Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.6: Tính chất nước thải chăn nuôi heo

Bảng 1.6: Tính chất nước thải chăn nuôi heo

Tải bản đầy đủ - 0trang

15



Ơ nhiễm do chăn ni đặc biệt là chăn ni lợn khơng chỉ làm hơi tanh

khơng khí mà còn ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư, nguồn

nước và tài nguyên đất, ảnh hưởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi.

Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều

nơi trên cả nước. Tình trạng chăn ni thả rơng, chăn thả trên đất dốc, đầu

nguồn nước,... còn khá phổ biến góp phần làm tăng diện tích xói mòn, suy

giảm chất lượng đất, nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên

vùng rộng lớn.

* Ơ nhiễm khơng khí

Chất thải khí là các loại khí sinh ra trong q trình chăn ni, quá trình

phân hủy của các chất hữu cơ - chất rắn và lỏng. Sau khi chất thải ra khỏi cơ

thể của lợn thì các chất khí đã lập tức bay lên, khí thải chăn ni bao gồm

hỗn hợp nhiều loại khí trong đó có trên 40 loại gây mùi, chủ yếu là H2S và

NH3. Trong điều kiện kỵ khí cộng với sự có mặt của vi khuẩn trong phân và

nước thải xảy ra quá trình khử các ion sunphát (SO42-) thành sunphua (S2-).

Trong điều kiện bình thường thì H2S là một trong những nguyên nhân gây ra

các vấn đề về màu và mùi. Nồng độ S2- tại hố thu nước thải chăn ni lợn

có thể lên đến 330 mg/l cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn (theo TCVN

5945-2005 cột C nồng độ sunfua là 1,0 mg/l).

Mùi hôi chuồng nuôi là hỗn hợp khí được tạo ra bởi q trình phân

hủy kỵ khí và hiếu khí của các chất thải chăn ni, q trình thối rữa các chất

hữu cơ trong phân, nước tiểu gia súc hay thức ăn dư thừa sẽ sinh ra các khí

độc hại các khí có mùi hơi thối khó chịu. Cường độ của mùi hơi phụ thuộc

vào điều kiện mật độ của vật nuôi cao, sự thơng thống kém, nhiệt độ và

ẩm độ khơng khí cao. Khí NH3 và H2S được hình thành chủ yếu trong quá

trình thối rữa của phân do các vi sinh vật gây thối, ngồi ra NH3 còn được

hình thành từ sự phân giải urê của nước tiểu.



16



Ammoniac (NH3) có trong khí, trước hết là từ sự phân hủy và bốc hơi của

các chất thải vật nuôi. Các hoạt động sản xuất nơng nghiệp (chăn ni, sử

dụng phân bón) đã được xác định là các nguồn lớn thải khí NH3 ra mơi

trường. Số lượng của đàn vật nuôi đã và đang tăng đáng kể, cũng tương tự

là sự phát thải của NH3 từ phân bón nitơ (Sutton et al, 1993 [24]).

Nitơ được thải ra ở dạng ure (động vật có vú) hoặc axit uric (chim) và NH3,

nitrogen hữu cơ trong phân và nước tiểu của vật nuôi. Để biến ure hoặc axit

uric thành NH3 cần có enzyme urease. Sự biến đổi này xảy ra rất nhanh,

thường là trong ít ngày. Biến đổi các dạng phức hợp nitrogen hữu cơ trong

phân xảy ra chậm hơn (hàng tháng hoặc hàng năm). Trong cả 2 trường hợp,

nitrogen được biến đổi thành ammonium (NH4+) trong điều kiện pH axit hoặc

trung tính hoặc thành ammoniac (NH3) trong điều kiện pH cao hơn.

NH3 thải ra ảnh hưởng lớn tới chất lượng khơng khí quốc gia, khu vực và

tồn cầu. Sự tích lũy NH3 trong khơng khí có thể gây ra sự phì nhiêu nước mặt,

do vậy làm cho tảo độc hại tăng trưởng nhanh và sẽ làm giảm nhiều lồi

thủy sinh, trong đó có các đối tượng kinh tế. Các loài cây trồng nhạy cảm

như cà chua, dưa chuột và các loại hoa quả khi được trồng gần khu vực có

NH3 thải ra lớn sẽ bị hư hại do NH3 lắng đọng tăng (Van der Eerden et al, 1998

[25]).

