Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Đánh giá chung:

* Đánh giá chung:

Tải bản đầy đủ - 0trang

53



Về lý do tại sao các trang trại chăn nuôi lớn đã lắp đặt các hầm biogas

nhưng vẫn gây ô nhiễm, thì ngun nhân chính do vận hành bảo dưỡng và

sửa chữa các hầm Biogas vốn đã gây tốn kém chi phí cho chủ chăn ni

trong khi lợi ích thu về từ sử dụng các sản phẩm của hầm Biogas (khí ga, phụ

phẩm) là khơng đang kể. Thậm chí có nhiều hộ gia đình được phỏng vấn

thừa nhận thường xuyên phải xúc bớt phân trong hầm Biogas đổ ra ngoài khi

hầm bị quá tải do dung tích quá nhỏ so với lượng chất thải đầu vào quá lớn.

Do vậy, các chủ chăn ni thường đối phó một cách hình thức với các

cấp chính quyền địa phương để được phép chăn ni và khơng quan tâm

vận hành các cơng trình Biogas đúng cách. Mặt khác, cơng trình Biogas có

dung tích và công suất xử lý môi trường cố định trong khi quy mô chăn

nuôi của chủ trang trại thường xuyên thay đổi. Một số hạn chế cơ bản

của các hầm Biogas là nếu xây hầm Biogas có dung tích vừa đủ so với nhu

cầu sử dụng khí gas thì sẽ bị quá tải khi tăng quy mô chăn nuôi và ngược

lại, nếu xây hầm Biogas có dung tích lớn thì sẽ bị thừa khí ga gây ơ nhiễm

khơng khí.

Tóm lại, cơng nghệ khí sinh học ở Việt Nam và dự án Khí sinh học

ngành chăn ni Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa bền vững do chưa

đem lại lợi ích kinh tế và hiệu quả môi trường cho các chủ chăn nuôi trên

địa bàn huyện Ba Chẽ.

3.2.4. Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn chăn nuôi lợn tại một số

trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Chất thải rắn từ các trang trại và gia trại nuôi lợn trên địa bàn sau khi

được thu gom, xử lý sẽ được tiêu thụ hết cho mục đích trồng rau, hoa, cây



cảnh.



54



55



Theo thống kê của Trung tâm Dịch vụ - Kĩ thuật nông nghiệp huyện Ba

Chẽ, 2017 [21], trung bình một năm hoạt động chăn ni lợn sẽ thải ra trên

30 nghìn tấn chất thải rắn. Chất thải này phần lớn được sử dụng làm phân bón

hữu cơ, trong số đó, có khoảng 40% số lượng được xử lý bằng phương pháp ủ

trước khi bón ruộng và khoảng 60% số lượng còn lại sử dụng nhưng không

qua xử lý. Tuy nhiên, từ kết quả điều tra thực tế cho thấy, chỉ khoảng 4050% lượng chất thải rắn trong chăn ni được xử lý, số còn lại bị thải trực

tiếp thẳng ra cống, ao hồ, kênh rạch. Lý giải cho điều này là do một số hộ gia

đình chỉ cần ni với số lượng nhỏ, lẻ từ 5-10 con lợn không thường xuyên

vệ sinh chuồng trại hàng ngày, xử lý phân, rác không hợp lý. Hơn nữa, các

chuồng nuôi nằm xen kẽ trong các khu dân cư, có quỹ đất nhỏ hẹp khơng

đủ diện tích dẫn đến những hộ xung quanh đều phải chịu hậu quả, chất thải

vẫn làm ảnh hưởng đến trực tiếp đến sức khỏe, sinh hoạt của các gia đình,

cũng như cảnh quan đường làng ngõ xóm.

Với gần 70% số hộ chăn ni lợn với số lượng ít, dưới 20 con/hộ, ni

trực tiếp tại chuồng trại trong hộ gia đình, hàng ngày số lượng chất thải

rắn (phân, nước rửa chuồng...) được xả thẳng ra các cống lộ thiên. Trong khi

đó, hệ thống cống rãnh cũng không được khơi thông liên tục, dẫn đến tình

trạng bốc mùi hơi thối, làm mơi trường cho dịch bệnh và cơn trùng gây bệnh

phát triển.

Ngun nhân chính được xác định gây ô nhiễm môi trường trong

ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Chẽ là do các chủ chăn nuôi sử

dụng nhiều nước. Kết quả điều tra cho thấy, một số chủ chăn ni sử dụng ít

nước đều có thể dễ dàng thu gom chất thải rắn để dùng làm phân bón hữu

cơ, ơ nhiễm mơi trường do chất thải lỏng khơng thể thu gom nên chỉ còn

cách xả trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các hầm khí sinh học Biogas)



xuống nguồn nước.



