Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Giá cả trong các giao dịch giữa các chủ thể “phụ thuộc nhau” như vậy sẽ khơng

được tính đến trong các hoạt động sau của DOC:

(i) Trong việc xác định các giao dịch được sử dụng để tính tốn NV: những giao

dịch loại này sẽ bị loại ra, trừ khi DOC xác định rằng quan hệ phụ thuộc đó khơng ảnh

hưởng đến giá bán của sản phẩm nước ngoài tương tự (trên cơ sở so sánh giá bình quân

trong giao dịch này với giá bình quân trong những giao dịch bình thường giữa nhà sản

xuất với các chủ thể độc lập).

(ii) Trong việc tính tốn chi phí sản xuất và trị giá tính tốn: trường hợp giữa nhà

sản xuất với nhà cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm bị điều tra hoặc sản

phẩm tương tự nước ngồi có quan hệ phụ thuộc, chi phí đầu vào của các sản phẩm này

sẽ không được sử dụng để tính tốn chi phí sản xuất nói chung, trừ khi DOC xác định

rằng quan hệ phụ thuộc này không ảnh hưởng đến giá đầu vào.

Trước khi tính tốn biên độ phá giá, DOC phải tiến hành một số điều chỉnh sau đối

với “NV” mà mình đã xác định:

- Điều chỉnh do có khác biệt về chủng loại giữa sản phẩm bị điều tra và sản phẩm

nước ngồi tương tự (ví dụ: khi khơng tìm được sản phẩm tương tự trên thị trường nước

xuất khẩu giống hệt với sản phẩm bị điều tra tại Hoa Kỳ);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về điều kiện bán hàng (ví dụ: nếu thời hạn thanh

toán tiền áp dụng cho khách hàng tại thị trường nước xuất khẩu ngắn hơn thời hạn áp

dụng cho khách hàng tại Hoa Kỳ; khác biệt về các hình thức hỗ trợ kỹ thuật, dịch vụ,

quảng cáo...);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về cấp độ bán hàng (ví dụ trong thị trường nội

địa, sản phẩm thơng thường được bán buôn và bán lẻ, nhưng tại Hoa Kỳ thì sản phẩm

chỉ được bán bn);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về số lượng hàng bán ra (DOC chỉ thực hiện

điều chỉnh này, nếu bị đơn có thể chứng minh được những khác biệt về số lượng này có

thể tạo ra sự chênh lệch giá);

- Điều chỉnh liên quan đến các khoản tín dụng (do có sự chênh lệch về thời gian

giữa ngày gửi hàng và ngày được thanh toán tiền hàng).



20



Tuy nhiên, pháp luật Hoa Kỳ không qui định cụ thể cách thức điều chỉnh khi có

các khác biệt nói trên. Vì vậy, DOC có thể tuỳ ý điều chỉnh các yếu tố này, do đó có

nhiều khả năng dẫn đến kết quả bất lợi cho nhà sản xuất và xuất khẩu.

“NV” sau khi được điều chỉnh vì các lý do như trên sẽ được DOC cộng thêm các

chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác có liên quan để hàng hóa được đặt trong tình

trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho vận chuyển sang Hoa Kỳ.

Ngược lại, DOC sẽ trừ đi các chi phí sau đây (nếu đã được gộp vào giá của sản

phẩm tương tự bán cho người mua tại thị trường nội địa nước xuất khẩu liên quan):

- Chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác liên quan để hàng hóa được đặt

trong tình trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho việc vận chuyển đến nơi giao hàng cho

người mua (trên thị trường nội địa nước XK hoặc người mua của một nước thứ ba);

- Chi phí vận chuyển hàng hóa từ nơi tập kết hàng đến nơi giao hàng cho người

mua;

- Các loại thuế đánh vào sản phẩm tương tự hoặc đánh vào các bộ phận cấu thành

của sản phẩm, nhưng đã được điều tra hoặc được miễn trừ.

Điểm đáng lưu ý là để DOC thực hiện các điều chỉnh này, các bên bị đơn khơng chỉ

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, mà còn phải đưa ra những lập luận chứng minh sự cần

thiết phải tiến hành các điều chỉnh này.

