Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2/ Đặc điểm của thú dữ:

2/ Đặc điểm của thú dữ:

Tải bản đầy đủ - 0trang

BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định chi tiết về các nguồn

nguy hiểm cao độ khác. Bởi trên thực tế có rất nhiều lồi tuy nhỏ nhưng có khả

năng gây thiệt hại rất cao cho con người nhưng lại khơng được xếp vào thú dữ.

Ví dụ ong,..

Thứ hai, thú dữ là một lồi có kích thước lớn so với con người. Chính vì kích

thước này nhưng vẫn chưa được thuần hóa nên thú dữ có khả năng gây thiệt hại

cho con người là rất cao.

Thứ ba, thú dữ là một lồi có tính bản năng cao. Thú dữ bao gồm hổ, báo, sư

tử, gấu,…9 Thú dữ khác so với các loài súc vật khác ở điểm này. Bản năng của

những lồi này là đặc tính săn mồi. Do vậy, bất cứ lúc nào con người có thể nằm

trong tầm ngắm của chúng. Khác với các loài súc vật khác, chỉ có thể tấn cơng

con người khi chúng tự vệ, thì ở thú dữ, việc tấn cơng có thể xảy ra một cách bất

chợt và không thể lường trước.

Thứ tư, thú dữ vẫn chưa được thuần hóa. Trải qua lịch sử phát triển của

mình, con người dần chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho các nhu cầu

của mình. Trong đó việc săn bắn và thuần dưỡng động vật hoang dã thành vật

nuôi trong nhà là một trong những hoạt động có tính lịch sử của loài người. Các

loài động vật hoang dã khi đã được con người thuần dưỡng thì đều sống thân

thiện với con người. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, con người chưa thể

thuần dưỡng được các loài thú dữ. Mặc dù, rất nhiều tổ chức, cá nhân hiện đang

nuôi nhốt một số lồi thú dữ, nhưng đó cũng khơng phải là hoạt động thuần

dưỡng thú dữ, mà chỉ là việc chế ngự tạm thời bản tính hung dữ của chúng.

Đương nhiên, bản thân các lồi thú dữ khi bị ni nhốt thì bản năng tính lồi của

chúng càng cao, nên trong q trình ni nhốt, các chủ thể phải bảo quản và

trông giữ hết sức cẩn trọng. Chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể gây ra những

thiệt hại cho chính chủ sở hữu cũng như các chủ thể xung quanh.



9 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội,Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2,NXB Chính trị quốc gia Sự thât, Hà

Nội, 2017, tr 425



8



BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A

Thứ năm, thú dữ là loài động vật có thể vượt khỏi tầm kiểm sốt của con

người ngay cả khi con người đang trực tiếp kiểm sốt chúng. Thơng thường,

những lồi động vật đã được thuần dưỡng sẽ lành tính hơn và thường chấp nhận

sự kiểm sốt của con người, tức là hầu hết các lồi động vật được thuần dưỡng

nuôi trong nhà không thể vượt khỏi tầm kiểm soát của con người ngay cả khi

con người đang khơng trực tiếp quản lý chúng (ví dụ: trâu, bò nhốt trong chuồng

thường khơng có phản ứng vượt ra ngồi). Trong khi đó, thú dữ là lồi động vật

“khơng chấp nhận” sự kiểm sốt của con người, chúng ln có ý thức phản

kháng lại trước sự quản lý của con người. Ngay cả khi đang nằm trong sự kiểm

soát của con người, nhưng chỉ cần một sơ ý nhỏ của người quản lý, thú dữ sẽ

vượt khỏi tầm kiểm sốt, thậm chí tấn cơng cả người đang quản lý. Đây chính là

đặc điểm cho thấy việc quản lý chặt chẽ thú dữ là vô cùng quan trọng, không thể

có bất cứ một sự lơ là nào trong việc quản lý thú dữ.

II/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra:

Thú dữ được liệt kê là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ được quy

định tại Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, tất cả những quy phạm

pháp luật điều chỉnh về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

cũng điều chỉnh bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra.

1/Xác định chủ thể gây ra thiệt hại(thú dữ):

Hiện nay, vẫn còn rất nhiều nhằm lẫn giữa bồi thường thiệt hại do tài sản gây

ra và bồi thường thiệt hại do hành vi con người con người thông qua tài sản.

Việc xác định đúng chủ thể gây ra thiệt hại là hết sức quan trọng để xác định cơ

sở pháp lý và chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Cụ thể là:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý để áp dụng: Nếu thiệt hại do thú dữ gây ra thì cơ

sở pháp lý được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại là quy định tại

Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 (Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn

nguy hiểm cao độ gây ra); Nếu thiệt hại xảy ra là do người sử dụng thú dữ gây

ra, tức là thiệt hại có liên quan đến thú dữ những không phải do tự thân thú dữ

9



BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A

gây ra thì cơ sở pháp lý được áp dụng là Khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm

2015 (cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra nói

chung).