* Ô nhiễm từ chất thải rắn

Chất thải rắn là hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật, trứng ký

sinh trùng có thể gây bệnh cho người và gia súc khác. Chất thải rắn gồm

phân, thức ăn thừa của vật ni, vật liệu lót chuồng, xác súc vật chết…chất

thải rắn có độ ẩm từ 56 - 83% tùy theo phân của các loài gia súc gia cầm khác

nhau và có tỷ lệ NPK cao (Trương Thanh Cảnh, 2010 [4]).

Trong phân có chứa nhiều loại vi khuẩn, virus và trứng ký sinh trùng,

trong đó vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacea chiếm đa số với các giống



điển



17



18



hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella. Trong 1 kg

phân có chứa 2000 - 5000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Ascaris suum,

Oesophagostomum, Trichocephalus (Hồng Huệ, 1996 [13]).

Các vật dụng chăn ni hay thú y bị loại bỏ như bào bì, kim tiêm, chai lọ

đựng thức ăn, thuốc thú y… cũng là một nguồn dễ gây ô nhiễm môi

trường. đăc biệt các bệnh phẩm thú y, thuốc khử trùng, bao bì đựng thuốc

có thể xếp vào nhóm chất thải nguy hại (Bùi Hữu Đồn và cs, 2011 [7]).

* Ơ nhiễm từ nước thải

Chất thải lỏng (nước thải) có độ ẩm cao hơn, trung bình khoảng 93- 98%

gồm cả nước tiểu, nước tắm gia súc, nước rửa chuồng và phần phân lỏng

hòa tan. Trong các loại chất thải của chăn nuôi, chất thải lỏng là loại chất

thải có khối lượng lớn nhất. Đặc biệt khi lượng nước thải rửa chuồng được

hòa chung với nước tiểu của gia súc và nước tắm gia súc.

Thành phần nước thải chăn nuôi biến động rất lớn phụ thuộc vào quy

mô chăn nuôi, phương pháp vệ sinh, kiểu chuồng trại và chất lượng nước vệ

sinh chuồng trại... Trong nước thải, nước chiếm 75 - 95%, phần còn lại là các

chất hữu cơ, vô cơ và mầm bệnh.

Nước thải từ trại chăn ni có nồng độ nhu cầu oxy sinh hóa BOD5

thường cao gấp 3 - 5 lần tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Nồng độ nhu cầu oxy

hóa học COD cao 4 - 6 lần tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Như vậy nước thải là

một nguồn ô nhiễm nặng nề đối với môi trường. Theo Báo cáo tổng kết

của Viện chăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do

ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những

ngày oi bức. Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30 40 lần. Tổng số vi sinh vật và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất

nhiều lần.



19



Ngoài ra nước thải chăn ni còn có chứa Coliform, E.coli,… và trứng giun

sán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép.

Nước tiểu của lợn có thành phần chủ yếu là nước (chiếm 90% khối

lượng nước tiểu), ngồi ra còn có hàm lượng nitơ khá cao có thể dùng để

bổ sung đạm cho đất và cây trồng.

1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong

nước và trên thế giới

1.3.1. Trong nước

Ở Việt Nam, nước thải chăn nuôi heo được coi là một trong

những nguồn nước thải gây ô nhiễm nghiêm trọng. Việc mở rộng các khu

dân cư xung quanh các xí nghiệp chăn ni heo nếu không được giải quyết

thỏa đáng sẽ gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe cộng

đồng và gây ra những vấn đề mang tính chất xã hội phức tạp.