2.2.2 Xác định giá xuất khẩu.

Giá xuất khẩu (hay còn gọi là “giá Hoa Kỳ” - “US Price”) được xác định như sau:

- Giá của sản phẩm bị điều tra được nhà sản xuất, xuất khẩu bán lần đầu tiên cho

nhà nhập khẩu độc lập tại Hoa Kỳ hoặc giá bán cho một người mua độc lập để xuất khẩu

sang Hoa Kỳ (đây là giá bán trước ngày nhập khẩu vào Hoa Kỳ); hoặc

- Nếu khơng xác định được theo cách trên, thì giá XK sẽ được xác định là giá bán

sản phẩm trước hoặc sau ngày nhập khẩu từ người sản xuất, xuất khẩu hoặc nhà nhập

khẩu có quan hệ phụ thuộc tại Hoa Kỳ cho người mua độc lập đầu tiên của Hoa Kỳ (giá

XK theo trị giá tính tốn).

Theo qui định của pháp luật Hoa Kỳ, giá XK được sử dụng trong tính tốn biên

độ phá giá phải là giá xuất xưởng. Vì thế, để điều chỉnh về mức giá XK tại thời điểm

“xuất xưởng”, DOC sẽ:

(i) trừ đi các khoản sau đây, nếu chúng đã được tính gộp vào giá XK trước đó:



21



- Chi phí vận chuyển (bao gồm cước vận chuyển nội địa, thuê kho ở nước xuất

khẩu; cước vận chuyển hàng đến Hoa Kỳ, cước vận chuyển nội địa ở Hoa Kỳ, phí mơi

giới..) để đưa hàng hóa liên quan từ nơi bốc hàng tại nước xuất khẩu đến địa điểm giao

hàng trên lãnh thổ Hoa Kỳ;

- Thuế xuất khẩu hoặc các loại thuế, phí khác mà nước xuất khẩu đã đánh vào

hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ đó;

Trường hợp giá XK được tính theo cách 2 (giá XK theo trị giá tính tốn), thì

DOC sẽ trừ tiếp những khoản sau:

- Chi phí bán hàng trực tiếp hoặc gián tiếp mà nhà sản xuất, xuất khẩu phải chịu;

- Chi phí cho bất kỳ một hoạt động lắp ráp thêm nào được thực hiện tại Hoa Kỳ;

- Lợi nhuận phân bổ từ việc bán hàng, phân phối và sản xuất thêm ở Hoa Kỳ.

(ii) cộng thêm vào các khoản sau đây, nếu chúng chưa được tính gộp vào giá

XK:

- Các chi phí bao bì, đóng gói và các chi phí khác liên quan để hàng hóa ở tình

trạng đóng gói hồn hảo, sẵn sàng cho việc vận chuyển sang Hoa Kỳ;

- Thuế nhập khẩu do nước xuất khẩu đánh vào hàng hóa, nhưng đã được miễn trừ

hoặc trả lại vì lý do hàng được xuất khẩu sang Hoa Kỳ;

- Thuế đối kháng mà Hoa Kỳ đã áp dụng đối với sản phẩm, nếu có.

2.2.3 Xác định biên độ phá giá (margin of dumping – MD).

Biên độ phá giá của hàng hóa bị điều tra được DOC tính toán trên cơ sở hiệu số

giữa NV và EP của hàng hóa. Khoảng chênh lệch giữa hai loại giá này, tính trên tỉ lệ

phần trăm so với EP, sẽ là biên độ phá giá.

Biên độ phá giá = (Giá trị thông thường – Giá xuất khẩu)/Giá xuất khẩu

hay

MD = (NV – EP)/EP

Mức thuế chống bán phá giá sẽ được DOC xác định căn cứ trên biên độ phá giá

này. DOC áp dụng hai phương pháp tính biên độ phá giá khác nhau trong hai trường

hợp: trong quá trình điều tra và trong q trình rà sốt.

