Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ SƠ LƯỢC VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

VÀ SƠ LƯỢC VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

Tải bản đầy đủ - 0trang

1916 một hàng hoá được xem là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu trung bình được

điều chỉnh thấp hơn giá bán trung bình được điều chỉnh của hàng hoá tương tự hoặc

cùng loại tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu hoặc thị trường của nước thứ

ba. Vì vậy, việc xác định hành vi bán phá giá được thực hiện bằng cách so sánh giữa giá

xuất khẩu (EP) của sản phẩm đó với giá trị thơng thường (NV) do Bộ Thương mại Hoa

Kỳ (DOC) xác định.

1.1.2 Giá xuất khẩu (Export Price –EP) và giá trị thông thường (Normal Value –NV).

Trong ADA không đưa ra khái niệm giá xuất khẩu nhưng EP có thể hiểu là giá bán

sản phẩm từ nước sản xuất sang nước nhập khẩu. Giá xuất khẩu được xác định bằng hai

cách. Cách thứ nhất là giá theo thỏa thuận giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu trong

hợp đồng ngoại thương ký kết giữa hai bên. Đây là cách tính giá xuất khẩu chuẩn và

được ưu tiên áp dụng khi xác định giá xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông

thường. Cách thứ hai là giá tự tính tốn; mức giá này được xác định trên cơ sở mức giá

khi sản phẩm nhập khẩu được bán lại lần đầu cho một người mua hàng độc lập hoặc có

thể xác định dựa trên một cơ sở hợp lý do cơ quan có thẩm quyền quyết định. (Khoản

2.3 Điều 2. ADA)

Giá trị thông thường được hiểu là giá bán của sản phẩm tương tự với sản phẩm bị

điều tra tại thị trường nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Giá

bán trong nước tại thị trường xuất khẩu sẽ được coi là giá trị thơng thường nếu sản phẩm

đó tương tự với sản phẩm được điều tra bán tại thị trường nước xuất khẩu theo các điều

kiện thương mại thông thường, và số lượng sản phẩm trong nước phải đủ lớn (doanh số

bán các sản phẩm này trong nước chiếm từ 5% trở lên doanh số bán các sản phẩm đang

bị điều tra vào nước nhập khẩu). Hoặc giá trị thông thường sẽ được xác định theo giá

của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp hoặc theo trị giá

thanh tốn, bằng tổng chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng với chi phí quản

lý, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận (Khoản 2.2 Điều 2. ADA)

1.1.3. Nguyên nhân và hệ quả của việc bán phá giá.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế.

Trong nhiều trường hợp, việc bán phá giá có mục đích cạnh tranh khơng lành mạnh,

nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:

- Loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, từ đó chiếm thế độc quyền;



11



- Bán giá thấp tại thị trường nước nhập khẩu để chiếm lĩnh thị phần;

- Bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh; ...

Đôi khi, việc bán phá giá là việc không mong muốn, như: do nhu cầu sản xuất, xuất

khẩu; do không thể bán được hàng, cung vượt cầu, sản xuất bị đình trệ; sản phẩm lưu

kho lâu ngày có thể bị hư hại ... nên đành “bán tháo” hàng hóa để thu hồi một phần vốn.

Theo qui định của WTO và pháp luật nhiều nước, thuế chống bán phá giá bị áp đặt mà

không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá.

Bán phá giá (vào thị trường nước ngoài) thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực,

do nó làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước

nhập khẩu. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối

với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn; nếu hàng bị

bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, thì giá nguyên liệu rẻ

có thể là yếu tố góp phần tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó; giá giảm có thể

là động lực thúc đẩy ngành sản xuất trong nước tự đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh,...