Từ năm 2000 – 2010 số lượng gia súc, gia cầm biến đổi nhiều, các năm

từ 2006 – 2010 thì số lượng gia súc, gia cầm tăng đáng kể so với năm 2000,

tuy nhiên các năm có xu hướng giảm. Số lượng lợn tăng mạnh nhất giai

đoạn 2003 – 2006. Các năm tiếp theo do dịch bệnh bùng phát mạnh, giá cả

không ổn định nên nhiều hộ đã chăn ni ít đi. Năm 2010 dịch bệnh tai

xanh ở lợn và cúm H5N1 ở gia cầm đã lây lan rộng và xuất hiện ở nhiều tỉnh

thành trên cả nước. Tổng số lợn mắc bệnh ở miền Bắc là 36.899 con, trong

đó đã có 14.860 lợn chết và tiêu hủy. Riêng ở miền Nam, số lợn bị bệnh phải

tiêu huỷ trên 150 nghìn con, tiêu thụ thịt đình trệ.

Theo Bộ NN&PTNT, tình hình chăn ni năm 2017 gặp nhiều biến động,

đặc biệt là giá thịt lợn giảm sâu từ đầu năm khiến người chăn nuôi chịu thua

lỗ. Sau nhiều tháng chạm đáy, giá lợn hơi những tháng cuối năm đang có dấu

hiệu tăng trở lại nhưng vẫn không đủ để người chăn ni có lãi. Tình trạng

giá thấp kéo dài, khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến người chăn nuôi lợn

giảm đàn, bỏ



20



đàn, treo chuồng. Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm và bò vẫn đang phát triển

khá tốt và ổn định. Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả

nước có 27,4 triệu con, giảm 5,7%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt

3,7 triệu tấn, tăng 1,9%. Đàn gia cầm cả nước ước có 385,5 triệu con,

tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn,

tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6% (Mai Thế

Hào, 2017 [9]).

Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực xử lý nước thải chăn ni heo đang

được hết sức quan tâm vì mục tiêu giải quyết vấn đề ô nhiễm môi

trường, đồng thời với việc tạo ra năng lượng mới. Các nghiên cứu về xử lý

nước thải chăn nuôi heo ở Việt Nam đang tập trung vào hai hướng chính,

hướng thứ nhất là sử dụng các thiết bị yếm khí tốc độ thấp như bể lên

mem tạo khí Biogas kiểu Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, hoặc dùng các túi

PE. Phương hướng thứ nhất nhằm mục đích xây dựng kỹ thuật xử lý yếm

khí nước thải chăn ni heo trong các hộ gia đình chăn nuôi heo với số

đầu heo không nhiều. Hướng thứ hai là xây dựng quy trình cơng nghệ và

thiết bị tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ nhằm áp dụng trong các xí nghiệp

chăn ni mang tính chất cơng nghiệp. Trong các nghiên cứu về quy trình

cơng nghệ xử lý nước thải chăn nuôi heo công nghiệp đã đưa ra một số kiến

nghị sau:

Công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi cơng nghiệp có thể tiến hành

như sau: (1) xử lý cơ học: lắng 1; (2) xử lý sinh học: bắt đầu bằng sinh học kị

khí UASB, tiếp theo là sinh học hiếu khí (Aerotank hoặc hồ sinh học); (3)

khử trùng trước khi thải ra ngồi mơi trường.

Nhìn chung những nghiên cứu của chúng ta đã đi đúng hướng, tiếp

cận được công nghệ thế giới đang quan tâm nhiều. Tuy nhiên số lượng

nghiên cứu và chất lượng các nghiên cứu của chúng ta còn cần được nâng



21

cao hơn, nhằm nhanh chóng được áp dụng trong thực tế sản xuất.



20



Hình 1.1. Hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi heo phổ biến

* Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh:

