Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
7 Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ.

7 Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ.

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Rà sốt hành chính để xác định mức thuế chống bán phá giá chính thức

(administrative reviews);

+ Thực hiện các thủ tục rà sốt do có sự thay đổi hồn cảnh (changed

circumstances reviews), rà sốt “hồng hơn” (“sunset” reviews).

Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (US International Trade Commission - ITC)

chịu trách nhiệm:

+ Điều tra thiệt hại;

+ Tham gia vào q trình điều tra trong thủ tục rà sốt do thay đổi hồn cảnh

(changed circumstances reviews), và rà sốt “hồng hơn” (“sunset” reviews).

Cơ quan Hải quan Hoa Kỳ (US Customs Service) chịu trách nhiệm:

+ Thực thi các quyết định liên quan đến biện pháp chống bán phá giá;

+ Thu thuế chống bán phá giá.

Tòa án Thương mại quốc tế (US Court of International Trade - CIT):

+ Giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định của cơ quan có thẩm quyền

liên quan đến chống bán phá giá;

+ Quyết định của Tòa này về chống bán phá giá có thể bị kháng cáo lên Tòa Phúc

thẩm Liên bang Hoa Kỳ.

Cơ quan Đại diện thương mại Hoa Kỳ (The Office of the US Trade

Representative - USTR):

+ Tham gia đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế (trong đó có các hiệp

định liên quan đến chống bán phá giá);

+ Đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp

(trong đó có các tranh chấp liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá) theo thủ tục

của WTO.



18



CHƯƠNG II.

PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

2.1. Văn bản pháp luật của Hoa Kỳ về chống bán phá giá.

Pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ qui định các vấn đề trình tự, thủ tục, nội

dung của quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tại Hoa Kỳ và

các cơ quan có thẩm quyền trong các hoạt động này. Hiện nay, các vấn đề về chống bán

phá giá được qui định trong các văn bản sau đây:

- Luật chống bán phá giá 1916;

- Đạo luật Thuế quan 1930;

- Các Phần 1671-1677n, Mục 19 Bộ luật Hoa Kỳ (US Federal Code);

- Các Phần 351.101-702 Mục 19 Tập hợp các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ (US

Federal Regulation);

- Các Phần 207.1-120 Mục 19 Tập hợp các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ.

2.2. Nội dung pháp luật Hoa Kỳ về xác định một hành vi là bán phá giá.

2.2.1. Xác định giá trị thông thường.

Việc xác định giá trị thông thường (NV) dựa trên quan hệ phụ thuộc của các chủ

thể liên quan. Phạm vi các chủ thể được xem là có quan hệ phụ thuộc nhau theo pháp

luật Hoa Kỳ rộng hơn so với qui định tại ADA.

Đó có thể là các chủ thể có quan hệ gia đình, quan hệ giữa chủ sử dụng lao động

và người lao động, quan hệ liên doanh hợp tác,... Thường thì tiêu chí để xác định quan

hệ phụ thuộc này là quan hệ sở hữu. Theo luật, các bên được xem là “phụ thuộc nhau”,

nếu một bên chiếm ít nhất 5% cổ phần có quyền biểu quyết của bên kia.

Đó có thể là quan hệ giữa các chủ thể có sự kiểm sốt (bên này kiểm sốt bên kia,

hoặc cả hai bên cùng kiểm soát một bên thứ ba, hoặc cả hai cùng thuộc sự kiểm soát của

một bên khác). Khái niệm “kiểm soát” được hiểu là “ở vào vị trí có thể thực hiện sự hạn

chế hoặc điều khiển một cách hợp pháp hoặc trên thực tế”. Cách định nghĩa mơ hồ này

cho phép DOC có thể xác định quan hệ phụ thuộc ngay cả trên cơ sở những giao dịch

thương mại nhất định giữa các chủ thể (ví dụ: quan hệ cung cấp, phân phối lâu dài; quan

hệ nợ;...).

Hệ quả của quan hệ phụ thuộc giữa các chủ thể trong giao dịch:



19



Giá cả trong các giao dịch giữa các chủ thể “phụ thuộc nhau” như vậy sẽ khơng

được tính đến trong các hoạt động sau của DOC:

(i) Trong việc xác định các giao dịch được sử dụng để tính tốn NV: những giao

dịch loại này sẽ bị loại ra, trừ khi DOC xác định rằng quan hệ phụ thuộc đó khơng ảnh

hưởng đến giá bán của sản phẩm nước ngoài tương tự (trên cơ sở so sánh giá bình quân

trong giao dịch này với giá bình quân trong những giao dịch bình thường giữa nhà sản

xuất với các chủ thể độc lập).

