Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tên Công ty



Biên độ phá giá sơ Biên độ phá giá

bộ (%)



Công ty SeAH Steel VINA

0.00

Công ty Vietnam Haiphong Hongyuan

0.00

Machinery Manufactory Co., Ltd

Công ty Sun Steel Joint Stock

9.32

Company

Công ty Huu Lien Asia Corporation

9.32

Cơng ty Thép Hòa Phát

9.32

Các doanh nghiệp Việt Nam khác

27.96



cuối cùng (%)

3.96

5.17

4.57

4.57

4.57

27.96



- Kết luận về điều tra thiệt hại của ITC:

Ngày 15/11/2012, ITC ra kết luận cuối cùng theo đó khơng có thiệt hại do hành vi

bán phá giá hay trợ cấp gây ra đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, do vậy, DOC

không áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm ống thép của Việt Nam, Oman, Ấn

Độ và Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất.

3.1.2. Vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá ba sa13

Bên nguyên đơn: Hiệp hội chủ trại nuôi cá da trơn Hoa Kỳ (CFA).

Bên bị đơn: Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá ba sa vào Hoa Kỳ (11 doanh

nghiệp).

CFA đã đệ đơn lên ITC và DOC kiện một số doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá

cá tra, cá basa vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó đề xuất về mức thuế chống phá giá như

sau:

- Nếu Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường: 144%

- Nếu Việt Nam là NME: 190%

Giai đoạn điều tra:

Ngày 3/7/2002, ITC bắt đầu điều tra và xác định xem ngành sản xuất của Hoa Kỳ

có chịu những thiệt hại đáng kể hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể do hàng cá tra, cá basa

nhập khẩu từ Việt Nam hay không? và gửi bảng câu hỏi điều tra cho các doanh nghiệp

Việt Nam.

Ngày 18/7/2002, DOC khởi xướng điều tra và tiến hành các giai đoạn công bố,

tập hợp ý kiến các bên.

13



http://chongbanphagia.vn/thongtinvukien/20090106/ca-da-tron



39



Kết luận điều tra:

Ngày 24/4/2003, ITC đưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng định doanh nghiệp Việt

Nam bán phá giá với giá thấp hơn giá thành và gây thiệt hại cho ngành sản xuất của Hoa

Kỳ, và ấn định mức thuế suất bán phá giá 36,84 - 63,88%. Mức thuế này bắt đầu có hiệu

lực từ giữa tháng 8/2003.

Ngày 7/8/2003, DOC chính thức cơng bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với

11 doanh nghiệp Việt Nam (theo mức thuế đã được đề xuất sửa đổi vào ngày

18/07/2003).

Mức thuế chống bán phá giá cá tra, cá basa trong quyết định cuối cùng của rà sốt

hành chính hàng năm lần 1 đối với các doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ

(ngày 21/03/2005)



Mức thuế sửa đổi trong

quyết định sơ bộ của rà



Tên cơng ty



sốt hành chính hàng

năm lần 1 (%)



Agifish

CATACO

Vĩnh Hoàn

Nam Việt

Bị đơn tự nguyện

(Afiex,



Cafatex,



Đà



Nẵng,



Mekonimex, AVD, Việt Hải và

Vĩnh Long)

Các công ty không tham gia vụ

kiện (bao gồm cả Phan Quân)



Mức thuế sửa đổi

trong quyết định cuối

cùng của rà sốt hành

chính hàng năm lần 1

(%)



47,05

38,8

7,23

53,68



47,05

80,88

6,81

53,68



45,55



45,55



63,88



63,88



3.1.3. Vụ DS404 - Tôm nước ấm đông lạnh - Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của

Việt Nam tại WTO.14

- Nguyên đơn: Việt Nam

- Bị đơn: Hoa Kỳ

- Các bên thứ ba: Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mexico, Thái Lan,

Trung Quốc và Ấn Độ

14



http://wto.org/english/tratop_e/dispu_e/cases_e/ds404_e.htm



40



- Đối tượng khiếu nại: phương pháp “Zeroing” và thuế chống bán phá giá của

Hoa Kỳ.

- Kết quả:

DSB ủng hộ khiếu kiện của Việt Nam liên quan đến phương pháp “quy về 0” mà

Hoa Kỳ áp dụng trong các điều tra rà sốt hành chính: Ban hội thẩm kết luận phương

pháp này của Hoa Kỳ (áp dụng trong các rà soát lệnh áp thuế chống bán phá giá đối với

tôm Việt Nam) là vi phạm các Điều 2.4 và 9.3 ADA. Kết luận này phù hợp với kết luận

trong nhiều tranh chấp trước đây trong khuôn khổ WTO về vấn đề tương tự.