Vì vậy, WTO khơng đặt hành vị bán phá giá “ra ngồi vòng pháp luật” mà chủ động

điều chỉnh nó. Biện pháp chống bán phá giá sẽ chỉ được áp dụng khi đáp ứng các yêu

cầu quy định tại Điều 6 ADA về chứng cứ chứng minh có hành vi bán phá giá và thiệt

hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa.3

1.1.4 Sản phẩm tương tự (like product).

Theo khoản 2.6 Điều 2 ADA, sản phẩm tương tự được hiểu là sản phẩm giống hệt

(có tất cả các đặc tính như sản phẩm đang được xem xét) hoặc nếu khơng có sản phẩm

như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù khơng giống với mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc

điểm gần giống với sản phẩm được xem xét; có nghĩa là sản phẩm tương tự có thể là sản

phẩm giống hệt hoặc sản phẩm gần giống. “Ví dụ trong vụ Canada kiện Nhật rượu

Sochu, Wisky, Gin… được xác định là các “sản phẩm tương tự” vì có đặc tính tương tự

vì có đặc tính tương tự và thường được xếp trong một nhóm mã hàng trong danh mục

thuế quan”4. Việc xác định sản phẩm tương tự có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác

định giá trị thông thường của sản phẩm và xác định thiệt hại của ngành sản xuất nội địa.

3



4



Các Điều 6, 7, 8 ADA.

Vũ Hải Yến, 2011, Vũ Hải Yến, (2011), Pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ - Công cụ bảo hộ nền sản xuất



trong nước, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.7.



12



1.1.5 Biên độ phá giá (margin of dumping) và nền kinh tế phi thị trường (NME).

Biên độ giá giá là một trong những căn cứ quan trọng để xem xét hành vi bán phá

giá sẽ bị áp thuế như thế nào. Biên độ phá giá chính là mức độ chênh lệch giữa giá thơng

thường và giá xuất khẩu (tính trên giá xuất khẩu). Nếu biên độ phá giá dương tức là có

hành vi bán phá giá, giá trị thơng thường càng cao thì biên độ phá giá càng lớn. Theo

ADA điều kiện để áp thuế chống bán phá giá là biên độ phá giá khơng thấp hơn hai.

(>=2).

Tính chất thị thường hay phi thị trường (Non-Market) có ảnh hưởng lớn đến việc

tính giá trị thơng thường của hàng hóa sản phẩm. Nền kinh tế phi thị trường là thuật ngữ

dùng để chỉ các nước như Liên Xô, Trung Quốc, Đông Âu, Việt Nam và một số nước

khác. Hiện nay nền kinh tế phi thị trường được hiểu là nền kinh tế nơi Chính phủ độc

quyền hoặc gần như độc quyền về thương mại và nhà nước tự ấn định giá nội địa. Mặc

dù nguyên tắc của WTO là không phân biệt đối xử với các thành viên nhưng ADA cho

phép các nước thành viên đối xử khác với các nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường

trong một thời hạn nhất định.

1.2 Các biện pháp chống bán phá giá.

1.2.1 Thuế chống bán phá giá.

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế nhập khẩu bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu

thơng thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản

phẩm nước ngoài bị kết luận là bán phá giá vào nước nhập khẩu. Đây là loại thuế nhằm

chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá

gây ra.

“Thông thường, mỗi nước đều có một hệ thống các qui định riêng về các điều kiện

và thủ tục áp đặt thuế chống bán phá giá. Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được

nhiều nước sử dụng như một hình thức “bảo hộ hợp pháp” cho ngành sản xuất nội địa

của mình. Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng biện pháp này, các thành viên WTO đã

cùng thoả thuận về các qui định bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra và áp

đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong một Hiệp định về chống bán phá giá của

WTO - Hiệp định ADA (Anti-dumping Agreement).”5

1.2.2 Áp dụng biện pháp tạm thời (provisional measures).

5



Hỏi đáp pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ, WTO, EU - Câu số 4, trang 27. VCCI, Hà Nội, 2009.



