thời họ khơng được pháp luật bảo vệ tại Điều 669 Bộ luật dân sự năm 2005 như

trong trường hợp vợ chồng hợp pháp.

Về vấn đề bạo lực gia đình. Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng

mà không đăng ký kết hơn thì có được coi là gia đình hay khơng? Nếu có trường

hợp bạo lực gia đình xảy ra thì nạn nhân có được bảo vệ theo như quy định tại Luật

phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay không?



Đối với trẻ em. Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà có con

chung thì các con được hưởng đầy đủ quyền như những đứa trẻ sinh ra từ hôn nhân

hợp pháp. Tuy nhiên, nếu nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết

hôn thì khi hai người có con chung, đứa con này sẽ bị xác định là con ngoài giá thú

và thủ tục đăng ký khai sinh gặp khó khăn. Cụ thể: theo quy định tại khoản 3 Điều

15 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và

quản lý hộ tịch thì: “Trong trường hợp khai sinh cho con ngồi giá thú, nếu khơng

xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và

Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con,

thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”.

Như vậy, trong trường hợp này muốn ghi tên người cha vào Giấy khai sinh thì phải

làm thủ tục đăng ký nhận cha con. Hoặc giả như khi người mẹ đang mang thai mà

người cha gặp tai nạn qua đời, thì sau khi sinh ra, việc xác định cha cho con để

hưởng thừa kế và đảm bảo các quyền lợi khác gặp nhiều khó khăn.

3. Giải pháp:

Điều ai cũng biết là ở Việt nam, khi một cặp đang yêu đương bị xẩy ra những

việc đáng tiếc như có thai ngồi mong muốn, thì phản ứng của gia đình và xã hội

đối với người phụ nữ thường là nặng nề hơn. Và nếu quan hệ có sự trục trặc xẩy ra,

thì người phụ nữ cũng thường phải gánh hậu quả lớn hơn. Nếu quan hệ tình dục là

hệ quả của những suy xét thiếu chín chắn, vị kỷ, hoặc thậm chí trục lợi, thì rõ ràng

những tình huống kiếu này thường ít được tính đến trong quyết định của hai người

tham dự vào quan hệ. Và vì vậy những hậu quả đó lại thường hay xẩy ra. Ngược

lại, nếu đó là quyết định được suy xét bởi những người hiểu rõ trách nhiệm về việc

mình làm, thì gánh nặng rủi ro của người phụ nữ, nếu kết cục xấu thực sự xẩy ra,

phải được cả hai cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đi đến quyết định “sống thử”. Vì vậy,

việc có hay khơng tiếng nói của người phụ nữ trong quyết định về “sống thử” có

thể được xem như một tín hiệu cho thấy quan hệ đó đang đi theo chiều hướng nào,

tích cực hay tiêu cực.



Gia đình là nhân tố quyết định hình thành nên nhận thức của mỗi con người.

Vì vậy vai trò của những bậc ba mẹ là hết sức quan trọng trong việc rèn luyện tính

cách và giúp các em hiểu rõ về những mối quan hệ hết sức phức tạp trong cuộc

sống hàng ngày.Để các em có một nhận thức đúng đắn trong tình cảm cũng như

hiểu rõ quan điểm tình dục trước hôn nhân. Thiết nghĩ tương lai của các em đang ở

phía trước. Vì vậy có nên sống thử sống gấp như vậy hay không trong khi việc cần

thiết của các em là tập trung học hành, bồi dưỡng kiến thức để trở thành người có

ích cho xã hội về sau.

Sự quan tâm của cộng đồng, đặt biệt là trường học cần trang bị cho học sinh

những kiến thưc cơ bản của giáo dục giới tính, có những mơn học cần thiết về giáo

dục giới tính sẽ giúp các em hiểu và nhận thức rõ về vấn đề tình dục như hiện nay.

Tình yêu là tình cảm thiêng liêng, khơng thể thiếu trong đời sống của mỗi con

người. Tình yêu nam nữ giúp con người thăng hoa trong đời sống tinh thần. Nhưng

nó càng có ý nghĩa hơn khi mỗi người hiểu đúng giá trị của tình yêu, biết trân trọng

và thực sự giữ gìn cho nhau, như vậy tình yêu sẽ mang tới cho mỗi con người giá

trị chân thực của cuộc sống và sống tốt đẹp hơn trong tương lai. .

C. KẾT LUẬN

Việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng trở

nên phổ biến. Trong trường hợp này họ không được công nhận là vợ chồng, quyền

lợi của họ không được đảm bảo. Trong nhiều trường hợp khi họ bị xâm phạm đến

quyền lợi thì pháp luật khơng bảo vệ được họ.Vì vậy, cần phải tun truyền và

khuyến khích nam nữ có đủ đăng ký kết hơn và muốn chung sống với nhau như vợ

chồng đi đăng ký kết hôn. Đồng thời, cần có những quy định của pháp luật mềm

dẻo hơn nhằm bảo vệ một số quyền lợi cho họ trong trường hợp nam nữ chung

sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.



Danh mục tài liệu tham khảo

1. Luật hơn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986, năm 2000.

2. Bộ luật dân sự năm 2005.

3. Bộ luật hình sự năm 1999.

4. Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.

5. Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành

Luật hôn nhân và gia đình.

6. Nghị quyết số 77/2001/NĐ – CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định

chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của

Quốc hội về việc thi hành Luật hơn nhân và gia đình

7. Thơng tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối

cao, Bộ tư pháp số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày

03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của

Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình.

8. Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và

quản lý hộ tịch.

9. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hơn nhân và gia đình Việt

Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Khái quát chung về tình trạng nam nữ sống chung như vợ chồng.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×