Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.6: Kết quả phân tích mẫu nước thải xử lý bằng Biogas đang áp dụng tại 03 gia trại chăn nuôi lợn

Bảng 3.6: Kết quả phân tích mẫu nước thải xử lý bằng Biogas đang áp dụng tại 03 gia trại chăn nuôi lợn

Tải bản đầy đủ - 0trang

vọng trong tương lai đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn

tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy, còn một số chỉ tiêu sau khi xử lý

thì hàm lượng vẫn cao hơn quy chuẩn cho phép. Cụ thể: chỉ tiêu BOD5 vượt

từ 0,24 – 0,65 lần, chỉ tiêu COD vượt từ 0,05 – 0,5 lần, chỉ tiêu N tổng số

vượt từ 0,04 – 0,08 so với QCVN 62:2016/BTNMT.

Đơn vị: mg/L



Hình 3.8. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước thải chăn ni xử lý bằng

Biogas đang áp dụng tại 03 gia trại chăn nuôi lợn

Công nghệ xử lý Biogas chưa xử lý triệt để được nguồn gây ô nhiễm từ

chất thải chăn ni, do đó cần có các biện pháp hỗ trợ, xử lý sau Biogas. Chi

phí đầu tư và vận hành để xử lý triệt để các chất gây ô nhiễm rất tốn kém;

các biện pháp hỗ trợ sau Biogas lại cần có diện tích đất để xây dựng các

ao hồ sinh học, vườn cây nhằm tận dụng nước thải làm nước tưới… nên việc

đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý ảnh hưởng nhiều đến lợi

nhuận kinh doanh của trang trại. Lâu nay, trong các quy hoạch phát triển

chăn nuôi của trang trại hầu như mới quan tâm đến các chỉ tiêu, giải pháp

kinh tế mà chưa



có các quy định, giải pháp bảo vệ môi trường cụ thể, chưa có quy

hoạch và tiêu chí quy hoạch vùng chăn nuôi đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi

trường. Thêm vào đó, nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ mơi

trường của chủ trại còn hạn chế.

3.2.3. Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi lợn tại một số trang trại

trên địa bàn huyện Ba Chẽ

Hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi tại một số trại lợn trên địa

bàn huyện Ba Chẽ được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.7. Hiệu suất xử lý nước thải chăn nuôi bằng bể Biogas tại một số

trang trại trên địa bàn huyện Ba Chẽ

Đơn vị: mg/l

GT1



Chỉ

tiêu



NT1



NT4



pH



8.3



7.1



BOD5



382



COD



GT2

Hiệu

suất

(%)



NT2



NT5



14.46



8,2



6,9



165



56.81



325



884



452



48.87



792



Tổng N



269.41



162.35



39.74



Tổng P



7.73



3.14



59.38



6,41



TSS



193.89



81.23



58.11



Độ đục

NO 3-



158.22



58.74



59.07



58.67



GT3

Hiệu

suất

(%)



Hiệu

suất

(%)



NT3



NT6



15.85



8.0



7.5



119



63.38



365



124



66.03



385



51.39



833



316



62.06



39.69



261.34



161.38



38.25



2,58



59.75



7.53



3.56



52.72



215,13



97,12



54.86



213.67



81.84



61.7



62.8



134,05



56,85



57.59



138.09



62.49



54.75



0.68



63,51



59,32



6.60



76.54



54.63



28.63



260,72 157,23



6.25



(Nguồn: Kết quả phân tích tại Phòng thí nghiệm)

Nhận xét:

Sau xử lý qua bể Biogas các chỉ tiêu đã giảm đáng kể:

- Chỉ tiêu pH: hiệu suất xử lý đạt 6,25% – 14,46%;

- Chỉ tiêu BOD5: hiệu suất xử lý đạt 56,81% – 63,38%;



50



- Chỉ tiêu COD: hiệu suất xử lý đạt 48,84% – 62,06%;

- Chỉ tiêu Tổng N: hiệu suất xử lý đạt 38.25% – 39.74%;