Trong q trình điều tra, biên độ bán phá giá được tính theo một trong 3 cách sau

đây:



22



- So sánh EP bình quân của sản phẩm tương tự trong suốt khoảng thời gian điều

tra với “NV” bình qn trong cùng khoảng thời gian đó đối với từng nhà sản xuất, xuất

khẩu nước ngoài; hoặc

- So sánh EP và “NV” của từng giao dịch của mỗi nhà sản xuất, xuất khẩu; hoặc

- So sánh NV bình quân với EP của từng giao dịch, nếu EP chênh lệch khá lớn

giữa những người mua, vùng lãnh thổ, thời điểm giao dịch, và DOC phải giải thích lý do

vì sao 2 cách tính trên khơng thích hợp khi sử dụng vào những trường hợp đó.

Trong q trình rà sốt (rà sốt hành chính, rà sốt “hồng hơn”, hoặc rà sốt do

thay đổi hồn cảnh):

Khi so sánh EP của từng giao dịch với NV bình quân, NV bình quân này chỉ được

xác định trên cơ sở tính bình qn các NV của tháng diễn ra giao dịch liên quan. Nếu

không thể xác định được NV bình qn trong tháng đó, thì xác định giá này trong

khoảng thời gian 3 tháng ngay trước lần bán hàng vào Hoa Kỳ đó. Nếu khơng xác định

được NV trong giai đoạn này, thì xác định theo giá bình quân trong khoảng thời gian 2

tháng sau lần bán hàng liên quan. Nếu cách này cũng khơng được, thì DOC sẽ tự xác

định một NV phù hợp.

2.2.4. Xác định thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa.

ITC có trách nhiệm xác định ngành sản xuất nội địa liên quan đến sản xuất hàng hoá

tương tự. Theo Đạo luật thuế quan năm 1930, ngành sản xuất nội địa là “toàn bộ các

nhà sản xuất trong nước sản xuất một sản phẩm tương tự, hoặc những nhà sản xuất có

sản lượng chung chiếm một phần chủ yếu tổng sản lượng sản xuất trong nước của sản

phẩm đó”. Các nhà sản xuất sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ mà có quan hệ với những

nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu, hoặc chính họ là người nhập khẩu những sản phẩm đang

bị coi là bán phá giá, có thể bị loại trừ, và không được coi là thuộc ngành sản xuất nội

địa “trong các trường hợp thích hợp”. Các bên bị coi là có quan hệ, nếu một bên thực

hiện quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với bên kia. Sự quan tâm của ITC đến

trường hợp bên có quan hệ là: liệu quan hệ của những người sản xuất với những nhà

xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hố bán phá giá có tạo cho họ một vị trí đặc biệt, hoặc vị

trí được bảo vệ chắc chắn trên thị trường hay không, khi so sánh với những nhà sản xuất

khác?



23



Lấy ví dụ, trong lĩnh vực sản xuất thép cán cuộn, các cuộn thép cuộn nóng có thể

được bán hoặc được sử dụng như là sản phẩm cuối cùng hoặc có thể được tiếp tục chế

biến thêm thành sản phẩm thép cuộn nguội hoặc thành thép không gỉ. Vấn đề nảy sinh

là: liệu có nên đánh giá thiệt hại trên cơ sở tổng sản lượng của sản phẩm đó khơng? hay

chỉ trên cơ sở tổng sản lượng được bán trên “thị trường mua bán”?

Thông thường, ITC sẽ xem xét điều kiện của toàn bộ các nhà sản xuất Hoa Kỳ

sản xuất sản phẩm nội địa tương tự, khi xác định xem liệu thiệt hại “đáng kể” có phải bắt

nguồn từ hàng hoá được nhập khẩu một cách không công bằng hay không? ITC sẽ xem

xét tác động của hàng nhập khẩu được bán phá giá đến tổng sản lượng của sản phẩm

tương tự nội địa. Tuy nhiên, nếu những điều kiện nhất định được xác định là có tồn tại,

thì ITC sẽ tập trung chủ yếu vào “thị trường mua bán” để xác định thiệt hại.