13



Các biện pháp tạm thời là các biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp

dụng trong q trình tiến hành điều tra trước khi có quyết định cuối cùng về biện pháp

chống bán phá giá, nhằm ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra cho ngành sản xuất nội địa

trong quá trình điều tra. Các biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng khi:

- Việc điều tra đã được bắt đầu

- Kết luận sơ bộ đã xác định có hành vi chống bán phá giá và có dẫn đến thiệt hại cho

ngành sản xuất trong nước.

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm thời để ngăn chặn các thiệt

hại trong quá trình điều tra.

Thời gian áp dụng thường không sớm hơn 60 ngày từ ngày khởi xướng điều tra và

lâu nhất cũng không quá 4 tháng, trường hợp đặc biệt khơng q 6 tháng. Trong q

trình điều tra nếu phát sinh các vấn đề cần xem xét thêm, thời hạn áp dụng tương ứng có

thể là 6 tháng và 9 tháng.

Các biện pháp tạm thời bao gồm: thuế tạm thời hoặc hình thức bảo đảm (bằng tiền

đặt cọc hoặc tiền bảo đảm) tương đương mức thuế chống bán phá giá được dự kiến tạm

thời; hoặc cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế.

1.2.3 Cam kết về giá (price undertaking).

Các thủ tục điều tra có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt mà khơng áp dụng bất cứ

biện pháp tạm thời hay thuế chống bán phá giá nếu nhà xuất khẩu có cam kết về giá.

“Cam kết về giá là thỏa thuận giữa từng nhà xuất khẩu với cơ quan có thẩm quyền nước

nhập khẩu, trong đó nhà sản xuất tự nguyện tăng giá lên hoặc đình chỉ hành động bán

phá giá vào khu vực đang điều tra”(Khoản 8.1 Điều 8. ADA) để tránh khả năng phải

chịu thuế chống bán phá giá. Mức giá cam kết tăng lên phải loại bỏ thiệt hại do việc bán

phá giá gây ra (Khoản 8.1 Điều 8. ADA), và biện pháp này được thực hiện sau khi có

kết luận về việc có hành vi bán phá giá và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất

trong nước. Vì vậy, cam kết về giá chính là một biện pháp chống bán phá giá.

Cơ quan điều tra có thể đề nghị cam kết giá nhưng nhà xuất khẩu khơng có nghĩa

vụ chấp nhận, ngược lại nhà sản xuất đề nghị cam kết giá, nhưng cơ quan có thẩm quyền

cũng có thể chấp nhận hoặc từ chối.

Trong các biện pháp trên, thuế chống bán phá giá là biện pháp được DOC áp dụng

nhiều nhất, vừa loại bỏ, vừa bù đắp được thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa.



14



1.3. Chống bán phá giá và các biện pháp “khắc phục thương mại” khác.

Trong thương mại quốc tế, các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

được coi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp “khắc phục thương mại” (“trade

remedies”), và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng

hoá nước khác. Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp

dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không cơng bằng của hàng

hóa nhập khẩu. Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản

phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh

tranh, thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho

ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ

nước xuất khẩu.

Khác với hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, biện pháp tự vệ thường

được nói đến như một cơng cụ bảo hộ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh

trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp, nhằm hạn chế những tác động không

thuận lợi, gây thiệt hại “nghiêm trọng” cho ngành sản xuất trong nước, do tình trạng gia

tăng “bất thường” của hàng hóa nhập khẩu. Như vậy, biện pháp tự vệ có thể được áp

dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách chính đáng, khơng

có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp. Chính vì vậy, điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

phải khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại. Nếu như yêu cầu về điều kiện để áp dụng

biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp chỉ dừng lại ở mức cơ quan điều tra phải

chứng minh có tình trạng bán phá giá hay trợ cấp, và việc bán phá giá hoặc trợ cấp đó

gây thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước, thì trong các

cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, cơ quan điều tra phải chứng minh được tình

trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà ngành sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh

trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do việc gia tăng “bất thường” của luồng hàng hóa

nhập khẩu.