- Chỉ tiêu Tổng P: hiệu suất xử lý đạt 52.72% - 59.75%;

- Chỉ tiêu TSS: hiệu suất xử lý đạt 54,86% - 61,7%;

- Chỉ tiêu Độ đục: hiệu suất xử lý đạt 54,75% - 62,8%;

- Chỉ tiêu NO3-: hiệu suất xử lý đạt 0,68% - 28,63%;

Trong quá trình xử lý bằng hầm Biogas của các hộ gia đình có sự khác

biệt. Qua phỏng vấn được biết hộ gia đình bà Phạm Thị Huệ có sử dụng

thêm chế phẩm sinh học BTV- EMISER trong trộn thức ăn cho lợn và dùng để

khử mùi trong hầm Biogas vì vậy khả năng xử lý chất thải tốt hơn so các

hộ gia đình khơng sử dụng chế phẩm.

* Chỉ tiêu BOD5

Đơn vị: mg/L



Hình 3.9. So sánh kết quả chỉ tiêu BOD5 trước và sau xử lý bằng bể Biogas



51



Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ ta thấy hàm lượng BOD5 vượt quá giới hạn

so với Quy chuẩn cụ thể là GT (1) vượt quá 0,65 lần, GT (3) vượt quá 0,24 lần.

* Chỉ tiêu COD

Đơn vị: mg/L



Hình 3.10. So sánh kết quả chỉ tiêu COD trước và sau xử lý bằng bể Biogas

Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy được hàm lượng COD vượt quá giới hạn

cho phép của Quy chuẩn cụ thể là GT (1) vượt quá 0,51 lần, GT (3) vượt quá

0,05 lần.

* Chỉ tiêu N tổng số

Đơn vị: mg/L



Hình 3.11. So sánh kết quả chỉ tiêu N tổng số trước và sau xử lý bằng bể

Biogas



52



Nhận xét: Qua biểu đồ ta thấy tổng hàm lượng N vượt quá giới hạn cho

phép của Quy chuẩn cụ thể là GT (1) vượt quá 0,08 lần, GT (3) vượt quá 0,07

lần.

* Chỉ tiêu TSS

Đơn vị: mg/L



Hình 3.12. So sánh kết quả chỉ tiêu TSS trước và sau xử lý bằng bể Biogas

Nhận xét: Nhìn vào biểu đồ hiển thị ta thấy chỉ tiêu TSS sau xử lý các

mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn.

* Đánh giá chung:

Mặc dù các hộ gia đình chăn ni đều có áp dụng các giải pháp xử lý

mơi trường (phổ biến là xây lắp các cơng trình Biogas), song nước thải sau xử

lý chưa đạt quy chuẩn cho phép. Qua nghiên cứu đề tài, nhận thấy

ngun nhân chính gây ơ nhiễm môi trường chăn nuôi nghiêm trọng tại

địa phương hiện nay đã được xác định là do các trang trại chăn ni lợn,

trang trại quy mơ hộ gia đình đã sử dụng quá nhiều nước để làm vệ sinh và

làm mát lợn dẫn đến phân lợn lỏng không thể thu gom, chỉ còn cách xả thải

trực tiếp ra nguồn nước hoặc gián tiếp thông qua các hầm Biogas.



53



Về lý do tại sao các trang trại chăn nuôi lớn đã lắp đặt các hầm biogas

nhưng vẫn gây ơ nhiễm, thì ngun nhân chính do vận hành bảo dưỡng và

sửa chữa các hầm Biogas vốn đã gây tốn kém chi phí cho chủ chăn ni

trong khi lợi ích thu về từ sử dụng các sản phẩm của hầm Biogas (khí ga, phụ

phẩm) là khơng đang kể. Thậm chí có nhiều hộ gia đình được phỏng vấn

thừa nhận thường xuyên phải xúc bớt phân trong hầm Biogas đổ ra ngoài khi

hầm bị quá tải do dung tích quá nhỏ so với lượng chất thải đầu vào quá lớn.