2.2.5. Xác định tác động của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra.

- Các yếu tố được xem xét:

Về cơ bản, các yếu tố được ITC xem xét trong quá trình này là sự sụt giảm thực

tế hoặc tiềm tàng về sản lượng, thị phần, lợi nhuận, ảnh hưởng tiêu cực đến sự lưu

chuyển vốn, sử dụng nhân công, lương, khả năng tăng cường vốn và đầu tư.

Ngồi ra, ITC còn tiến hành xem xét một số yếu tố khác, như: ảnh hưởng tiêu cực

(thực tế hoặc tiềm tàng) đến các cố gắng của ngành sản xuất trong nước trong sản xuất

và phát triển (bao gồm cả các cố gắng để phát triển một loại sản phẩm khác tiến bộ hơn

hoặc có cải tiến mới). ITC xem xét cả độ lớn của biên độ phá giá mà DOC đã tính tốn

như một yếu tố để xác định mức độ ảnh hưởng.

Theo qui định, ITC phải xem xét các yếu tố nói trên trong bối cảnh của chu kỳ

kinh doanh, có tính đến tất cả các nhân tố cạnh tranh liên quan riêng có của ngành sản

xuất đang xem xét.

- Cách xác định mối quan hệ nhân quả:

Để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra bán

phá giá với thiệt hại của ngành sản xuất nội địa liên quan, ITC thường sử dụng cơng thức

tính tốn do Phòng Kinh tế của ITC thiết lập. Theo cơng thức này, người ta sẽ tính tốn

sản lượng và mức giá mà ngành sản xuất nội địa đáng lẽ đạt được, nếu khơng có sự tồn

tại của hàng hóa nhập khẩu liên quan, từ đó tính tốn mức độ ảnh hưởng của hàng nhập

khẩu.



24



- Kết luận về thiệt hại “đáng kể”:

Trên cơ sở kết quả điều tra về tác động của hàng hóa nhập khẩu bị điều tra bán

phá giá đến ngành sản xuất trong nước, ITC sẽ cân nhắc mức độ thiệt hại của ngành sản

xuất trong nước. Nếu ITC cho rằng thiệt hại này là “đáng kể”, thì cơ quan này sẽ ra kết

luận khẳng định về thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt

hại.

- “Nguy cơ” gây thiệt hại đáng kể:

Trong trường hợp ITC xác định rằng hàng hóa nhập khẩu khơng gây thiệt hại

đáng kể cho ngành sản xuất nội địa, thì ITC sẽ phải tiếp tục xác định xem: liệu trong

tương lai có thể xảy ra việc bán phá giá ở mức độ lớn không? và nếu có, thì liệu có thể

gây ra thiệt hại đáng kể hay khơng, nếu khơng có quyết định áp đặt thuế chống bán phá

giá hoặc một thoả thuận đình chỉ? Nếu câu trả lời là có, thì ITC sẽ đưa ra kết luận khẳng

định, với lý do có “nguy cơ” gây thiệt hại đáng kể.

- Cản trở sự phát triển của ngành sản xuất nội địa:

Nếu thiệt hại được xác định là có tác động gây cản trở việc hình thành ngành sản

xuất nội địa, thì ITC phải xem xét xem thực tế ngành sản xuất nội địa đã hình thành hay

chưa? Cụ thể là: (i) thời điểm bắt đầu việc sản xuất ra sản phẩm đó tại Hoa Kỳ; (ii) việc

sản xuất đó có được tiến hành ổn định hay không, hay vừa mới bắt đầu tiến hành đã kết

thúc? (iii) qui mô của ngành sản xuất nội địa đó trong tương quan với tổng thể thị trường

nội địa; (iv) ngành sản xuất liên quan của Hoa Kỳ có đạt được mức hồ vốn hay khơng?;

và (v) những hoạt động đó đã thực sự là một ngành sản xuất mới hay chưa, hay mới chỉ

dừng lại ở một dây chuyền sản xuất của một nhà máy? Nếu ngành sản xuất liên quan

chưa được hình thành, thì ITC sẽ đánh giá xem những khó khăn của ngành sản xuất đó

là những khó khăn thơng thường khi một ngành sản xuất mới khởi động thường gặp

phải, hay đó là hệ quả của việc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra liên quan.