1.4 Vấn đề bảo hộ mậu dịch trong thương mại quốc tế.

Bảo hộ mậu dịch là việc chính phủ sử dụng các hàng rào thuế quan, phi thuế quan nhằm

bảo hộ và tạo thuận lợi cho ngành công nghiệp trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa

nhập khẩu.



15



Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế quan và phi thuế quan, như: thuế quan, hệ

thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các tiêu chuẩn kỹ thuật... để hạn

chế hàng hóa nhập khẩu; hỗ trợ các nhà sản xuất nội địa bằng cách giảm hoặc miễn thuế xuất

khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, trợ cấp xuất khẩu...để họ dễ dàng “bành trướng” ra thị

trường nước ngồi.

Cơng cụ bảo hộ mậu dịch thơng thường là các công cụ thuế quan và phi thuế quan. Các

công cụ phi thuế quan bao gồm: Hạn ngạch xuất nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, trợ cấp,

rào cản kỹ thuật, thủ tục hành chính, chống bán phá giá, phá giá tiền tệ, và nhiều công cụ

khác. Trong thương mại quốc tế, chống bán phá giá đang được nhiều quốc gia sử dụng, điển

hình là Hoa Kỳ và EU. Việc lạm dụng đã biến chống bán phá giá trở thành công cụ bảo hộ

mậu dịch cho quốc gia đó.

1.5 Lịch sử hình thành pháp luật chống bán phá giá ở Hoa Kỳ.

“Luật chống bán phá giá năm 1916 là Luật chống bán phá giá đầu tiên của Hoa Kỳ

được ban hành với mục đích cụ thể là chống bán phá giá. Văn bản luật này quy định các

chế tài dân sự và hình sự áp dụng đối với các hành vi bán hàng nhập khẩu với giá, về cơ

bản, thấp hơn so với giá trị thực tế trên thị trường hoặc thấp hơn giá bán buôn, với ý

định phá hoại hay gây thiệt hại cho một ngành sản xuất công nghiệp của Hoa Kỳ”.6

Luật chống bán phá giá năm 1916 vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, cho dù nó

khơng được sử dụng thường xuyên.

Trước năm 1980, các biện pháp quản lý bán phá giá của Hoa Kỳ đều được Luật

chống bán phá giá năm 1916 điều chỉnh. Sau đó, Luật này được thay thế bằng Luật về

Hiệp định thương mại năm 1979, bổ sung Mục VII mới vào Đạo luật thuế quan năm

1930, nhằm giải quyết cả hai vấn đề thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp, và

chuyển giao trách nhiệm quản lý luật chống bán phá giá từ Bộ Tài chính sang Bộ

Thương mại. Mục VII sau đó đã được sửa đổi bằng Luật thuế quan và thương mại năm

1984, Luật cạnh tranh và thương mại năm 1988, và gần đây nhất là các Hiệp định của

Vòng đàm phán Uruguay tháng 12/1994 (URAA). Trong đó, Mục II của URAA bổ sung

các quy định của ADA. Ngoài các điều khoản sửa đổi theo các hiệp định của Vòng đàm

phán Uruguay, URAA còn bao gồm một vài thay đổi nữa trong luật chống bán phá giá,



6



http://www.doc.gov, Department of Commerce. – website của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ.



16



như sửa đổi các quy định về chống lại âm mưu bán phá giá. Các quy định chi tiết về

trình tự và thủ tục điều tra bán phá giá đã được ban hành sau đó.

1.6 Các giai đoạn trong một vụ kiện chống bán phá giá theo pháp luật Hoa Kỳ.

Trình tự một cuộc điều tra chống bán phá giá tại Hoa Kỳ gồm 6 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Khởi xướng điều tra để áp đặt thuế chống bán phá giá (thông thường

là 20 ngày sau khi có đơn khiếu nại của các doanh nghiệp hoặc hiệp hội doanh nghiệp

trong nước, theo đó yêu cầu áp đặt thuế chống phá giá).

Giai đoạn 2: Điều tra sơ bộ của Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) về

thiệt hại (thông thường là 45 ngày sau khi có đơn khiếu nại).