Do vậy, các chủ chăn nuôi thường đối phó một cách hình thức với các

cấp chính quyền địa phương để được phép chăn nuôi và không quan tâm

vận hành các cơng trình Biogas đúng cách. Mặt khác, cơng trình Biogas có

dung tích và cơng suất xử lý môi trường cố định trong khi quy mô chăn

nuôi của chủ trang trại thường xuyên thay đổi. Một số hạn chế cơ bản

của các hầm Biogas là nếu xây hầm Biogas có dung tích vừa đủ so với nhu

cầu sử dụng khí gas thì sẽ bị q tải khi tăng quy mô chăn nuôi và ngược

lại, nếu xây hầm Biogas có dung tích lớn thì sẽ bị thừa khí ga gây ơ nhiễm

khơng khí.

Tóm lại, cơng nghệ khí sinh học ở Việt Nam và dự án Khí sinh học

ngành chăn ni Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa bền vững do chưa

đem lại lợi ích kinh tế và hiệu quả môi trường cho các chủ chăn nuôi trên

địa bàn huyện Ba Chẽ.

3.2.4. Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn chăn nuôi lợn tại một số

trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Chất thải rắn từ các trang trại và gia trại nuôi lợn trên địa bàn sau khi

được thu gom, xử lý sẽ được tiêu thụ hết cho mục đích trồng rau, hoa, cây



cảnh.



54



55



Theo thống kê của Trung tâm Dịch vụ - Kĩ thuật nông nghiệp huyện Ba

Chẽ, 2017 [21], trung bình một năm hoạt động chăn ni lợn sẽ thải ra trên

30 nghìn tấn chất thải rắn. Chất thải này phần lớn được sử dụng làm phân bón

hữu cơ, trong số đó, có khoảng 40% số lượng được xử lý bằng phương pháp ủ

trước khi bón ruộng và khoảng 60% số lượng còn lại sử dụng nhưng khơng

qua xử lý. Tuy nhiên, từ kết quả điều tra thực tế cho thấy, chỉ khoảng 4050% lượng chất thải rắn trong chăn ni được xử lý, số còn lại bị thải trực

tiếp thẳng ra cống, ao hồ, kênh rạch. Lý giải cho điều này là do một số hộ gia

đình chỉ cần nuôi với số lượng nhỏ, lẻ từ 5-10 con lợn không thường xuyên

vệ sinh chuồng trại hàng ngày, xử lý phân, rác không hợp lý. Hơn nữa, các

chuồng nuôi nằm xen kẽ trong các khu dân cư, có quỹ đất nhỏ hẹp khơng

đủ diện tích dẫn đến những hộ xung quanh đều phải chịu hậu quả, chất thải

vẫn làm ảnh hưởng đến trực tiếp đến sức khỏe, sinh hoạt của các gia đình,

cũng như cảnh quan đường làng ngõ xóm.

Với gần 70% số hộ chăn ni lợn với số lượng ít, dưới 20 con/hộ, ni

trực tiếp tại chuồng trại trong hộ gia đình, hàng ngày số lượng chất thải

rắn (phân, nước rửa chuồng...) được xả thẳng ra các cống lộ thiên. Trong khi

đó, hệ thống cống rãnh cũng khơng được khơi thơng liên tục, dẫn đến tình

trạng bốc mùi hôi thối, làm môi trường cho dịch bệnh và côn trùng gây bệnh

phát triển.

Nguyên nhân chính được xác định gây ô nhiễm môi trường trong

ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Chẽ là do các chủ chăn nuôi sử

dụng nhiều nước. Kết quả điều tra cho thấy, một số chủ chăn ni sử dụng ít

nước đều có thể dễ dàng thu gom chất thải rắn để dùng làm phân bón hữu

cơ, ơ nhiễm mơi trường do chất thải lỏng khơng thể thu gom nên chỉ còn

cách xả trực tiếp hoặc gián tiếp (thơng qua các hầm khí sinh học Biogas)



xuống nguồn nước.