Bác khiếu kiện của Việt Nam về việc Hoa Kỳ hạn chế số lượng bị đơn bắt buộc:

Đây là khiếu kiện duy nhất trong vụ kiện mà Việt Nam chưa thắng.

Ủng hộ khiếu kiện của Việt Nam về việc Hoa Kỳ áp dụng mức thuế suất không

phù hợp cho các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn: Do Hoa Kỳ đã sử dụng phương

pháp “Quy về 0” trong tính tốn mức thuế suất được sử dụng để áp cho các bị đơn bắt

buộc, mà phương pháp “quy về 0” đã bị xác định là vi phạm ADA, nên mức thuế suất

được tính tốn dựa trên phương pháp này cũng bị xem là vi phạm ADA. Đây là một

“chiến thắng gián tiếp” của Việt Nam, cho dù Ban hội thẩm chưa đề cập trực tiếp vấn đề

này.

Ủng hộ khiếu kiện của Việt Nam liên quan đến phương pháp tính mức thuế suất

trên phạm vi “tồn lãnh thổ” của Hoa Kỳ: Ban hội thẩm kết luận phương pháp này của

Hoa Kỳ vi phạm Điều 9.4 ADA. Đây là lần đầu tiên DSB có kết luận về vấn đề này. Vì

vậy, đây được xem là một thắng lợi rất đáng kể của Việt Nam, có ý nghĩa “án lệ” với rất

nhiều vụ việc sau này, nếu có, ở Hoa Kỳ liên quan đến hàng xuất khẩu của Việt Nam.

- Kết luận của Ban hội thẩm:

Hoa Kỳ có các hành vi vi phạm các điều khoản của ADA và GATT 1994. Điều này

đã gây thiệt hại cho các quyền của Việt Nam theo các hiệp định này. Vì vậy, Ban hội

thẩm khuyến nghị Hoa Kỳ điều chỉnh các biện pháp liên quan cho phù hợp với các quy

định của WTO. Báo cáo này đã không bị Hoa Kỳ kháng nghị và được DSB thông qua

ngày 1/9/2011.

3.2. Bài học đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam và giải pháp đối phó với

các vụ kiện chống bán phá giá.



41



3.2.1. Tiếp tục đóng góp cho sự hồn thiện hệ thống pháp luật, bồi dưỡng cán bộ

thông hiểu luật pháp thương mại quốc tế.

Sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật, sự thiếu hụt cán bộ có kiến thức vững

vàng về luật pháp thương mại quốc tế, đặc biệt là kiến thức về lĩnh vực chống bán phá

giá, trở thành khó khăn lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, khi phải chống lại các vụ

kiện chống bán phá giá. Trong khi đó, đây lại là hai thế mạnh của bên nước ngoài. Do

vậy, việc cấp bách cần làm hiện nay để kịp thời đối phó với các vụ kiện chống bán phá

giá là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại, kế toán. Pháp lệnh chống

bán phá giá cần nhanh chóng đưa vào q trình thực thi. Đây vừa là công cụ pháp lý bắt

buộc phải có để đối phó với hàng nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam, vừa là vũ khí tốt

giúp cho quá trình đàm phán với các nước khác, theo kiểu “nếu anh điều tra bán phá giá

với hàng của tôi, thì tơi cũng sẽ điều tra bán phá giá với hàng của anh”.

Đồng thời, Nhà nước cũng cần mời các chuyên gia nước ngoài về chống bán phá

giá bồi dưỡng những kiến thức về chống bán phá giá cho đội ngũ cán bộ của doanh

nghiệp và các cơ quan hữu quan, hoặc cử người đi học ở nước ngoài nhằm hình thành

một nguồn chuyên gia vững mạnh về chống bán phá giá.

Kiến thức về chống bán phá giá cần được phổ biến rộng rãi đến các doanh

nghiệp. Qua các vụ kiện, doanh nghiệp Việt Nam sẽ hiểu rõ hơn rằng: muốn vào thị

trường quốc tế thì cần phải biết “luật chơi” của nó, muốn “chơi với Hoa Kỳ” thì cần phải

biết luật Hoa Kỳ và “chơi theo kiểu Hoa Kỳ”.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp và các cơ quan chức năng của Việt Nam còn có

những hạn chế về kinh nghiệm trong các vụ kiện tụng, tranh chấp về thương mại như vụ

cá basa, thép, tôm, cũng như những hạn chế về hiểu biết luật pháp quốc tế và ngoại ngữ,

nhất là tiếng Anh, do đó khơng đủ để ứng phó trong những vụ kiện quốc tế. Đó là những

điểm yếu của ta cần được bổ sung. Thực trạng của các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt

Nam là: chỉ chủ yếu chăm lo sản xuất, tìm bạn hàng, tìm thị trường, mà chưa chú ý đúng

mức đến nghiên cứu luật lệ thương mại các nước, luật chống bán phá giá và các thủ tục

khác có liên quan đến xuất khẩu, để có sự phòng ngừa ngay từ đầu những tranh chấp

đáng tiếc có thể xảy ra.