2.3. Thủ tục xác định một hành vi là bán phá giá theo pháp luật Hoa Kỳ.

2.3.1. Bảng câu hỏi.

Việc thu thập những thông tin cần thiết để xác định liệu có tồn tại việc bán phá giá

hay khơng và phá giá với mức độ nào sẽ được thực hiện bằng cách sau đây: DOC gửi

cho các nhà nhập khẩu và xuất khẩu những mặt hàng đang được điều tra những bản yêu

cầu cung cấp thông tin (Requests for Information - RFI), hoặc bảng câu hỏi. Do cơ cấu



25



kinh doanh đã trở nên phức tạp hơn và những yêu cầu từ các hiệp định liên quan của

WTO cũng ngày càng rắc rối, nên bảng câu hỏi này cũng ngày càng trở nên chi tiết và

phức tạp hơn. Bảng câu hỏi thông thường phải được trả lời trong thời hạn 30 ngày, tuy

nhiên, trong những trường hợp nhất định, có thể gia hạn thêm một thời gian ngắn để trả

lời.

DOC thường chỉ kiểm tra doanh số bán hàng chiếm khoảng từ 60% đến 85% trong

tổng kim ngạch xuất khẩu vào Hoa Kỳ từ một nước đối tượng cụ thể. Do vậy, những nhà

sản xuất hoặc người xuất khẩu nhỏ có thể sẽ không nhận được bảng câu hỏi. Nếu việc

trả lời bảng câu hỏi khơng đầy đủ và thoả đáng, thì bên trả lời sẽ được nhanh chóng

thơng báo về sự không đầy đủ và thoả đáng này, đồng thời được tạo cơ hội để sửa chữa

hoặc giải thích sự khơng đầy đủ này. DOC có thể sẽ phải xem xét đến các thơng tin phản

hồi được đệ trình trong thời gian gia hạn, nếu bên trả lời đã “cố gắng hết khả năng của

mình” để cung cấp các thơng tin được yêu cầu.

Cũng như DOC, ITC sử dụng bảng câu hỏi như một phương thức cơ bản trong

việc thu thập thông tin. Thông thường, bảng câu hỏi chia làm hai loại: loại điều tra và

loại thủ tục hành chính. Đối tượng của bảng câu hỏi cũng chia làm hai loại: loại kinh tế

thị trường và loại theo kinh tế nhà nước. Bảng câu hỏi nhằm tìm hiểu những thơng tin cụ

thể sau:

- Phần A hỏi các thông tin tổng quát về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động

của công ty tham dự điều tra, số lượng và trị giá của sản phẩm trên tất cả thị trường sản

phẩm mà cơng ty có mặt.

- Phần B hỏi các thơng tin về dịch vụ bán hàng, dùng để thẩm định “NV” của sản

phẩm nhập khẩu. Phần này sẽ hỏi tất cả các thông tin của tất cả các đơn vị kinh doanh

mặt hàng đang tham dự điều tra trong thời gian điều tra tại thị trường của nước xuất

khẩu, hoặc nếu hàng khơng có ở thị trường nước xuất khẩu, thì hỏi các thơng tin của một

thị trường thứ ba, nơi có bán sản phẩm đó.

- Phần C hỏi về con số thống kê các dịch vụ bán hàng ở Hoa Kỳ trong thời gian

điều tra để thẩm định giá xuất khẩu.

- Phần D yêu cầu các thông tin về chi phí sản xuất. Phần này tập trung về khía

cạnh sản xuất thay vì khía cạnh tiếp thị. Trong trường hợp có liên quan đến nền kinh tế

nhà nước, phần này là rất quan trọng, đòi hỏi cơng ty được hỏi phải trả lời chi tiết về mọi



26



sự tác động đến sản xuất để cơ quan điều tra có thể định lượng được các yếu tố sản xuất

đưa đến giá đang áp dụng. Thông thường, cơ quan điều tra cần nghiên cứu thông tin

nhận được từ Phần A trước khi thẩm định được là công ty được hỏi thuộc dạng kinh tế

thị trường hay kinh tế nhà nước.

