Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Rà soát của Ban hội thẩm NAFTA

- Rà soát của Ban hội thẩm NAFTA

Tải bản đầy đủ - 0trang

tra thêm. Điều 1904 của Hiệp định NAFTA quy định rằng: trong vòng 30 ngày kể từ

ngày kháng cáo quyết định hành chính, phải đề nghị một danh sách thành viên ban hội

thẩm. Ban hội thẩm phải ra phán quyết trong vòng 315 ngày kể từ ngày u cầu.

2.4. Tính chất bảo hộ mậu dịch trong luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ.

2.4.1. Phương pháp “Quy về 0”.

“Zeroing” (“Quy về 0”) là một phương pháp tính tốn biên độ phá giá, theo đó cho

phép “quy về 0” tất cả các giao dịch có biên độ phá giá âm.

Ví dụ: một nhà xuất khẩu bị điều tra thực hiện 5 giao dịch xuất khẩu, trong đó có 2

giao dịch xuất khẩu có biên độ phá giá là 20%, 1 giao dịch có biên độ phá giá bằng 0 và

2 giao dịch có biên độ phá giá -25%, nếu khơng sử dụng phương pháp “zeroing”, thì

bình quân biên độ phá giá của nhà xuất khẩu này sẽ là (20% + 20% + 0% - 25% - 25%):

5 = - 2% (với biên độ phá giá âm, tức là không bán phá giá, nhà xuất khẩu này sẽ không

bị áp thuế); tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp “zeroing”, thì biên độ phá giá trung

bình sẽ là (20% + 20% + 0% + 0% + 0%): 5 = + 8% (và kết quả là nhà xuất khẩu này sẽ

bị áp thuế chống bán phá giá 8%).

Từ góc độ thực tiễn từng bị kiện chống bán phá giá ở các nước có thơng lệ sử dụng

phương pháp “zeroing”, Việt Nam (và các nước đã từng bị áp dụng phương pháp này) đã

phải chịu những thiệt hại khơng nhỏ. Ví dụ: trong vụ kiện tôm của Việt Nam xuất khẩu

vào thị trường Hoa Kỳ, “theo tính tốn và đánh giá của các luật sư Hoa Kỳ đã tham gia

tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam, nếu DOC khơng

áp dụng cách tính “quy về khơng”, thì kết quả sẽ là các doanh nghiệp xuất khẩu tôm

Việt Nam khơng bán phá giá, thậm chí biên độ phá giá sẽ là -9% (âm 9%).”7

Do phương pháp “Zeroing”, hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của ta đang bị

chịu mức thuế chống bán phá giá 4,13 - 25,76%. Như vậy, hàng năm, các doanh nghiệp

của ta đã phải nộp hàng triệu USD tiền thuế chống bán phá giá này.

Cũng trong vụ kiện tơm, từ chỗ có thể khơng phải nộp thuế, nếu phương pháp

“zeroing” không được áp dụng, doanh nghiệp Việt Nam không những phải nộp hàng

triệu USD tiền thuế chống bán phá giá mỗi năm, phải chịu gánh nặng về tài chính của

quy định ký quỹ liên tục (continuous bonds) mà Hải quan Hoa Kỳ áp dụng đối với mặt



7



William W.Nye, Phương pháp “zeroing” trong thực thi pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ, 8/2008.



33



hàng tơm nhập khẩu từ Việt Nam, mà còn phải đối mặt với gánh nặng của các kỳ rà soát

mức thuế theo thủ tục hành chính hàng năm của Luật chống bán phá giá Hoa Kỳ.

“Hoa Kỳ là nước hăng hái nhất trong việc điều tra chống phá giá, với 352 vụ

trong 10 năm qua. Sau nhiều lần tranh cãi và gia hạn kết luận, đến tháng 5/2006, Cơ

quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) đã có kết luận cuối cùng: phương pháp

“Zeroing” của Hoa Kỳ trái với các nguyên tắc của WTO”.8

Ngày 9/1/2007, WTO một lần nữa ra quyết định theo đơn khiếu kiện của Nhật

Bản, theo đó phương pháp “Zeroing” của Hoa Kỳ là trái luật WTO.