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm nhiều đến vấn

đề xử lý môi trường trong chăn nuôi. Cụ thể, từ năm 2008-2014, tỉnh thực

hiện Dự án khí sinh học cho ngành chăn nuôi Quảng Ninh (do Bộ NN&PTNT

và Tổ chức hợp tác phát triển Hà Lan thực hiện). Dự án này, ngân sách

Trung ương hỗ trợ 5,1 tỷ đồng, ngân sách tỉnh hỗ trợ gần 13 tỷ đồng, nhân

dân đóng góp khoảng 83 tỷ đồng. Nhờ đó, giai đoạn 2008-2014, tồn tỉnh

đã thực hiện



21



được gần 3.712 cơng trình biogas. Năm 2015-2017, tỉnh bỏ kinh phí tiếp tục

triển khai Dự án với chỉ tiêu hồn thành 2.359 cơng trình khí sinh học và từ

năm 2015 đến nay, tồn tỉnh đã có 804 cơng trình hồn thành. Ngồi các

cơng trình biogas từ Dự án khí sinh học cho ngành chăn ni do Trung

ương và tỉnh thực hiện, ở các địa phương còn nhiều cơng trình biogas do

người dân tự đầu tư xây dựng. Tất cả các cơng trình này khi đưa vào sử

dụng đều phát huy hiệu quả, góp phần giải quyết tình trạng ô nhiễm môi

trường do chất thải chăn nuôi của người dân gây ra, hạn chế dịch bệnh cho

người và vật ni; tạo sản phẩm phân bón sạch và cung cấp nguồn năng

lượng cho nhiều gia đình.

Mặc dù vậy, việc xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn tỉnh mới chỉ giải

quyết được một phần nhỏ. Theo Chi cục Thú y (Sở NN&PTNT), trong 6

tháng đầu năm 2016, toàn tỉnh có gần 200 gia trại, trang trại chăn ni

gia súc, gia cầm và hàng nghìn hộ chăn ni nhỏ lẻ với số lượng duy trì

khoảng 46.800 con trâu, 22.790 con bò, hơn 395.000 con lợn và hơn

2.761.000 con gia cầm. Ước tính chăn ni xả thải trên địa bàn tỉnh khoảng

650 tấn chất thải rắn/ngày đêm, chưa kể lượng nước tiểu gia súc. Như vậy

với số cơng trình biogas hiện có thì chỉ hơn 30% số chất thải rắn trong

chăn ni được xử lý qua hệ thống Biogas, số còn lại một phần người dân

ủ phân bón cho đồng ruộng, nhưng vẫn còn lượng khơng nhỏ xả thẳng ra

mơi trường. Theo Dự án khí sinh học của tỉnh thì đến hết năm 2017 tỉnh

hỗ trợ các hộ chăn nuôi xây dựng khoảng 1.560 cơng trình biogas nữa. Tuy

nhiên, với số lượng này, chắc chắn cũng chỉ giúp xử lý thêm một phần chất

thải trong chăn nuôi, trong khi số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn ngày

càng gia tăng và số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư cũng khơng hề

giảm.

Để giải bài tốn xử lý chất thải trong chăn ni, ngồi đầu tư xây dựng hệ

thống biogas theo chương trình, các địa phương cần tuyên truyền nâng

cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường; đồng thời hướng dẫn



22

các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ xử lý chất thải bằng phương pháp khác, như: Xử lý

bằng men



23



sinh học; xử lý bằng đệm lót sinh học... Các phương pháp này phù hợp với quy

mô chăn nuôi nhỏ, giá cả đầu tư hợp lý, không vượt quá khả năng của

người dân. Bên cạnh đó, tỉnh cần đẩy mạnh quy hoạch chăn nuôi trên địa

bàn một cách phù hợp, yêu cầu các địa phương quản lý cơ sở chăn nuôi

chặt chẽ. Khi xây dựng trang trại chăn nuôi cần phải đủ xa khu vực nội

thành, nội thị, khu đông dân cư và phải được đánh giá tác động mơi

trường trước khi xây dựng trang trại... Có như vậy mới tạo được sự hài hồ

giữa phát triển chăn ni và bảo vệ môi trường, nhất là ở các vùng nông

thôn, miền núi trên địa bàn (Thu Nguyệt, 2016 [15].

1.3.2. Trên Thế giới

Trang trại lớn quy mô

công nghiệp



Cơ sở chăn ni



H



Land



N



Bể

Kho

u





chứa,

chứ



Ruộn

phâ

hồ Dòn



nh

g,

Dòng chất thải

g

n

chứa

i

chấ



cánh

com

rắn

t

nước

t

ơng nướ

đồng

c

post

thải,

tiếp thải

h

thải

t

hệ n

rắn

h

Hình 1.2: Mơ hình quản lý chất thải rắn chănthống

niốhtrên thế giới



xử lýnậ

,

yếm gn

khí, bể

c

biogas n

h

dungnư



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.6: Tính chất nước thải chăn nuôi heo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×