- Phần E hỏi về các giá trị gia tăng cho mặt hàng sau khi đã nhập khẩu vào lãnh

thổ Hoa Kỳ như lắp ráp, đóng gói,…nếu có, trước khi chuyển qua cho các bạn hàng

không liên kết. Phần này thường được thẩm định sau khi nghiên cứu Phần A để biết về

mô hình hoạt động của cơng ty xuất khẩu. Theo một điều khoản do URAA bổ sung năm

1994, DOC và ITC phải tạo cho các hiệp hội người tiêu dùng và các hiệp hội ngành hàng

cơ hội đệ trình các thơng tin liên quan phục vụ cho công việc xem xét. Cả DOC lẫn ITC

đều phải tính đến những khó khăn mà các bên, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và các

doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển gặp phải trong q trình cung cấp các

thơng tin theo yêu cầu. Hai cơ quan có thẩm quyền sẽ cung cấp sự hỗ trợ như vậy, nếu

xét thấy có thể, để tránh tạo ra các gánh nặng vô lý cho bên trả lời.

2.3.2. Các dữ kiện thực tế sẵn có (Những thơng tin tốt nhất sẵn có)

Nếu một bên được hỏi khơng có khả năng hoặc khơng sẵn sàng cung cấp những

thông tin do DOC và ITC yêu cầu trong thời hạn quy định và theo hình thức được yêu

cầu, thì các cơ quan này có thể dựa trên các “dữ kiện thực tế sẵn có”, kể cả những lý lẽ

viện dẫn trong đơn khiếu kiện và những nhận định trước đó để đưa ra quyết định. Nếu

bên được hỏi từ chối hợp tác, nhìn chung, DOC sẽ đưa ra kết luận bất lợi và áp đặt mức

thuế suất cao nhất có thể.

DOC và ITC có thể sẽ xem xét những hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp khi

cung cấp những thông tin theo yêu cầu, bao gồm (nhưng không giới hạn): quy mơ, hệ

thống kế tốn, năng lực máy tính của doanh nghiệp, cũng như sự thành cơng trước đó

của cùng một cơng ty hay của các cơng ty tương tự khác. Theo Luật chống bán phá giá

của Hoa Kỳ, nếu “các dữ kiện thực tế sẵn có” được sử dụng làm căn cứ, thì các thơng tin

này cần phải được chứng thực khi có thể, bằng cách sử dụng các nguồn thông tin độc

lập.

2.3.3. Thẩm tra

DOC phải thẩm tra tất cả các thông tin mà DOC căn cứ vào đó để đưa ra quyết

định cuối cùng về việc tiến hành hay hủy bỏ quá trình điều tra đầu tiên. Trong mỗi lần rà



27



soát hàng năm, việc thẩm tra sẽ được tiến hành, nếu bên có quyền và lợi ích trong nước

u cầu, và nếu khơng có cuộc thẩm tra nào trong suốt hai đợt rà soát liên tiếp liền ngay

trước đó. Ngồi hai trường hợp trên, việc thẩm tra thuộc quyền tuỳ ý quyết định của

DOC. DOC buộc phải nhận được sự đồng ý của bên nước ngoài có liên quan về q

trình thẩm tra này. Nếu bên bị thẩm tra hay chính phủ nước ngồi phản đối việc thẩm tra,

DOC sẽ không tiến hành thẩm tra, mà thay vào đó, DOC sẽ sử dụng các “dữ kiện thực tế

sẵn có” để đưa ra quyết định của mình. DOC viết báo cáo theo tiến trình thẩm tra và

đồng thời tạo cơ hội cho bên khiếu kiện và bên bị kiện đệ trình biện hộ và giải thích.