Trong Vụ US-Lumber V năm 2004, WTO lại khẳng định lại quan điểm này một

lần nữa, theo đó “Quy về 0” có nghĩa chung nhất là giá xuất khẩu được xem như thấp

hơn giá trị thật của chúng, ít nhất là đối với một vài giao dịch xuất khẩu. Vì vậy, “quy về

0” khơng xem xét tới tính tồn diện của các mức giá của một số giao dịch xuất khẩu, tức

là những mức giá của những giao dịch xuất khẩu trong những nhóm nhỏ, trong đó NV

bình qn gia quyền thấp hơn EP bình quân gia quyền. Vì vậy, phương pháp “Quy về 0”

làm “thổi phồng” biên độ bán phá giá đối với tồn bộ tình hình nhập khẩu sản phẩm.9

2.4.2. Thuế chống bán phá giá áp dụng với các nền kinh tế phi thị trường

Theo Đạo luật Thuế quan Hoa Kỳ10 sửa đổi 2006, một nước có nền kinh tế phi thị

trường (NME) là nước mà theo kết luận của DOC có nền kinh tế “hoạt động khơng dựa

trên các nguyên tắc thị trường về các cơ chế tính giá hoặc chi phí, và do đó hàng hóa

được bán tại nước này không phản ánh giá trị công bằng của hàng hóa”.

Khi xác định tính chất “thị trường” hay “phi thị trường” của một nền kinh tế,

DOC đánh giá trên 6 yếu tố cơ bản. Các yếu tố này được quy định tại Đạo luật thuế quan

Hoa Kỳ11 sửa đổi 2006, bao gồm:

(i) Mức độ tự do chuyển đổi của đồng tiền nội tệ;

(ii) Mức tiền lương được xác định bằng việc tự do thương lượng giữa người lao

động và người sử dụng lao động;

(iii) Mức độ cho phép các liên doanh hoặc đầu tư nước ngồi;

(iv) Mức độ Chính phủ sở hữu hoặc kiểm soát phương tiện sản xuất;



8



“Zeroing”, www.vca.gov.vn, Cục quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương.

Vụ US-Lumber V năm 2004, đoạn 101.

10

Xem thêm U.S.C. §1677(18)(B) (2006) (U.S.C: United States Customs Duties)

11

Xem thêm U.S.C. §1677(18)(B) (2006). (U.S.C: United States Customs Duties)

9



34



(v) Mức độ kiểm sốt của Chính phủ đối với việc phân bổ các nguồn lực và đối

với các quyết định về sản lượng và giá cả của các doanh nghiệp; và

(vi) Các yếu tố khác mà DOC cho là hợp lý.

Mặc dù các yếu tố để xác định một nước có nền kinh tế thị trường hay phi thị

trường được qui định khá rõ trong pháp luật Hoa Kỳ, nhưng những tiêu chí để đánh giá

khi nào một yếu tố đã được thoả mãn thì lại khơng được xác định cụ thể. Do đó, quyết

định của DOC về việc một nước có phải là NME hay không, được ban hành chủ yếu dựa

trên quan điểm khá chủ quan của cơ quan này. Mức thuế suất chống bán phá giá được

DOC tính tốn, trong trường hợp quốc gia xuất khẩu là NME, có thể là một mức thuế

duy nhất, áp dụng chung cho tất cả các sản phẩm bị điều tra nhập khẩu vào Hoa Kỳ,

không phân biệt nguồn sản xuất, xuất khẩu (tức là khơng có mức thuế chống phá giá

riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu).

Tuy nhiên, DOC vẫn có thể tính tốn mức thuế riêng cho từng đối tượng, nếu cơ

quan này quyết định như vậy. Điều kiện để được tính mức thuế đơn lẻ là các nhà sản

xuất, xuất khẩu liên quan phải chứng minh được rằng hoạt động của doanh nghiệp mình

theo luật (de jure) hoặc trên thực tế (de facto) khơng thuộc sự kiểm sốt của Chính phủ

nước xuất khẩu đó. Nếu DOC chấp nhận yêu cầu này, mức thuế áp dụng cho sản phẩm

của nhà xuất khẩu liên quan sẽ được tính tốn trên cơ sở so sánh EP thực tế của nhà xuất

khẩu với NV - được xác định bằng cách tính trị giá các yếu tố đầu vào của nhà sản xuất

cung cấp hàng hóa cho nhà xuất khẩu liên quan, theo đơn giá thị trường tại nước thứ ba

được lựa chọn.

Ví dụ: Trong vụ cá basa, cá tra Việt Nam năm 2001, 11 công ty được tính mức thuế

riêng sau khi đáp ứng được các điều kiện đặt ra theo pháp luật Hoa Kỳ. Các doanh

nghiệp còn lại của Việt Nam phải chịu một mức thuế chung, cao hơn nhiều so với mức

thuế riêng của 11 doanh nghiệp nói trên.