(ii) Trong việc tính tốn chi phí sản xuất và trị giá tính tốn: trường hợp giữa nhà

sản xuất với nhà cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm bị điều tra hoặc sản

phẩm tương tự nước ngồi có quan hệ phụ thuộc, chi phí đầu vào của các sản phẩm này

sẽ khơng được sử dụng để tính tốn chi phí sản xuất nói chung, trừ khi DOC xác định

rằng quan hệ phụ thuộc này không ảnh hưởng đến giá đầu vào.

Trước khi tính tốn biên độ phá giá, DOC phải tiến hành một số điều chỉnh sau đối

với “NV” mà mình đã xác định:

- Điều chỉnh do có khác biệt về chủng loại giữa sản phẩm bị điều tra và sản phẩm

nước ngồi tương tự (ví dụ: khi khơng tìm được sản phẩm tương tự trên thị trường nước

xuất khẩu giống hệt với sản phẩm bị điều tra tại Hoa Kỳ);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về điều kiện bán hàng (ví dụ: nếu thời hạn thanh

tốn tiền áp dụng cho khách hàng tại thị trường nước xuất khẩu ngắn hơn thời hạn áp

dụng cho khách hàng tại Hoa Kỳ; khác biệt về các hình thức hỗ trợ kỹ thuật, dịch vụ,

quảng cáo...);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về cấp độ bán hàng (ví dụ trong thị trường nội

địa, sản phẩm thông thường được bán buôn và bán lẻ, nhưng tại Hoa Kỳ thì sản phẩm

chỉ được bán bn);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về số lượng hàng bán ra (DOC chỉ thực hiện

điều chỉnh này, nếu bị đơn có thể chứng minh được những khác biệt về số lượng này có

thể tạo ra sự chênh lệch giá);

- Điều chỉnh liên quan đến các khoản tín dụng (do có sự chênh lệch về thời gian

giữa ngày gửi hàng và ngày được thanh toán tiền hàng).



20



Tuy nhiên, pháp luật Hoa Kỳ không qui định cụ thể cách thức điều chỉnh khi có

các khác biệt nói trên. Vì vậy, DOC có thể tuỳ ý điều chỉnh các yếu tố này, do đó có

nhiều khả năng dẫn đến kết quả bất lợi cho nhà sản xuất và xuất khẩu.

“NV” sau khi được điều chỉnh vì các lý do như trên sẽ được DOC cộng thêm các

chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác có liên quan để hàng hóa được đặt trong tình

trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho vận chuyển sang Hoa Kỳ.

Ngược lại, DOC sẽ trừ đi các chi phí sau đây (nếu đã được gộp vào giá của sản

phẩm tương tự bán cho người mua tại thị trường nội địa nước xuất khẩu liên quan):

- Chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác liên quan để hàng hóa được đặt

trong tình trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho việc vận chuyển đến nơi giao hàng cho

người mua (trên thị trường nội địa nước XK hoặc người mua của một nước thứ ba);

- Chi phí vận chuyển hàng hóa từ nơi tập kết hàng đến nơi giao hàng cho người

mua;

- Các loại thuế đánh vào sản phẩm tương tự hoặc đánh vào các bộ phận cấu thành

của sản phẩm, nhưng đã được điều tra hoặc được miễn trừ.

Điểm đáng lưu ý là để DOC thực hiện các điều chỉnh này, các bên bị đơn khơng chỉ

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, mà còn phải đưa ra những lập luận chứng minh sự cần

thiết phải tiến hành các điều chỉnh này.

2.2.2 Xác định giá xuất khẩu.

Giá xuất khẩu (hay còn gọi là “giá Hoa Kỳ” - “US Price”) được xác định như sau:

- Giá của sản phẩm bị điều tra được nhà sản xuất, xuất khẩu bán lần đầu tiên cho

nhà nhập khẩu độc lập tại Hoa Kỳ hoặc giá bán cho một người mua độc lập để xuất khẩu

sang Hoa Kỳ (đây là giá bán trước ngày nhập khẩu vào Hoa Kỳ); hoặc

- Nếu không xác định được theo cách trên, thì giá XK sẽ được xác định là giá bán

sản phẩm trước hoặc sau ngày nhập khẩu từ người sản xuất, xuất khẩu hoặc nhà nhập

khẩu có quan hệ phụ thuộc tại Hoa Kỳ cho người mua độc lập đầu tiên của Hoa Kỳ (giá

XK theo trị giá tính tốn).