2.3.4. Xử lý thông tin

Những thông tin được các bên gửi đến DOC hoặc ITC được xem là cơng khai, trừ

phi nó được xác định rõ là “thông tin thuộc sở hữu độc quyền”. Nếu các bên muốn

khẳng định sở hữu độc quyền đối với những thơng tin trong bản đệ trình của mình, thì sẽ

phải chứng minh cho DOC hoặc ITC rằng tại sao mỗi một phần thông tin lại không được

phép tiết lộ công khai. Sơ lược các thông tin thuộc sở hữu độc quyền cần bảo mật phải

được gửi đến đồng thời cùng với bản đệ trình. Nếu được chấp nhận là thông tin thuộc sở

hữu độc quyền, tài liệu được định rõ như vậy có thể được trao cho những cá nhân cụ thể

nhất định theo một trình tự bảo mật hành chính (APO).

Các luật sư hoặc những đại diện khác nhau của bên có quyền và lợi ích liên quan

có thể tiếp cận được các bản đệ trình thuộc sở hữu độc quyền của các bị đơn, nếu họ

chứng minh được nhu cầu tiếp cận thông tin thích đáng của mình, và có thể bảo mật thoả

đáng hiện trạng của sở hữu độc quyền trong tài liệu. Hành vi vi phạm các trình tự bảo

mật hành chính có thể dẫn đến các hình phạt, hoặc khai trừ hành nghề luật sư. Những

thông báo về các quyết định bắt đầu và đình chỉ, các quyết định sơ bộ và cuối cùng, và

về những lần rà soát (kể cả những dữ kiện thực tế sẵn có và những kết luận chứng minh

cho các quyết định trên) phải được công bố công khai trên Công báo Liên bang.

2.3.5. Sản phẩm tương tự và các quyết định về phạm vi điều tra

Liệu một sản phẩm cá biệt nào đó có thuộc phạm vi điều tra chống bán phá giá

hay không? Trong trường hợp này, DOC có thể ban hành “những quyết định về phạm vi

điều tra”, trong đó làm rõ phạm vi của một lệnh điều tra về một hàng hoá cụ thể. Những

quy định trên nhằm đảm bảo chắc chắn rằng hàng hố nhập khẩu có thể so sánh được

với “hàng hoá cùng loại” được sản xuất tại Hoa Kỳ, hoặc “hàng hóa tương tự”. Một “sản



28



phẩm tương tự” được xác định bởi Đạo luật thuế quan năm 1930 là “một sản phẩm

giống hoặc khơng giống nhưng có những đặc điểm và cách sử dụng gần giống nhất với

sản phẩm thuộc đối tượng điều tra”.

Thông thường, DOC sẽ xem xét các tiêu chí sau để xác định “sản phẩm tương

tự”: đặc tính vật lý nói chung; mục đích sử dụng của những người mua hàng cuối cùng;

các kênh thương mại mà ở đó hàng hố được bán; cách thức mà theo đó hàng hố được

bán và trưng bày; mục đích sử dụng cơ bản của hàng hố. Khơng có yếu tố đơn lẻ nào có

tính chất quyết định, và các nhân tố khác đều có thể được xem xét. Khi khơng có hàng

hố giống với hàng hóa ở thị trường nội địa để so sánh với việc bán mặt hàng đó ở Hoa

Kỳ, việc bán sản phẩm đó được đem so sánh với sản phẩm tương tự gần giống nhất của

nước ngoài trên cơ sở các đặc điểm được liệt kê trong bảng câu hỏi điều tra chống bán

phá giá và những bản chỉ dẫn.

Mặc dù ITC và DOC thường sử dụng quyết định giống nhau về “sản phẩm tương

tự”, nhưng ITC lại không bị ràng buộc bởi quyết định của DOC. ITC có thể xác định

“sản phẩm tương tự” trong nước ở một mức độ rộng hơn chủng loại hàng hố nhập khẩu

do DOC xác định, hoặc ITC có thể tìm ra hai hoặc nhiều hơn các “sản phẩm tương tự”

trong nước tương ứng với chủng loại hay hàng hoá nhập khẩu. Trong việc xác định “sản

phẩm tương tự” trong nước cho mục đích xác định thiệt hại tại thị trường trong nước,

ITC đặc biệt quan tâm đến các yếu tố sau: hình dáng vật lý bên ngồi; người sử dụng

cuối cùng; nhận thức của người tiêu dùng; những điều kiện sản xuất thơng thường, quy

trình sản xuất và nhân cơng; các kênh thương mại; tính có thể thay thế cho nhau của sản

phẩm; và giá cả, nếu thích hợp. Khơng có yếu tố đơn lẻ nào có tính chất quyết định, và

các yếu tố khác đều cần phải được xem xét.