56



57



3.3. Đánh giá nhận thức của người dân về việc xử lý chất thải chăn nuôi

lợn trên địa bàn huyện Ba Chẽ

3.3.1. Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường

trong chăn nuôi

Môi trường chăn nuôi vốn chứa đựng rất nhiều loại vi khuẩn và các loại

công trùng gây bệnh nguy hiểm, nếu khơng có biện pháp thu gom và xử lý

chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe

con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt là các

virus biến thể từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh ở

lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều

người.

Tất cả các trang trại được hỏi đều nhận thức được mức độ nguy hiểm

khi không xử lý chất thải chăn nuôi trước khi thải bỏ ra môi trường như: Gây

mùi hôi thối, thu hút các loại côn trùng gây bệnh, có thể lây lan các dịch

bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Lượng chất thải

này gây ô nhiễm môi trường đất, nước, ảnh hưởng đến các loài động vật

và thực vật thủy sinh. Ngoài ra, chất thải không được xử lý gây ảnh hưởng

tới hoa màu như làm cho lúa bị tốp lốp, gãy đổ, mất mùa...

Khi được phỏng vấn về lý do khiến gia đình chưa áp dụng biện pháp xử

lý chất thải và khó khăn cũng như dự định về việc áp dụng biện pháp xử lý

chất thải của 31/83 hộ gia đình trên địa bàn huyện được phỏng vấn.

Bảng 3.8: Lý do khiến gia đình chưa áp dụng biện pháp xử lý chất thải

Lý do đưa ra



Số hộ



Tỷ lệ (%)



Thiếu vốn



11



35.48



Chưa biết đến các biện pháp xử lý



06



19.36



Thấy không cần thiết



14



45.16



31



100



Tổng



(Nguồn: Theo điều tra)



58



Nhận xét: Phần lớn các hộ gia đình đưa ra lý do “Khơng cần thiết”

chiếm 45,16% vì số lượng vật ni, nguồn thu nhập chính khơng phải từ

việc chăn nuôinên không quan tâm tớiviệc xử lý chất thải; 11/31 hộ

chiếm tỷ lệ 35,48% đưa ra lý do “Thiếu vốn” vì điều kiện kinh tế còn

nhiều khó khăn khơng sắp xếp được nguồn vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật

cũng như mua chế phẩm sinh học phục vụ xử lý chất thải; 06/31 hộ

còn lạiđược phỏng vấn chiếm 19,36% với lý do “Chưa biết đến các biện

pháp xử lý” phần lớn do không tham gia các buổi tuyên truyền, tập huấn

về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi cùng với thói quen trong sinh hoạt

đã in hằn trong tư duy dẫn đến không xử lý chất thải trước khi thải ra môi

trường.

Bảng 3.9: Dự định về việc áp dụng biện pháp xử lý chất thải

Dự định áp dụng biện pháp xử lý

chất thải



Số hộ



Tỷ lệ (%)







03



9.67



Chưa biết



27



87.1



Khơng



01



3.23



Tổng



31



100

(Nguồn: Theo điều tra)



Nhận xét: Chiếm tỷ lệ lớn với 87,1% các hộ gia đình được phỏng vấn

đưa ra “Chưa biết” khi được hỏi về dự định áp dụng biện pháp xử lý chất

thải vì họ mong chờ sự trợ giá, cho vay vốn và được hướng dẫn hơn thời

điểm hiện tại, một phần do chưa mạnh dạn ứng dụng các biện pháp hiệu

quả hơn trong xử lý chất thải; 03/31 hộ chiếm 9,67% trả lời “Có” dự định

sử dụng các biện pháp xử lý chất thải do đã có nhận thức nhất định trong

cơng tác bảo vệ



59



mơitrường; còn lại01 hộ chiếm 3,32% không xác định sử dụng biện pháp

xử

lý chất thải.

3.3.2. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các biện pháp xử lý

ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi tại các trang trại chăn nuôi

Hiện nay trên địa bàn huyện Ba Chẽ vẫn còn một phần lớn các hộ gia

đình khơng áp dụng các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn

nuôi, nguyên nhân là do:

- Việc chăn ni trên địa bàn các xã còn nhỏ lẻ, khơng tập chung nên

khó cho việc quy hoạch áp dụng mơ hình.