Thứ hai, về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Nếu thiệt hại do tự

thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường

thiệt hại là chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng nguồn nguy hiểm cao

độ; Nếu thiệt hại do hành vi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, chủ thể

chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ

hoặc các chủ thể có liên quan đến người sử dụng .Ví dụ: Trường hợp hổ bị xổng

chuồng do tự thân hổ phá chuồng và gây ra thiệt hại cho người khác thì chủ sở

hữu, người chiếm hữu hoặc người sử dụng con hổ phải bồi thường. Ngược lại,

do người quản lý bất cẩn trong việc trông giữ mà để hổ xổng chuồng và gây

thiệt hại cho người khác thì người quản lý phải bồi thường do hành vi bất cẩn

của mình.

Để xác định được chủ thể gây ra thiệt hại có phải là thú dữ gây ra hay khơng

cần phải có 2 điều kiện:

Một là, phải có sự hiện diện tài sản gây ra thiệt hại là thú dữ.

Hai là, thiệt hại phải do tự thân hoạt động của thú dữ gây ra.Ví dụ: thú dữ

xổng chuồng theo bản năng của nó tấn cơng những người xung quanh, gây thiệt

hại về sức khỏe, tính mạng của các chủ thể xung quanh,..

2/Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Thông thường, khi tài sản gây thiệt hại, việc xác định ai phải bồi thường sẽ

căn cứ vào từng trường hợp cụ thể. Nếu tài sản gây thiệt hại mà chủ thể đang

quản lý có lỗi trong việc quản lý, thì phải bồi thường. Nếu tài sản gây thiệt hại

trong trường hợp người quản lý tài sản tuân thủ các quy định pháp luật về quản

lý tài sản, thì ai là người được hưởng quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi

ích do tài sản mang lại sẽ phải chịu trách nhiệm. Nguyên tắc này hoàn toàn phù

hợp với lẽ công bằng. Khi tài sản gây thiệt hại, người quản lý tài sản bị suy đốn

là có lỗi cho đến khi chứng minh mình khơng có lỗi trong việc quản lý tài sản.

10



BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A

Những bằng chứng là người quản lý tài sản đưa ra để loại trừ yếu tố lỗi là căn cứ

quan trọng trong việc xác định chủ thể phải bồi thường. Đối với trường hợp thú

dữ gây thiệt hại, dường như việc chứng minh “khơng có lỗi” trong quản lý tài

sản không ảnh hưởng đến việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ sở hữu,

người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường ngay cả

trong trường hợp khơng có lỗi. Theo quy định này, khi nguồn nguy hiểm cao độ

gây thiệt hại, người đang trực tiếp quản lý nguồn nguy hiểm cao độ sẽ phải bồi

thường thiệt hại, bất kể người đó có lỗi hay khơng có lỗi. Người trực tiếp quản

lý tài sản này có thể là người được hưởng lợi hoặc khơng được hưởng lợi ích từ

tài sản mình quản lý. Điều này cho thấy,pháp luật đặc biệt đề cao trách nhiệm

của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng trong việc quản lý nguồn nguy

hiểm cao độ.

Theo quy định tại các Khoản 2, 3và 4 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015, khi

nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể

thuộc về chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng hoặc người chiếm hữu, sử dụng

trái pháp luật. Tuy nhiên, cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của

các chủ thể này cũng khác nhau, cụ thể:

2.1/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu:

Chủ sở hữu là người sở hữu tài sản có đủ ba quyền năng bao gồm quyền

chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, là người hưởng lợi nhiều nhất từ tài sản. Theo lẽ

cơng bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu được hưởng thì khi tài sản

gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Như vậy,

trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu thú dữ xuất phát từ việc chủ sở

hữu được hưởng lợi ích mà tài sản mang lại, bất kể trong việc quản lý nguồn

nguy hiểm cao độ, chủ sở hữu có lỗi hay khơng có lỗi.

Tại Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:

“Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,

hệ thống tải điện, nhà máy cơng nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất

11



BÀI TIỂU LUẬN HỌC KỲ-NGUYỄN HUỲNH QUỐC KHÁNH K4A

cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do

pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản,

trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp

luật.”

Ngay tại đoạn 2 của Khoản 1 Điều này cũng đã có khẳng định rõ về trách

nhiệm của chủ sở hữu thú dữ. Đó là sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển

theo quy định của pháp luật. Nếu có bất cứ sự vi phạm nào trong vấn đề này thì

chủ sở hữu sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường. Như vậy, ta có thể thấy chủ

sở hữu phải bồi thường khơng chỉ do hưởng lợi ích từ tài sản mà còn từ sự vi

phạm trong quản lý. Minh chứng cho điều này, tại Đoạn 2 Khoản 4 Điều 601 Bộ

luật dân sự năm 2015 có quy định: “Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng

nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm

hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”. Qua đây ta

có thể thấy chủ sở hữu thú dữ phải liên đới bồi thường thiệt hại vì đã có lỗi trong

việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Đó là sự

vi phạm trong việc “sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm

cao độ”.

Chủ sở hữu thú dữ không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thú

dữ gây thiệt hại trong các trường hợp sau: chủ sở hữu thú dữ đã chuyển giao cho

người khác chiếm hữu, sử dụng (nếu khơng có thỏa thuận khác); xảy ra một

trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thú dữ gây ra; chủ

sở hữu khơng có lỗi trong thú dữ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt

hại. Những trường hợp cụ thể này sẽ được phân tích trong các nội dung tiếp

theo.

2.2/Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chiếm hữu, sử dụng:

Tại Khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015:



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2/ Đặc điểm của thú dữ:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×