42



3.2.2. Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về thị trường xuất khẩu, về luật thương mại

quốc tế, luật chống bán phá giá của các nước... và phổ biến, hướng dẫn cho các

doanh nghiệp các thơng tin cần thiết nhằm phòng ngừa tranh chấp.

Hiện nay, Phòng Thương mại và Cơng nghiệp Việt Nam (VCCI) đã và đang xây

dựng một cơ sở dữ liệu nhằm cập nhật thông tin và kịp thời hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt

Nam khi bị kiện chống bán phá giá. Trang thông tin điện tử về các vụ kiện chống bán

phá giá có thể dễ dàng được cập nhật tại địa chỉ www.chongbanphagia.vn, hoặc

www.anti-dumping.vn. Các thông tin về các mặt hàng đang bị điều tra phá giá tại Hoa

Kỳ, và các nước cũng được cập nhật hàng tuần.

Bộ Công thương cùng các cơ quan hữu quan cần có đề án xây dựng và nghiên

cứu về luật chống bán giá giá của các nước, tổ chức hội thảo, diễn đàn cho các doanh

nghiệp xuất khẩu Việt Nam tham gia, xây dựng, lấy ý kiến đóng góp nhằm cập nhật tình

hình chống bán phá giá ở các quốc gia mà Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang. Qua đó

chủ động phòng ngừa và đối phó, giảm thiểu thiệt hại khi có các vụ kiện chống bán phá

giá diễn ra.

3.2.3. Các giải pháp đối phó với vụ kiện chống bán phá giá đã xảy ra.

* Về phía Chính phủ: cần tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp trong kháng kiện

- Thành lập quỹ trợ giúp theo đuổi các vụ kiện để hỗ trợ tài chính cho các doanh

nghiệp kháng kiện.

- Cung cấp cho các doanh nghiệp các thông tin cần thiết về các thủ tục kháng

kiện, giới thiệu các luật sư giỏi ở nước sở tại có khả năng giúp cho doanh nghiệp thắng

kiện,...

* Về phía các hiệp hội ngành hàng: cần phát huy vai trò là tổ chức tập hợp và

tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành, nhằm nâng cao năng lực

kháng kiện của các doanh nghiệp.

- Thông qua hiệp hội quy định hành vi bảo vệ lẫn nhau, phối hợp giá cả trên thị

trường, tránh tình trạng cạnh tranh khơng lành mạnh có thể tạo ra cớ gây ra các vụ kiện

của nước ngoài.

- Thiết lập cơ chế phối hợp trong tham gia kháng kiện và hưởng lợi khi kháng

kiện thành cơng, để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia kháng kiện.



43



- Tổ chức cho các doanh nghiệp nghiên cứu thông tin về giá cả, định hướng phát

triển thị trường, pháp luật của nước sở tại về chống bán phá giá,... để các doanh nghiệp

kháng kiện có hiệu quả và giảm bớt thiệt hại do thiếu thông tin.

* Về phía các doanh nghiệp: cần chủ động theo đuổi các vụ kiện khi bị nước

ngoài kiện bán phá giá.

- Hoàn thiện hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán phù hợp với các quy định của

luật pháp và chuẩn mực quốc tế, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về tình hình kinh doanh nhằm

chuẩn bị sẵn sàng các chứng cứ, các lập luận chứng minh không bán phá giá của doanh

nghiệp, tổ chức nhân sự, dự trù kinh phí, xây dựng các phương án bảo vệ lợi ích của

doanh nghiệp,...

- Tạo ra những mối liên kết với các tổ chức lobby để vận động hành lang, nhằm

lôi kéo những đối tượng có cùng quyền lợi ở nước khởi kiện ủng hộ mình. Ví dụ: trong

vụ tơm, đã có “Liên minh hành động ngành thương mại công nghiệp tiêu dùng Hoa Kỳ”

(CITAC), “Hiệp hội các nhà nhập khẩu và phân phối tơm Hoa Kỳ” (ASDA) đứng về

phía các doanh nghiệp Việt Nam chống lại vụ kiện bán phá giá của Hoa Kỳ.

- Chủ động thương lượng với cơ quan có thẩm quyền của nước khởi kiện về việc

thực hiện cam kết giá, nếu doanh nghiệp thực sự có hành vi bán phá giá, gây thiệt hại

cho các doanh nghiệp cùng ngành hàng của nước nhập khẩu.