- Các hộ gia đình chăn ni nhỏ, lẻ chỉ nuôi từ 3 đến 5 con nên không

đáp ứng đủ nhu cầu cho việc hoạt động của bể Biogas hay các phương

pháp khác vì cảm thấy khơng cần thiết phải sử dụng.

- Chi phí cho việc xây dựng bể Biogas, mua chế phẩm sinh học,... khá

cao nên một số hộ gia đình khơng có đủ điều kiện để xây dựng, thực

hiện. Vấn đề về vốn luôn là rào cản lớn nhất khiến các hộ dân không thực

hiện các biện pháp xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường.

- Nhận thức của người dân về việc áp dụng hầm Biogas trong chăn ni

còn hạn chế. Người dân chưa biết được những lợi ích nhờ việc áp dụng

hầm Biogas trong chăn ni đối với gia đình và đối với môi trường và sinh

hoạt hằng ngày.

- Ý thức bảo vệ môi trường chưa cao. Công tác tuyên truyền, phổ

biến giáo dục pháp luật có thực hiện nhưng chưa hiệu quả.

Qua phỏng vấn 30 hộ gia đình trên địa bàn huyện sử dụng hầm Biogas

về chi phí xây dựng, chi phí sửa chữa, nạo vét hầm Biogas được kết quả thể

hiện trên biểu đồ.



60



Hình 3.13: Chi phí xây dựng, chi phí sửa chữa, nạo vét hầm Biogas (10

hộ ngẫu nhiên)

Nhận xét:

- Chi phí xây dựng: 28/30 hộ gia đình trên địa bàn huyện sử dụng hầm

Biogas trong xử lý chất thải chăn ni với chi phí xây dựng từ 1,5 triệu đến

1,8 triệu/m3 đây là mức giá sau khi đã trừ khoản hỗ trợ từ Dự án Khí sinh học

ngành chăn nuôi Việt Nam (khoảng 05 triệu/hầm) và nguồn kinh phí hỗ trợ

xóa đói giảm nghèo 135 của huyện; 02/30 hộ giađình tự thiết kế

xâydựng hầm có thể tích nhỏ và chi phí vào khoảng 1,3 triệu đến dưới 1,5

triệu đồng.

- Chi phí sửa chữa, nạo vét khi bể Biogas đầy trong quá trình sử dụng

vào khoảng từ 4 triệu đến 8 triệu/lần nạo vét, tùy thuộc vào thể tích bể và

giá thuê nhân công tại mỗi khu vực là khác nhau.



61



3.4. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý chất thải

chăn nuôi lợn nhằm bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh

Quảng Ninh

3.4.1. Giải pháp về quản lý nhà nước trong chăn nuôi và bảo vệ môi trường

- Nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường: Để người

dân biết vai trò của mơi trường đối với đời sống của con người như thế nào

để họ có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ môi trường sống.

- Tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về công dụng

của việc áp dụng Biogas trong chăn nuôi đối với môi trường và trong cuộc

sống hằng ngày.

- Trợ cấp về kinh tế vì kinh tế vùng nơng thơn còn thấp, mà để xây dựng

hầm Biogas cũng như là vận hành, bảo trì, bảo dưỡng cơng trình cần

một nguồn vốn nhất định nên việc xây dựng hầm Biogas cần được hỗ trợ

nhiều hơn để xây dựng cơ sở ban đầu.

- Hỗ trợ kỹ thuật vì bên cạnh việc cung cấp kinh phí cho hoạt động

nghiên cứu, thử nghiệm cho các hộ dân sử dụng Biogas các nhà đầu tư

cần phải quan tâm đến qua trình chuyển giao cơng nghệ nhằm nâng cao

hơn nữa chất lượng của Biogas.

- Hợp tác quốc tế: vì riêng trong lĩnh vực cơng nghệ năng lượng mới và

tái tạo, Việt nam cần phải học hỏi rất nhiều từ các nước khác. Các hầm Biogas

đã thực hiện trước đây đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các nước

khác như: Hà Lan, Đức… sự hỗ trợ cả về cơng nghệ và tài chính. Trong thời

gian tới chứng ta cần tham khảo công nghệ của các nước tiên tiến nhứng để

chúng áp dụng cụ thẻ vào nước ta thì cần phải có sự học hỏi về cơng

nghệ đó để chúng ta có thể hiểu rõ hơn trước khi đưa vào sử dụng chúng.

Chinh vì vậy việ hợp tác quốc tế cũng là một giải pháp quan trọng cần được

quan tâm.