Theo qui định của pháp luật Hoa Kỳ, giá XK được sử dụng trong tính tốn biên

độ phá giá phải là giá xuất xưởng. Vì thế, để điều chỉnh về mức giá XK tại thời điểm

“xuất xưởng”, DOC sẽ:

(i) trừ đi các khoản sau đây, nếu chúng đã được tính gộp vào giá XK trước đó:



21



- Chi phí vận chuyển (bao gồm cước vận chuyển nội địa, thuê kho ở nước xuất

khẩu; cước vận chuyển hàng đến Hoa Kỳ, cước vận chuyển nội địa ở Hoa Kỳ, phí mơi

giới..) để đưa hàng hóa liên quan từ nơi bốc hàng tại nước xuất khẩu đến địa điểm giao

hàng trên lãnh thổ Hoa Kỳ;

- Thuế xuất khẩu hoặc các loại thuế, phí khác mà nước xuất khẩu đã đánh vào

hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ đó;

Trường hợp giá XK được tính theo cách 2 (giá XK theo trị giá tính tốn), thì

DOC sẽ trừ tiếp những khoản sau:

- Chi phí bán hàng trực tiếp hoặc gián tiếp mà nhà sản xuất, xuất khẩu phải chịu;

- Chi phí cho bất kỳ một hoạt động lắp ráp thêm nào được thực hiện tại Hoa Kỳ;

- Lợi nhuận phân bổ từ việc bán hàng, phân phối và sản xuất thêm ở Hoa Kỳ.

(ii) cộng thêm vào các khoản sau đây, nếu chúng chưa được tính gộp vào giá

XK:

- Các chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác liên quan để hàng hóa ở tình

trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho việc vận chuyển sang Hoa Kỳ;

- Thuế nhập khẩu do nước xuất khẩu đánh vào hàng hóa, nhưng đã được miễn trừ

hoặc trả lại vì lý do hàng được xuất khẩu sang Hoa Kỳ;

- Thuế đối kháng mà Hoa Kỳ đã áp dụng đối với sản phẩm, nếu có.

2.2.3 Xác định biên độ phá giá (margin of dumping – MD).

Biên độ phá giá của hàng hóa bị điều tra được DOC tính tốn trên cơ sở hiệu số

giữa NV và EP của hàng hóa. Khoảng chênh lệch giữa hai loại giá này, tính trên tỉ lệ

phần trăm so với EP, sẽ là biên độ phá giá.

Biên độ phá giá = (Giá trị thông thường – Giá xuất khẩu)/Giá xuất khẩu

hay

MD = (NV – EP)/EP

Mức thuế chống bán phá giá sẽ được DOC xác định căn cứ trên biên độ phá giá

này. DOC áp dụng hai phương pháp tính biên độ phá giá khác nhau trong hai trường

hợp: trong q trình điều tra và trong q trình rà sốt.

Trong quá trình điều tra, biên độ bán phá giá được tính theo một trong 3 cách sau

đây:



22



- So sánh EP bình quân của sản phẩm tương tự trong suốt khoảng thời gian điều

tra với “NV” bình quân trong cùng khoảng thời gian đó đối với từng nhà sản xuất, xuất

khẩu nước ngoài; hoặc

- So sánh EP và “NV” của từng giao dịch của mỗi nhà sản xuất, xuất khẩu; hoặc

- So sánh NV bình quân với EP của từng giao dịch, nếu EP chênh lệch khá lớn

giữa những người mua, vùng lãnh thổ, thời điểm giao dịch, và DOC phải giải thích lý do

vì sao 2 cách tính trên khơng thích hợp khi sử dụng vào những trường hợp đó.

