Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số bất cập và phương hướng hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Một số bất cập và phương hướng hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

cho các cơ quan có thẩm quyền. Vấn đề xử phạt các hiệp hội ngành nghề tham gia vào

thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chưa được quy định rõ ràng. Điều 8 và Điều 9 Luật Cạnh

tranh đều không đề cập đến các hiệp hội. Đây thực sự là điểm khiếm khuyết của Luật

Cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh các hiệp hội Việt Nam thường đóng vai trò rất tích

cực trong việc giúp các thành viên hình thành nên các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Quy

định đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm “có thể phạt tiền tối đa 10%

tổng doanh thu của tổ chức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện

hành vi vi phạm”. Theo ông Nguyễn Trọng Nghĩa, vụ trưởng Vụ Pháp chế thì “quy định

này dẫn tới trường hợp doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nhưng vi phạm Luật cạnh

tranh đối với một hoạt động mà bị tính phạt trên tồn bộ doanh thu là rất lớn, ảnh hưởng

đến hiệu lực của quyết định xử phạt”. Còn theo TS Nguyễn Thị Vân Anh, giảng viên

trường Đại học Luật Hà Nội thì “mức phạt tiền tối đa 10% tổng doanh thu trong năm tài

chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm còn quá chung chung, dễ dẫn đến tùy tiện

trong quyết định mức phạt đối với từng vụ việc. Nếu trong năm tài chính trước năm thực

hiện hành vi vi phạm khơng có doanh thu thì mức phạt sẽ là…0 đồng. Điều này dẫn đến

mục đích của việc áp dụng chế tài phạt tiền để ngăn ngừa, răn đe không đạt được. Bởi

vậy, cần quy định mức phạt tối thiểu đối với doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh bị cấm”.

Theo ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Vụ trưởng Vụ pháp chế - Bộ cơng thương thì đối

tượng “doanh nghiệp nước ngồi hoạt động tại Việt Nam” chưa thống nhất trong cách

hiểu cũng như chưa được làm rõ trong các văn bản hướng dẫn chun ngành. Vì thế, khi

triển khai Luật cạnh tranh có vướng mắc, như thỏa thuận xuyên biên giới đối với một số

sản phẩm dược phẩm và sữa, hoặc việc bán hàng đa cấp xuyên biên giới thông qua các

hoạt động trên internet tại Việt Nam chưa có chế tài cụ thể để xử lý.

4.2. Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của pháp luật về thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh.

Pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của nước ta vẫn còn một số vấn đề cần phải

sửa đổi, hồn thiện để phù hợp với thơng lệ quốc tế và đảm bảo thực thi pháp luật về cạnh

tranh một cách có hiệu quả trên thực tế. Đầu tiên, cần phải có quy định mở trong Điều 8

Luật cạnh tranh, giống như pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, nên có thêm quy

định “các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khác” để phù hợp sự thay đổi của các hoạt động

kinh doanh trong tương lai.

11



Tiếp theo, để đáp ứng yêu cầu kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hiệu quả cũng

như phù hợp với thơng lệ quốc tế thì cần phải phân biệt thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

theo chiều ngang và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc. Như ta đã biết, mức

độ gây thiệt hại của hai loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này trên thị trường liên quan là

khác nhau vì vậy u cầu kiểm sốt đối với chúng cần có sự khác nhau. Xét về phương

diện kinh tế, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang có tính chất thủ tiêu

cạnh tranh, phá vỡ quy luật thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển còn các thỏa thuận

hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc với mục đích chính là thu được lợi nhuận cao, do đó

mà thiệt hại trực tiếp tác động đến người tiêu dùng trong xã hội. Thơng thường, mức độ

kiểm sốt của pháp luật các nước đối với hai loại này cũng khác nhau; cụ thể là: mức thị

phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh theo chiều ngang được ấn định ở mức thấp hơn so với thỏa thuận hạn chế cạnh

tranh theo chiều dọc. Như vậy, yêu cầu về kiểm soát và can thiệp vào các thỏa thuận theo

chiều ngang đòi hỏi phải cao hơn và nghiêm khắc hơn. Có thể nói, theo Luật cạnh tranh

Việt Nam hiện nay, quy định chung một giới hạn tỉ lệ cho cả hai loại thỏa thuận mà ở giới

hạn đó làm căn cứ để xác định thỏa thuận hợp pháp hay bất hợp pháp là không hợp lý,

cần thiết phải định lượng cho hai loại thỏa thuận này tỷ lệ phần trăm khác nhau đối với

thị phần kết hợp trên thị trường liên quan làm căn cứ cho việc kiểm soát, nhằm đảm bảo

tính khoa học trong điều chỉnh của luật đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và

để phù hợp với thơng lệ quốc tế.