60



3.4.2. Giải pháp về công nghệ

- Xây dựng hầm Biogas có dung tích phù hợp với quy mô chăn nuôi để

xử lý chất thải. Nguồn phân thải sau khi đưa vào bể chứa được phân huỷ

hết, giảm mùi hơi, ruồi nhặng và kí sinh trùng hầu như bị tiêu diệt trong bể

chứa. Tận dụng triệt để khí sinh học và năng lượng từ hầm Biogas.

- Sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải rắn làm phân bón, xử lý

mùi hơi chuồng và hầm Biogas:

+ Sử dụng hệ thống hai hầm ủ và chứa phân luân phiên. Sau mỗi lần

thải phân rải tro bếp để giảm mùi và điều chỉnh C/N. Cho phân vào 2/3

thể tích hầm thì cho thêm rác, lá cây vào và đậy nắp đất để ủ trong khoảng

2-3 năm. Tuy nhiên, để giảm thời gian ủ phân, nên cho các chế phẩm

sinh học trộn cùng với nguồn phân ủ.

+ Xử lý chất thải bằng ủ phân hữu cơ (Compost) là sử dụng chủ yếu bã

phế thải thực vật, phân của động vật mà thông qua hoạt động trực tiếp

hay gián tiếp của vi sinh vật phân hủy và làm tăng cao chất lượng của sản

phẩm, tạo nên phân bón hữu cơ giàu chất dinh dưỡng cung cấp cho cây

trồng. Người ta chọn chỗ đất không ngập nước, trải một lớp rác hoặc bã

phế thải trồng trọt dầy khoảng 20cm, sau đó lót một lớp phân gia súc hoặc

gia cầm khoảng 20- 50% so với rác (có thể tưới nếu phân lỏng, mùn hoai),

tưới nước để có độ ẩm đạt 45-50% rồi lại lại trải tiếp một lớp rác, bã phế

thải trồng trọt lên trên… đến khi đống ủ đủ chiều cao (không sử dụng cỏ

tranh, cỏ gấu để ủ). Dùng tấm ni lơng, bạt… đủ lớn để che kín đống phân ủ.

Cứ khoảng một tuần đảo đều đống phân ủ và bổ xung nước cho đủ độ ẩm

khoảng 45-50%, che nilơng, bạt kín lại như cũ. Ủ phân bằng phương pháp

này hoàn toàn nhờ sự lên men tự nhiên (tuy nhiên nếu được bổ sung men

vào đống ủ thì tốt hơn).



61



- Xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng bèo tây, bèo cái, rau ngổ và

rau muống:

Nước thải từ các trại chăn nuôi chứa rất nhiều nitrogen, phosphorus

và những hợp chất vơ cơ có thể hồ tan được. Rất khó tách những chất

thải này khỏi nước bằng cách quét rửa hay lọc thông thường. Tuy nhiên

một số loại cây thủy sinh như bèo lục bình, cỏ muỗi nước có thể xử lý

nước thải, vừa ít tốn kinh phí lại thân thiện với mơi trường. Cây muỗi

nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) là các loại

bản địa của vùng Đông Nam Á, thân và lá của nó có thể ăn sống hoặc chín

như một loại rau.

Nước thải từ các chuồng gia súc trước tiên cho chảy vào bể lắng, để

chất thải rắn lắng xuống đáy. Sau vài ngày cho nước thải trong chảy vào bể

mở có bèo lục bình hoặc cỏ muỗi nước. Mặt nước trong bể được cây che

phủ (mật độ khoảng 400 cây/bể). Nếu là bèo lục bình, bể có thể làm sâu tùy

ý, đối với cỏ muỗi nước thì để nước nông một chút, độ sâu bể xử lý

khoảng 30cm. Cỏ muỗi nước cần thời tiết mát mẻ, còn bèo lục bình phù

hợp với thời tiết ấm. Kích cỡ của bể tùy thuộc vào lượng nước thải cần được

xử lý.

- Chăn ni trên đệm lót sinh học: Hình thức chăn ni này còn được gọi

là chăn ni với đệm lót sinh thái hay chăn ni đệm lót lên men. Thay vì

ni các vật nuôi trên nền xi măng hoặc gạch cứng, người ta đã nuôi các con

vật nền chuồng bằng đất nện, sâu hơn mặt đất (-, âm), trên nền chuồng rải

một lớp đệm lót dày 60 cm và trên bề mặt đệm lót có phun một dung

dịch mên (hỗn hợp các vi sinh vật có ích). Đặc biệt, trong đệm lót chứa các

vi sinh vật có lợi nên sẽ rất hiệu quả trong việc phòng chống các bệnh dịch



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Đánh giá chung:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×