Trong q trình rà sốt (rà sốt hành chính, rà sốt “hồng hơn”, hoặc rà sốt do

thay đổi hồn cảnh):

Khi so sánh EP của từng giao dịch với NV bình quân, NV bình quân này chỉ được

xác định trên cơ sở tính bình qn các NV của tháng diễn ra giao dịch liên quan. Nếu

khơng thể xác định được NV bình qn trong tháng đó, thì xác định giá này trong

khoảng thời gian 3 tháng ngay trước lần bán hàng vào Hoa Kỳ đó. Nếu khơng xác định

được NV trong giai đoạn này, thì xác định theo giá bình quân trong khoảng thời gian 2

tháng sau lần bán hàng liên quan. Nếu cách này cũng khơng được, thì DOC sẽ tự xác

định một NV phù hợp.

2.2.4. Xác định thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa.

ITC có trách nhiệm xác định ngành sản xuất nội địa liên quan đến sản xuất hàng hoá

tương tự. Theo Đạo luật thuế quan năm 1930, ngành sản xuất nội địa là “toàn bộ các

nhà sản xuất trong nước sản xuất một sản phẩm tương tự, hoặc những nhà sản xuất có

sản lượng chung chiếm một phần chủ yếu tổng sản lượng sản xuất trong nước của sản

phẩm đó”. Các nhà sản xuất sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ mà có quan hệ với những

nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu, hoặc chính họ là người nhập khẩu những sản phẩm đang

bị coi là bán phá giá, có thể bị loại trừ, và khơng được coi là thuộc ngành sản xuất nội

địa “trong các trường hợp thích hợp”. Các bên bị coi là có quan hệ, nếu một bên thực

hiện quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bên kia. Sự quan tâm của ITC đến

trường hợp bên có quan hệ là: liệu quan hệ của những người sản xuất với những nhà

xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hố bán phá giá có tạo cho họ một vị trí đặc biệt, hoặc vị

trí được bảo vệ chắc chắn trên thị trường hay không, khi so sánh với những nhà sản xuất

khác?



23



Lấy ví dụ, trong lĩnh vực sản xuất thép cán cuộn, các cuộn thép cuộn nóng có thể

được bán hoặc được sử dụng như là sản phẩm cuối cùng hoặc có thể được tiếp tục chế

biến thêm thành sản phẩm thép cuộn nguội hoặc thành thép không gỉ. Vấn đề nảy sinh

là: liệu có nên đánh giá thiệt hại trên cơ sở tổng sản lượng của sản phẩm đó khơng? hay

chỉ trên cơ sở tổng sản lượng được bán trên “thị trường mua bán”?

Thơng thường, ITC sẽ xem xét điều kiện của tồn bộ các nhà sản xuất Hoa Kỳ

sản xuất sản phẩm nội địa tương tự, khi xác định xem liệu thiệt hại “đáng kể” có phải bắt

nguồn từ hàng hố được nhập khẩu một cách không công bằng hay không? ITC sẽ xem

xét tác động của hàng nhập khẩu được bán phá giá đến tổng sản lượng của sản phẩm

tương tự nội địa. Tuy nhiên, nếu những điều kiện nhất định được xác định là có tồn tại,

thì ITC sẽ tập trung chủ yếu vào “thị trường mua bán” để xác định thiệt hại.

2.2.5. Xác định tác động của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra.

- Các yếu tố được xem xét:

Về cơ bản, các yếu tố được ITC xem xét trong quá trình này là sự sụt giảm thực

tế hoặc tiềm tàng về sản lượng, thị phần, lợi nhuận, ảnh hưởng tiêu cực đến sự lưu

chuyển vốn, sử dụng nhân cơng, lương, khả năng tăng cường vốn và đầu tư.

Ngồi ra, ITC còn tiến hành xem xét một số yếu tố khác, như: ảnh hưởng tiêu cực

(thực tế hoặc tiềm tàng) đến các cố gắng của ngành sản xuất trong nước trong sản xuất

và phát triển (bao gồm cả các cố gắng để phát triển một loại sản phẩm khác tiến bộ hơn

hoặc có cải tiến mới). ITC xem xét cả độ lớn của biên độ phá giá mà DOC đã tính tốn

như một yếu tố để xác định mức độ ảnh hưởng.

Theo qui định, ITC phải xem xét các yếu tố nói trên trong bối cảnh của chu kỳ

kinh doanh, có tính đến tất cả các nhân tố cạnh tranh liên quan riêng có của ngành sản

xuất đang xem xét.