2.4.3 Cách tính thuế cho các bị đơn

Pháp luật Hoa Kỳ phân bị đơn thành ba loại với ba mức thuế suất khác nhau, bao

gồm: bị đơn bắt buộc – là các doanh nghiệp được lựa chọn điều tra, hưởng mức thuế tính

tốn (calculated rate); là doanh nghiệp không được lựa chọn điều tra nhưng tự nguyện

cung cấp thông tin, hưởng mức thuế suất riêng biệt (separate rate), bằng bình quân mức

thuế của các bị đơn bắt buộc; bị đơn khác có liên quan là các doanh nghiệp không được



35



lựa chọn làm bị đơn bắt buộc, không trả lời bảng câu hỏi của DOC, không nộp đơn xin

hưởng mức thuế suất riêng biệt hoặc có nộp nhưng khơng được chấp nhận, chịu mức

thuế suất tồn quốc (country-wide rate).

Quy định của pháp luật Hoa Kỳ là trái với ADA, tại điều 6.10.2, cơ quan điều tra

“vẫn sẽ xác định biên độ phá giá cho mỗi nhà sản xuất dù chưa được lựa chọn ban đầu

nhưng đã cung cấp thơng tin cần thiết để có thể xem xét trong quá trình điều tra, trừ khi

số lượng nhà sản xuất, xuất khẩu q lớn…”. ADA cũng khơng có bất cứ quy định nào

về mức thuế suất toàn quốc. Trong khi đó DOC xác định mức thuế suất tồn quốc hồn

tồn dựa vào các yếu tố sẵn có (các tài liệu của nguyên đơn), điều này đương nhiên gây

bất lợi cho các bị đơn.

2.4.4 Thỏa thuận đình chỉ

WTO dùng thuật ngữ “Cam kết về giá” (price undertaking), trong khi pháp luật Hoa

Kỳ gọi là “thỏa thuận đình chỉ”. Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, có ba loại thỏa

thuận đình chỉ, bao gồm:

- Thỏa thuận ngừng nhập khẩu vào Hoa Kỳ sản phẩm bị điều tra. Hầu như loại thỏa

thuận này không bao giờ xảy ra, bởi doanh nghiệp xuất khẩu ln muốn xuất khẩu hàng

hóa vào thị trường Hoa Kỳ.

- Thỏa thuận loại bỏ thiệt hại: cam kết loại bỏ hoàn toàn việc bán phá giá vào thị trường

Hoa Kỳ. Loại thỏa thuận này cũng rất ít khả năng xảy ra vì khơng dễ để “loại bỏ hồn

tồn việc bán phá giá”.

- Thỏa thuận loại bỏ toàn bộ thiệt hại mà hàng hóa nhập khẩu đó gây ra. Điều kiện để áp

dụng thỏa thuận này là phải loại bỏ được thiệt hại do hàng nhập khẩu gây ra; không

được bán với giá có biên độ phá giá cao hơn 15% so với biên độ phá giá trung bình theo

kết quả điều tra; ngăn chặn được sự sụt giảm giá của sản phẩm nội địa.

Có thể nói, để đáp ứng được các yêu cầu của DOC là rất khó. “Thỏa thuận đình

chỉ”, một biện pháp với nội dung có lợi cho nhà xuất khẩu nhưng thực tế chỉ là lý thuyết,

hầu như khơng có loại thỏa thuận này. Vì vậy các doanh nghiệp thường chấp nhận nộp

thuế chống bán phá giá, thay vì ký thỏa thuận đình chỉ. Chỉ duy nhất một thỏa thuận gần

đây được ký giữa DOC và các, xuất khẩu cà chua tươi Mexico (22/1/2008).

2.4.5 Sử dụng thơng tin sẵn có



36



Các thơng tin sẵn có là các thông tin mà DOC sử dụng khi thông tin mà các nhà sản

xuất, xuất khẩu cung cấp không đủ hoặc không sử dụng được để đưa ra kết luận. Việc sử

dụng những thơng tin có sẵn được quy định tại Điều 6.8. ADA, DOC đã sử dụng quy

định này theo hướng bất lợi cho nhà xuất khẩu với lý do không cung cấp đầy đủ thông

tin cần thiết cho DOC.

Thực tế các doanh nghiệp xuất khẩu rất dễ bị rơi vào tình trạng này vì bảng câu hỏi

q khó, câu hỏi quá nhạy cảm liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, hay

trả lời không đúng hạn, không đúng mẫu quy định. Các thơng tin sẵn có chính là các

thông tin mà các doanh nghiệp Hoa Kỳ (nguyên đơn) cung cấp; rất bất lợi cho doanh

nghiệp nhập khẩu. DOC dựa trên đó để đưa ra kết luận, và gần như nhà xuất khẩu sẽ

chịu biên độ phá giá cao nhất có thể. Vì Hoa Kỳ ln muốn bảo hộ nền sản xuất trong

nước.