Giai đoạn 3: Xác định sơ bộ của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) về hành vi bán

phá giá (140 ngày sau khi bắt đầu điều tra, tối đa là 190 ngày đối với những trường hợp

phức tạp).

Giai đoạn 4: Quyết định cuối cùng của DOC (215 ngày sau khi bắt đầu điều tra,

tối đa là 275 ngày).

Giai đoạn 5: Quyết định cuối cùng của ITC về thiệt hại (260 ngày sau khi bắt đầu

điều tra)

Giai đoạn 6: Lệnh áp đặt thuế chống phá giá (khoảng một tuần sau khi có quyết

định cuối cùng của ITC). Tổng thống có thể huỷ bỏ lệnh của ITC trong vòng 60 ngày vì

“những lý do chính trị”. Hàng năm, vào chính ngày lệnh thuế chống bán phá giá được

ban hành, các bên có cơ hội đưa ra yêu cầu xem xét lại theo thủ tục hành chính về biên

độ phá giá cho thời gian một năm kế tiếp đó.

1.7 Các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ.

Những cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực chống bán phá giá của Hoa Kỳ là

những cơ quan thực hiện việc điều tra, ra quyết định về các biện pháp chống bán phá giá,

thực thi, giải quyết các khiếu kiện liên quan đến các quyết định trong hoạt động chống

bán phá giá..., cụ thể:

Bộ Thương mại Hoa Kỳ (US Department of Commerce - DOC): chịu trách nhiệm:

+ Điều tra về việc bán phá giá (“less than normal value” investigation);

+ Ra quyết định chính thức về việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (sau

khi có các kết luận cuối cùng khẳng định có hành vi bán phá giá và có thiệt hại);

+ Ra quyết định về thoả thuận đình chỉ (suspension agreements);



17



+ Rà sốt hành chính để xác định mức thuế chống bán phá giá chính thức

(administrative reviews);

+ Thực hiện các thủ tục rà sốt do có sự thay đổi hồn cảnh (changed

circumstances reviews), rà sốt “hồng hôn” (“sunset” reviews).

Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (US International Trade Commission - ITC)

chịu trách nhiệm:

+ Điều tra thiệt hại;

+ Tham gia vào quá trình điều tra trong thủ tục rà sốt do thay đổi hồn cảnh

(changed circumstances reviews), và rà sốt “hồng hơn” (“sunset” reviews).

Cơ quan Hải quan Hoa Kỳ (US Customs Service) chịu trách nhiệm:

+ Thực thi các quyết định liên quan đến biện pháp chống bán phá giá;

+ Thu thuế chống bán phá giá.

Tòa án Thương mại quốc tế (US Court of International Trade - CIT):

+ Giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định của cơ quan có thẩm quyền

liên quan đến chống bán phá giá;

+ Quyết định của Tòa này về chống bán phá giá có thể bị kháng cáo lên Tòa Phúc

thẩm Liên bang Hoa Kỳ.

Cơ quan Đại diện thương mại Hoa Kỳ (The Office of the US Trade

Representative - USTR):

+ Tham gia đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế (trong đó có các hiệp

định liên quan đến chống bán phá giá);

+ Đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp

(trong đó có các tranh chấp liên quan đến các biện pháp chống bán phá giá) theo thủ tục

của WTO.



18



CHƯƠNG II.

PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

2.1. Văn bản pháp luật của Hoa Kỳ về chống bán phá giá.

Pháp luật về chống bán phá giá của Hoa Kỳ qui định các vấn đề trình tự, thủ tục, nội

dung của quá trình điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tại Hoa Kỳ và

các cơ quan có thẩm quyền trong các hoạt động này. Hiện nay, các vấn đề về chống bán

phá giá được qui định trong các văn bản sau đây:

- Luật chống bán phá giá 1916;

- Đạo luật Thuế quan 1930;

- Các Phần 1671-1677n, Mục 19 Bộ luật Hoa Kỳ (US Federal Code);

- Các Phần 351.101-702 Mục 19 Tập hợp các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ (US

Federal Regulation);

- Các Phần 207.1-120 Mục 19 Tập hợp các văn bản pháp luật của Hoa Kỳ.