Có thể thấy, với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng năm gần 20% trong thời gian

gần đây, và việc một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam đã bước đầu có được chỗ đứng

vững chắc tại các thị trường lớn, đã dẫn đến khả năng các vụ kiện chống bán phá giá

ngày càng gia tăng. Điều này về lâu dài sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của

Việt Nam. Vì vậy, để giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực do các vụ kiện chống

bán phá giá gây ra, các doanh nghiệp Việt Nam cần có các biện pháp khơng chỉ ứng phó

có hiệu quả, mà phải chủ động ngăn ngừa những nguy cơ xảy ra các vụ kiện chống bán

phá giá. Đó là phải thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm và thị trường xuất khẩu,

tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành hàng, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về thông

tin, tiến hành cam kết giá khi cần thiết...



44



KẾT LUẬN

Trong xu thế phát triển và hội nhập chung của thế giới, quan hệ thương mại quốc tế

khơng những đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác cũng đặt ra nhiều

thách thức đối với các doanh nghiệp còn non trẻ của Việt Nam. Những thách thức mà



45



chúng ta gặp phải không chỉ là năng lực cạnh tranh, kiến thức pháp lý, trình độ ngoại

ngữ mà còn là các dào cản mang tính kỹ thuật của Hoa Kỳ. Một trong các dào cản mà

Hoa Kỳ thường áp dụng đó là các biện pháp chống bán phá giá. Vì vậy việc nghiên cứu

pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ có ý nghĩa thiết thực, giúp nâng cao nhận thức

về dào cản này để phòng tránh và ứng phó kịp thời khi xảy ra các vụ kiện chống bán phá

giá đối với hang hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng trong quan hệ kinh tế quốc tế có sự đan xen giữa

pháp luật quốc giá và pháp luật quốc tế. Pháp luật quốc tế tôn trọng quyền của các quốc

gia trong việc lập pháp, ngược lại pháp luật quốc gia cũng cần phải hài hòa với các quy

định chung của pháp luật quốc tế. Trong trường hợp pháp luật quốc gia có những mâu

thuẫn với các quy định của pháp luật quốc tế như trong trường hợp này, pháp luật của

Hoa Kỳ có một “độ vênh” so với pháp luật về chống bán phá giá của WTO, gây bất lợi

cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Khóa luận đã nghiên cứu, phân tích cụ thể, một số quy định tiêu biểu, thể hiện rõ

chủ nghĩa bảo hộ trong pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ. Trên cơ sở đó người

viết đã đưa ra một số giải pháp cho các doanh nghiệp và hiệp hội các ngành hang, đồng

thời kiến nghị với Chính phủ một số đề xuất nhằm phòng tránh các vụ kiện chống bán

phá giá có thể xảy ra cũng như giảm thiểu mức thiệt hại khi bị phía Hoa Kỳ kiện chống

bán phá giá đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT

1. Luận án, luận văn



46



-



Vũ Thị Phương Lan, (2011), Pháp luật về chống bán phá giá trong thương

mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật

học, Trường Đại học Luật Hà Nội.



-



Phan Thị Tuyết (2010), Luật chống bán phá giá của Mỹ và những bài học

rút ra từ vụ kiện chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa vào thị thường



-



Mỹ, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Ngoại Thương Hà Nội, Hà Nội.

Vũ Hải Yến, (2011), Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ - Cơng cụ

bảo hộ nền sản xuất trong nước, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học

Luật Hà Nội.



2. Sách

-



Thái Bảo Anh, Phân tích về một số bài học rút ra từ các vụ chống bán phá

phá cá da trơn và tôm, Vietnam-Australia Capacity Building For Effective



-



Governance Facility, 2005.

Raj Bhala, Luật thương mại quốc tế: Những vấn đề lý luận và thực tiễn,

NXB Tư pháp, 2006.



-



VCCI, Tranh chấp về chống bán phá giá trong WTO, Phòng Thương mại



-



và Cơng nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 2008.

VCCI, Hỏi đáp về pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, WTO, EU,

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 2009.



-



VCCI, Nghiên cứu các đề xuất sửa đổi Hiệp định chống bán phá giá – gợi

ý quan điểm đàm phán của Việt Nam (Vòng đàm phán DOHA), Hà Nội,



-



2008.

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Phòng ngừa và xử lý việc bị

kiện chống bán phá giá đối với mặt hang dệt may trong khuôn khổ WTO:

kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Hà Nội, 2008.



3. Bài báo, tạp chí.

- TS. Hồng Phước Hiệp, 2003, Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá của

Tổ chức thương mại thế giới và Hoa Kì , Tạp chí Luật học, Số 1/2003, tr.

-



26-29.

ThS. Vũ Thị Phương Lan, 2009, Lịch sử pháp luật chống bán phá giá

trong thương mại quốc tế, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,

Số 11/2009, tr.35-40.



47



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×