Trước năm 2008, pháp luật Hoa Kỳ còn có một nội dung mang tính bảo hộ mậu

dịch đó là “Ký quỹ liên tục” (continuous bonds), nhưng từ năm 2008 đã bị bãi bỏ và

khơng còn được áp dụng nữa nên người viết không đưa vào nội dung trình bày.



37



CHƯƠNG III.

MỘT SỐ VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở HOA KỲ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU

VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

3.1. Một số vụ việc điển hình về chống bán phá giá ở Hoa Kỳ

3.1.1. DOC khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm ống thép cácbon Việt Nam. (Circular Welded Carbon-Quality Steel Pipe)12

Ngày 26/10/2011, 4 công ty sản xuất ống thép cac-bon Hoa Kỳ đã đệ đơn lên

DOC yêu cầu cơ quan này khởi xướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp đối

với các sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và Các Tiểu vương

quốc Ả-rập thống nhất.

Ngày 15/11/2011, DOC đã ra quyết định khởi xướng điều tra chống bán phá giá,

chống trợ cấp đối với các sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam, Ấn Độ, Oman và

Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất.

Bên khởi kiện: Công ty Allied Tube and Conduit (IL), JMC Steel Group (IL),

Wheatland Tube (PA), và Công ty thép Hoa Kỳ (PA).

Sản phẩm bị điều tra: Ống và ống dẫn thép hàn bằng cac-bon (“Circular Welded

Carbon-Quality Steel Pipe”).

Kết luận về điều tra:

- Điều tra về bán phá giá:

Ngày 01/06/2012, DOC đưa ra kết luận sơ bộ khẳng định có hành vi phá giá đối

với sản phẩm ống thép nhập khẩu từ Việt Nam. Ngày 16/10/2012, DOC ra kết luận cuối

cùng, khẳng định có bán phá giá đối với sản phẩm ống thép Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ.

Biên độ phá giá cụ thể như sau:



12



http://chongbanphagia.vn/thongtinvukien/20111031/%E1%BB%91ng-thep-circular-welded-carbon-quality-steelpipe



38



Tên Công ty



Biên độ phá giá sơ Biên độ phá giá

bộ (%)



Công ty SeAH Steel VINA

0.00

Công ty Vietnam Haiphong Hongyuan

0.00

Machinery Manufactory Co., Ltd

Công ty Sun Steel Joint Stock

9.32

Company

Công ty Huu Lien Asia Corporation

9.32

Cơng ty Thép Hòa Phát

9.32

Các doanh nghiệp Việt Nam khác

27.96



cuối cùng (%)

3.96

5.17

4.57

4.57

4.57

27.96



- Kết luận về điều tra thiệt hại của ITC:

Ngày 15/11/2012, ITC ra kết luận cuối cùng theo đó khơng có thiệt hại do hành vi

bán phá giá hay trợ cấp gây ra đối với ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, do vậy, DOC

không áp thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm ống thép của Việt Nam, Oman, Ấn

Độ và Các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất.

3.1.2. Vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá ba sa13

Bên nguyên đơn: Hiệp hội chủ trại nuôi cá da trơn Hoa Kỳ (CFA).

Bên bị đơn: Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá ba sa vào Hoa Kỳ (11 doanh

nghiệp).

CFA đã đệ đơn lên ITC và DOC kiện một số doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá

cá tra, cá basa vào thị trường Hoa Kỳ, trong đó đề xuất về mức thuế chống phá giá như

sau:

- Nếu Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường: 144%

- Nếu Việt Nam là NME: 190%

Giai đoạn điều tra:

Ngày 3/7/2002, ITC bắt đầu điều tra và xác định xem ngành sản xuất của Hoa Kỳ

có chịu những thiệt hại đáng kể hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể do hàng cá tra, cá basa

nhập khẩu từ Việt Nam hay không? và gửi bảng câu hỏi điều tra cho các doanh nghiệp

Việt Nam.

Ngày 18/7/2002, DOC khởi xướng điều tra và tiến hành các giai đoạn công bố,

tập hợp ý kiến các bên.

13



http://chongbanphagia.vn/thongtinvukien/20090106/ca-da-tron



39



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Rà soát của Ban hội thẩm NAFTA

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×