2.3.6. Thời hạn áp dụng lệnh áp thuế chống bán phá giá

Thông thường, lệnh áp thuế chống bán phá giá sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm (đây

là hiệu lực về việc đánh thuế chứ không phải là hiệu lực về mức thuế ấn định). Tuy

nhiên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, hiệu lực của lệnh này có thể được rút ngắn hoặc gia

hạn.

Lệnh áp đặt thuế chống bán phá giá được DOC ban hành sau khi:

- Có kết luận cuối cùng của DOC khẳng định có việc bán phá giá (khơng dưới

mức có thể bỏ qua); và



29



- ITC ra kết luận cuối cùng khẳng định có thiệt hại gây ra bởi việc bán phá giá

đó. Theo qui định, sau 7 ngày kể từ ngày nhận được kết luận cuối cùng của ITC khẳng

định có thiệt hại, DOC phải ban hành lệnh áp đặt thuế chống bán phá giá. Như vậy, lệnh

này gần như là tự động sau khi các kết luận cuối cùng khẳng định có bán phá giá gây

thiệt hại. DOC không thể đưa ra quyết định khác.

- Mức thuế chống bán phá giá:

Do Hoa Kỳ áp dụng cách tính thuế hồi tố (tức là tính mức thuế chính thức trên cơ

sở biên độ bán phá giá thực tế trong giai đoạn bị tính thuế), nên trong lệnh áp đặt thuế

chống bán phá giá, DOC chỉ nêu mức thuế dự kiến (tạm thời) cho từng nhà sản xuất,

xuất khẩu được điều tra và mức thuế dự kiến cho các nhà sản xuất, xuất khẩu có liên

quan nhưng không được điều tra. Mức thuế tạm thời này được xác định trên cơ sở biên

độ phá giá mà DOC tính tốn trong q trình điều tra (mức thuế khơng vượt q biên

độ phá giá). Mức thuế chính thức sẽ được tính tốn cụ thể, nếu sau 12 tháng kể từ ngày

DOC ra quyết định này (và mỗi năm tiếp sau tính từ thời điểm này), các bên liên quan có

u cầu đề nghị DOC tính tốn chính xác mức thuế thực tế. Trong khoảng thời gian sau

khi có lệnh áp đặt thuế chống bán phá giá cho đến khi có quyết định ấn định mức thuế

chính thức (kết quả của việc rà sốt hành chính), nhà sản xuất và xuất khẩu liên quan

phải nộp thuế tạm thời dưới hình thức ký quỹ.

2.3.7. Thủ tục rà sốt thuế chống bán phá giá

- Rà soát theo thủ tục hành chính

Nếu được các bên có quyền và lợi ích liên quan u cầu, việc rà sốt theo thủ tục

hành chính các lệnh chống bán phá giá và các thoả thuận đình chỉ thường được DOC

tiến hành 12 tháng/lần, tính từ ngày bắt đầu áp dụng lệnh. Việc rà soát theo thủ tục hành

chính này xác định tiền thuế thực tế đang nợ cho khoảng thời gian rà soát vừa qua, và

đưa ra mức ký quỹ trả thuế dự kiến cho việc nhập khẩu tương lai. Nếu tiền ký quỹ trả

thuế thu được trong khoảng thời gian rà soát (căn cứ vào mức ký quỹ trả thuế dự kiến

trước đó) vượt quá tiền thuế thực tế phải trả cho khoảng thời gian đó (tiền thuế thực tế

phải trả được xác định trong lần rà sốt), thì tiền thừa sẽ được hồn trả cùng với lãi suất.

Nếu trường hợp ngược lại xảy ra, Cơ quan Hải quan Hoa Kỳ sẽ thu bất cứ khoản tiền nợ

nào cùng với lãi suất, theo trình tự, cách thức rà soát được tiến hành theo cách thức

tương tự với việc điều tra ban đầu.



30



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×