- Cách xác định mối quan hệ nhân quả:

Để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra bán

phá giá với thiệt hại của ngành sản xuất nội địa liên quan, ITC thường sử dụng cơng thức

tính tốn do Phòng Kinh tế của ITC thiết lập. Theo công thức này, người ta sẽ tính tốn

sản lượng và mức giá mà ngành sản xuất nội địa đáng lẽ đạt được, nếu khơng có sự tồn

tại của hàng hóa nhập khẩu liên quan, từ đó tính tốn mức độ ảnh hưởng của hàng nhập

khẩu.



24



- Kết luận về thiệt hại “đáng kể”:

Trên cơ sở kết quả điều tra về tác động của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra bán

phá giá đến ngành sản xuất trong nước, ITC sẽ cân nhắc mức độ thiệt hại của ngành sản

xuất trong nước. Nếu ITC cho rằng thiệt hại này là “đáng kể”, thì cơ quan này sẽ ra kết

luận khẳng định về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt

hại.

- “Nguy cơ” gây thiệt hại đáng kể:

Trong trường hợp ITC xác định rằng hàng hóa nhập khẩu khơng gây thiệt hại

đáng kể cho ngành sản xuất nội địa, thì ITC sẽ phải tiếp tục xác định xem: liệu trong

tương lai có thể xảy ra việc bán phá giá ở mức độ lớn khơng? và nếu có, thì liệu có thể

gây ra thiệt hại đáng kể hay khơng, nếu khơng có quyết định áp đặt thuế chống bán phá

giá hoặc một thoả thuận đình chỉ? Nếu câu trả lời là có, thì ITC sẽ đưa ra kết luận khẳng

định, với lý do có “nguy cơ” gây thiệt hại đáng kể.

- Cản trở sự phát triển của ngành sản xuất nội địa:

Nếu thiệt hại được xác định là có tác động gây cản trở việc hình thành ngành sản

xuất nội địa, thì ITC phải xem xét xem thực tế ngành sản xuất nội địa đã hình thành hay

chưa? Cụ thể là: (i) thời điểm bắt đầu việc sản xuất ra sản phẩm đó tại Hoa Kỳ; (ii) việc

sản xuất đó có được tiến hành ổn định hay không, hay vừa mới bắt đầu tiến hành đã kết

thúc? (iii) qui mô của ngành sản xuất nội địa đó trong tương quan với tổng thể thị trường

nội địa; (iv) ngành sản xuất liên quan của Hoa Kỳ có đạt được mức hồ vốn hay khơng?;

và (v) những hoạt động đó đã thực sự là một ngành sản xuất mới hay chưa, hay mới chỉ

dừng lại ở một dây chuyền sản xuất của một nhà máy? Nếu ngành sản xuất liên quan

chưa được hình thành, thì ITC sẽ đánh giá xem những khó khăn của ngành sản xuất đó

là những khó khăn thơng thường khi một ngành sản xuất mới khởi động thường gặp

phải, hay đó là hệ quả của việc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra liên quan.

2.3. Thủ tục xác định một hành vi là bán phá giá theo pháp luật Hoa Kỳ.

2.3.1. Bảng câu hỏi.

Việc thu thập những thông tin cần thiết để xác định liệu có tồn tại việc bán phá giá

hay không và phá giá với mức độ nào sẽ được thực hiện bằng cách sau đây: DOC gửi

cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu những mặt hàng đang được điều tra những bản yêu

cầu cung cấp thông tin (Requests for Information - RFI), hoặc bảng câu hỏi. Do cơ cấu



25



kinh doanh đã trở nên phức tạp hơn và những yêu cầu từ các hiệp định liên quan của

WTO cũng ngày càng rắc rối, nên bảng câu hỏi này cũng ngày càng trở nên chi tiết và

phức tạp hơn. Bảng câu hỏi thông thường phải được trả lời trong thời hạn 30 ngày, tuy

nhiên, trong những trường hợp nhất định, có thể gia hạn thêm một thời gian ngắn để trả

lời.