Bên cạnh đó, về lý luận cũng như thực tiễn, không nên coi thị phần là căn cứ duy nhất

để kết luận một hành vi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hợp pháp hay bất hợp pháp như

hiện nay. Cần cân nhắc để bổ sung vào quy định của Luật cạnh tranh một số tiêu chí cơ

bản sau để làm căn cứ đánh giá thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như: tiêu chí về giá cả

hàng hóa, dịch vụ; tiêu chí sản lượng, khối lượng mua, bán hàng hóa, dịch vụ; tiêu chí số

lượng đơn chào hàng, đặt hàng… Hơn nữa, cần thiết phải quy định một chế tài riêng cho

loại hành vi đấu thầu thông đồng để phù hợp với thông lệ quốc tế và ngăn chặn những tác

hại tiêu cực của nó với nền kinh tế.

Đồng thời, cần củng cố bộ máy nhà nước kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở

những khía cạnh sau: nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ

cán bộ, công chức trong Cục quản lý cạnh tranh; thực hiện liên kết với đội ngũ cộng tác

viên ngoài cục, bởi việc giám sát và kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đòi hỏi phải

12



có sự hỗ trợ, phối hợp của các bộ các ban, ngành khác; cần phải nâng cao vị trí pháp lý

của cơ quan quản lý, kiểm soát cạnh tranh, cần phải trao cho cơ quan này các quyền lực

phù hợp tạo đối trọng với quyền lực kinh tế trên thị trường của các doanh nghiệp tham

gia thỏa thuận; xây dựng chương trình giảng dạy và kế hoạch tiếp cận thực tiễn về pháp

luật cạnh tranh trong các trường đại học, cao đẳng thuộc ngành kinh tế, luật đồng thời

phối hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu có liên quan về chính sách kinh tế và pháp

luật.

Ngoài hệ thống văn bản pháp lý và bộ máy quản lý nhà nước ra thì việc thực thi pháp

luật về cạnh tranh nói chung và kiểm sốt hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nói riêng

còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế thực thi pháp luật. Để có một cơ chế thực thi đủ mạnh

vừa đảm bảo các quy định của pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, đồng thời

bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường thì cần chú ý một

số vấn đề sau: cần bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động của các cơ quan quản lý

cạnh tranh đồng thời chú ý tới nguồn thông tin để phục vụ cho công tác quản lý cạnh

tranh và cần xây dựng một cơ chế đảm bảo tính khoa học, cơng bằng, minh bạch khách

quan cho các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Và để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực

hiện của pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần có những

chiến lược ổn định, bền vững, nâng cao hiệu biết về pháp luật cũng như năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp mình.



KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Thơng qua việc tìm hiểu về pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cũng như thực

trạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam, ta thấy được bên cạnh một số

kết quả đạt được thì vẫn còn nhiều thiếu sót cần được khắc phục. Hy vọng trong thời gian

tới, những tồn tại nêu trên của pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sớm được khắc

phục qua đó thiết lập một mơi trường cạnh tranh lành mạnh để các doanh nghiệp cùng

hợp tác phát triển.



13



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật cạnh tranh năm 2004.

2. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 quy định chi tiết thi hành một số

điều của Luật cạnh tranh.

3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb. CAND, Hà Nội,

2011.

4. Đồng Ngọc Dám, Luận văn thạc sĩ luật học, Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

– Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội, 2007.

5. Lê Việt Nga, Khóa luận tốt nghiệp, Kiểm sốt thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo

pháp luật Việt Nam, Hà Nội, 2008.

6. Và một số trang web:



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số bất cập và phương hướng hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×