56



57



3.3. Đánh giá nhận thức của người dân về việc xử lý chất thải chăn nuôi

lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ

3.3.1. Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường

trong chăn nuôi

Môi trường chăn nuôi vốn chứa đựng rất nhiều loại vi khuẩn và các loại

cơng trùng gây bệnh nguy hiểm, nếu khơng có biện pháp thu gom và xử lý

chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe

con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt là các

virus biến thể từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh ở

lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều

người.

Tất cả các trang trại được hỏi đều nhận thức được mức độ nguy hiểm

khi không xử lý chất thải chăn nuôi trước khi thải bỏ ra môi trường như: Gây

mùi hôi thối, thu hút các loại cơn trùng gây bệnh, có thể lây lan các dịch

bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Lượng chất thải

này gây ô nhiễm mơi trường đất, nước, ảnh hưởng đến các lồi động vật

và thực vật thủy sinh. Ngoài ra, chất thải không được xử lý gây ảnh hưởng

tới hoa màu như làm cho lúa bị tốp lốp, gãy đổ, mất mùa...

Khi được phỏng vấn về lý do khiến gia đình chưa áp dụng biện pháp xử

lý chất thải và khó khăn cũng như dự định về việc áp dụng biện pháp xử lý

chất thải của 31/83 hộ gia đình trên địa bàn huyện được phỏng vấn.

Bảng 3.8: Lý do khiến gia đình chưa áp dụng biện pháp xử lý chất thải

Lý do đưa ra



Số hộ



Tỷ lệ (%)



Thiếu vốn



11



35.48



Chưa biết đến các biện pháp xử lý



06



19.36



Thấy không cần thiết



14



45.16



31



100



Tổng



(Nguồn: Theo điều tra)



58



Nhận xét: Phần lớn các hộ gia đình đưa ra lý do “Khơng cần thiết”

chiếm 45,16% vì số lượng vật ni, nguồn thu nhập chính khơng phải từ

việc chăn ninên khơng quan tâm tớiviệc xử lý chất thải; 11/31 hộ

chiếm tỷ lệ 35,48% đưa ra lý do “Thiếu vốn” vì điều kiện kinh tế còn

nhiều khó khăn khơng sắp xếp được nguồn vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật

cũng như mua chế phẩm sinh học phục vụ xử lý chất thải; 06/31 hộ

còn lạiđược phỏng vấn chiếm 19,36% với lý do “Chưa biết đến các biện

pháp xử lý” phần lớn do không tham gia các buổi tuyên truyền, tập huấn

về bảo vệ mơi trường trong chăn ni cùng với thói quen trong sinh hoạt

đã in hằn trong tư duy dẫn đến không xử lý chất thải trước khi thải ra môi

trường.

Bảng 3.9: Dự định về việc áp dụng biện pháp xử lý chất thải

Dự định áp dụng biện pháp xử lý

chất thải



Số hộ



Tỷ lệ (%)







03



9.67



Chưa biết



27



87.1



Khơng



01



3.23



Tổng



31



100

(Nguồn: Theo điều tra)



Nhận xét: Chiếm tỷ lệ lớn với 87,1% các hộ gia đình được phỏng vấn

đưa ra “Chưa biết” khi được hỏi về dự định áp dụng biện pháp xử lý chất

thải vì họ mong chờ sự trợ giá, cho vay vốn và được hướng dẫn hơn thời

điểm hiện tại, một phần do chưa mạnh dạn ứng dụng các biện pháp hiệu

quả hơn trong xử lý chất thải; 03/31 hộ chiếm 9,67% trả lời “Có” dự định

sử dụng các biện pháp xử lý chất thải do đã có nhận thức nhất định trong

cơng tác bảo vệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.6: Kết quả phân tích mẫu nước thải xử lý bằng Biogas đang áp dụng tại 03 gia trại chăn nuôi lợn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×