DOC thường chỉ kiểm tra doanh số bán hàng chiếm khoảng từ 60% đến 85% trong

tổng kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ từ một nước đối tượng cụ thể. Do vậy, những nhà

sản xuất hoặc người xuất khẩu nhỏ có thể sẽ khơng nhận được bảng câu hỏi. Nếu việc

trả lời bảng câu hỏi không đầy đủ và thoả đáng, thì bên trả lời sẽ được nhanh chóng

thơng báo về sự khơng đầy đủ và thoả đáng này, đồng thời được tạo cơ hội để sửa chữa

hoặc giải thích sự khơng đầy đủ này. DOC có thể sẽ phải xem xét đến các thông tin phản

hồi được đệ trình trong thời gian gia hạn, nếu bên trả lời đã “cố gắng hết khả năng của

mình” để cung cấp các thông tin được yêu cầu.

Cũng như DOC, ITC sử dụng bảng câu hỏi như một phương thức cơ bản trong

việc thu thập thông tin. Thông thường, bảng câu hỏi chia làm hai loại: loại điều tra và

loại thủ tục hành chính. Đối tượng của bảng câu hỏi cũng chia làm hai loại: loại kinh tế

thị trường và loại theo kinh tế nhà nước. Bảng câu hỏi nhằm tìm hiểu những thông tin cụ

thể sau:

- Phần A hỏi các thông tin tổng quát về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động

của công ty tham dự điều tra, số lượng và trị giá của sản phẩm trên tất cả thị trường sản

phẩm mà cơng ty có mặt.

- Phần B hỏi các thông tin về dịch vụ bán hàng, dùng để thẩm định “NV” của sản

phẩm nhập khẩu. Phần này sẽ hỏi tất cả các thông tin của tất cả các đơn vị kinh doanh

mặt hàng đang tham dự điều tra trong thời gian điều tra tại thị trường của nước xuất

khẩu, hoặc nếu hàng khơng có ở thị trường nước xuất khẩu, thì hỏi các thơng tin của một

thị trường thứ ba, nơi có bán sản phẩm đó.

- Phần C hỏi về con số thống kê các dịch vụ bán hàng ở Hoa Kỳ trong thời gian

điều tra để thẩm định giá xuất khẩu.

- Phần D yêu cầu các thơng tin về chi phí sản xuất. Phần này tập trung về khía

cạnh sản xuất thay vì khía cạnh tiếp thị. Trong trường hợp có liên quan đến nền kinh tế

nhà nước, phần này là rất quan trọng, đòi hỏi công ty được hỏi phải trả lời chi tiết về mọi



26



sự tác động đến sản xuất để cơ quan điều tra có thể định lượng được các yếu tố sản xuất

đưa đến giá đang áp dụng. Thông thường, cơ quan điều tra cần nghiên cứu thông tin

nhận được từ Phần A trước khi thẩm định được là công ty được hỏi thuộc dạng kinh tế

thị trường hay kinh tế nhà nước.

- Phần E hỏi về các giá trị gia tăng cho mặt hàng sau khi đã nhập khẩu vào lãnh

thổ Hoa Kỳ như lắp ráp, đóng gói,…nếu có, trước khi chuyển qua cho các bạn hàng

không liên kết. Phần này thường được thẩm định sau khi nghiên cứu Phần A để biết về

mơ hình hoạt động của cơng ty xuất khẩu. Theo một điều khoản do URAA bổ sung năm

1994, DOC và ITC phải tạo cho các hiệp hội người tiêu dùng và các hiệp hội ngành hàng

cơ hội đệ trình các thơng tin liên quan phục vụ cho cơng việc xem xét. Cả DOC lẫn ITC

đều phải tính đến những khó khăn mà các bên, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và các

doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển gặp phải trong quá trình cung cấp các

thơng tin theo u cầu. Hai cơ quan có thẩm quyền sẽ cung cấp sự hỗ trợ như vậy, nếu

xét thấy có thể, để tránh tạo ra các gánh nặng vô lý cho bên trả lời.

2.3.2. Các dữ kiện thực tế sẵn có (Những thơng tin tốt nhất sẵn có)

Nếu một bên được hỏi khơng có khả năng hoặc không sẵn sàng cung cấp những

thông tin do DOC và ITC yêu cầu trong thời hạn quy định và theo hình thức được u

cầu, thì các cơ quan này có thể dựa trên các “dữ kiện thực tế sẵn có”, kể cả những lý lẽ

viện dẫn trong đơn khiếu kiện và những nhận định trước đó để đưa ra quyết định. Nếu

bên được hỏi từ chối hợp tác, nhìn chung, DOC sẽ đưa ra kết luận bất lợi và áp đặt mức

thuế suất cao nhất có thể.

DOC và ITC có thể sẽ xem xét những hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp khi

cung cấp những thông tin theo yêu cầu, bao gồm (nhưng không giới hạn): quy mô, hệ

thống kế tốn, năng lực máy tính của doanh nghiệp, cũng như sự thành cơng trước đó

của cùng một cơng ty hay của các công ty tương tự khác. Theo Luật chống bán phá giá

của Hoa Kỳ, nếu “các dữ kiện thực tế sẵn có” được sử dụng làm căn cứ, thì các thơng tin

này cần phải được chứng thực khi có thể, bằng cách sử dụng các nguồn thông tin độc

lập.

2.3.3. Thẩm tra

DOC phải thẩm tra tất cả các thông tin mà DOC căn cứ vào đó để đưa ra quyết

định cuối cùng về việc tiến hành hay hủy bỏ quá trình điều tra đầu tiên. Trong mỗi lần rà



27



sốt hàng năm, việc thẩm tra sẽ được tiến hành, nếu bên có quyền và lợi ích trong nước

u cầu, và nếu khơng có cuộc thẩm tra nào trong suốt hai đợt rà sốt liên tiếp liền ngay

trước đó. Ngồi hai trường hợp trên, việc thẩm tra thuộc quyền tuỳ ý quyết định của

DOC. DOC buộc phải nhận được sự đồng ý của bên nước ngồi có liên quan về q

trình thẩm tra này. Nếu bên bị thẩm tra hay chính phủ nước ngồi phản đối việc thẩm tra,

DOC sẽ khơng tiến hành thẩm tra, mà thay vào đó, DOC sẽ sử dụng các “dữ kiện thực tế

sẵn có” để đưa ra quyết định của mình. DOC viết báo cáo theo tiến trình thẩm tra và

đồng thời tạo cơ hội cho bên khiếu kiện và bên bị kiện đệ trình biện hộ và giải thích.

2.3.4. Xử lý thơng tin

Những thơng tin được các bên gửi đến DOC hoặc ITC được xem là cơng khai, trừ

phi nó được xác định rõ là “thơng tin thuộc sở hữu độc quyền”. Nếu các bên muốn

khẳng định sở hữu độc quyền đối với những thông tin trong bản đệ trình của mình, thì sẽ

phải chứng minh cho DOC hoặc ITC rằng tại sao mỗi một phần thông tin lại không được

phép tiết lộ công khai. Sơ lược các thông tin thuộc sở hữu độc quyền cần bảo mật phải

được gửi đến đồng thời cùng với bản đệ trình. Nếu được chấp nhận là thơng tin thuộc sở

hữu độc quyền, tài liệu được định rõ như vậy có thể được trao cho những cá nhân cụ thể

nhất định theo một trình tự bảo mật hành chính (APO).

Các luật sư hoặc những đại diện khác nhau của bên có quyền và lợi ích liên quan

có thể tiếp cận được các bản đệ trình thuộc sở hữu độc quyền của các bị đơn, nếu họ

chứng minh được nhu cầu tiếp cận thơng tin thích đáng của mình, và có thể bảo mật thoả

đáng hiện trạng của sở hữu độc quyền trong tài liệu. Hành vi vi phạm các trình tự bảo

mật hành chính có thể dẫn đến các hình phạt, hoặc khai trừ hành nghề luật sư. Những

thông báo về các quyết định bắt đầu và đình chỉ, các quyết định sơ bộ và cuối cùng, và

về những lần rà soát (kể cả những dữ kiện thực tế sẵn có và những kết luận chứng minh

cho các quyết định trên) phải được công bố công khai trên Công báo Liên bang.

2.3.5. Sản phẩm tương tự và các quyết định về phạm vi điều tra

Liệu một sản phẩm cá biệt nào đó có thuộc phạm vi điều tra chống bán phá giá

hay khơng? Trong trường hợp này, DOC có thể ban hành “những quyết định về phạm vi

điều tra”, trong đó làm rõ phạm vi của một lệnh điều tra về một hàng hoá cụ thể. Những

quy định trên nhằm đảm bảo chắc chắn rằng hàng hố nhập khẩu có thể so sánh được

với “hàng hoá cùng loại” được sản xuất tại Hoa Kỳ, hoặc “hàng hóa tương tự”. Một “sản



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

7 Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×