2.2. Nội dung pháp luật Hoa Kỳ về xác định một hành vi là bán phá giá.

2.2.1. Xác định giá trị thông thường.

Việc xác định giá trị thông thường (NV) dựa trên quan hệ phụ thuộc của các chủ

thể liên quan. Phạm vi các chủ thể được xem là có quan hệ phụ thuộc nhau theo pháp

luật Hoa Kỳ rộng hơn so với qui định tại ADA.

Đó có thể là các chủ thể có quan hệ gia đình, quan hệ giữa chủ sử dụng lao động

và người lao động, quan hệ liên doanh hợp tác,... Thường thì tiêu chí để xác định quan

hệ phụ thuộc này là quan hệ sở hữu. Theo luật, các bên được xem là “phụ thuộc nhau”,

nếu một bên chiếm ít nhất 5% cổ phần có quyền biểu quyết của bên kia.

Đó có thể là quan hệ giữa các chủ thể có sự kiểm sốt (bên này kiểm soát bên kia,

hoặc cả hai bên cùng kiểm soát một bên thứ ba, hoặc cả hai cùng thuộc sự kiểm soát của

một bên khác). Khái niệm “kiểm soát” được hiểu là “ở vào vị trí có thể thực hiện sự hạn

chế hoặc điều khiển một cách hợp pháp hoặc trên thực tế”. Cách định nghĩa mơ hồ này

cho phép DOC có thể xác định quan hệ phụ thuộc ngay cả trên cơ sở những giao dịch

thương mại nhất định giữa các chủ thể (ví dụ: quan hệ cung cấp, phân phối lâu dài; quan

hệ nợ;...).

Hệ quả của quan hệ phụ thuộc giữa các chủ thể trong giao dịch:



19



Giá cả trong các giao dịch giữa các chủ thể “phụ thuộc nhau” như vậy sẽ khơng

được tính đến trong các hoạt động sau của DOC:

(i) Trong việc xác định các giao dịch được sử dụng để tính tốn NV: những giao

dịch loại này sẽ bị loại ra, trừ khi DOC xác định rằng quan hệ phụ thuộc đó khơng ảnh

hưởng đến giá bán của sản phẩm nước ngoài tương tự (trên cơ sở so sánh giá bình quân

trong giao dịch này với giá bình quân trong những giao dịch bình thường giữa nhà sản

xuất với các chủ thể độc lập).

(ii) Trong việc tính tốn chi phí sản xuất và trị giá tính tốn: trường hợp giữa nhà

sản xuất với nhà cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm bị điều tra hoặc sản

phẩm tương tự nước ngồi có quan hệ phụ thuộc, chi phí đầu vào của các sản phẩm này

sẽ khơng được sử dụng để tính tốn chi phí sản xuất nói chung, trừ khi DOC xác định

rằng quan hệ phụ thuộc này không ảnh hưởng đến giá đầu vào.

Trước khi tính tốn biên độ phá giá, DOC phải tiến hành một số điều chỉnh sau đối

với “NV” mà mình đã xác định:

- Điều chỉnh do có khác biệt về chủng loại giữa sản phẩm bị điều tra và sản phẩm

nước ngồi tương tự (ví dụ: khi khơng tìm được sản phẩm tương tự trên thị trường nước

xuất khẩu giống hệt với sản phẩm bị điều tra tại Hoa Kỳ);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về điều kiện bán hàng (ví dụ: nếu thời hạn thanh

toán tiền áp dụng cho khách hàng tại thị trường nước xuất khẩu ngắn hơn thời hạn áp

dụng cho khách hàng tại Hoa Kỳ; khác biệt về các hình thức hỗ trợ kỹ thuật, dịch vụ,

quảng cáo...);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về cấp độ bán hàng (ví dụ trong thị trường nội

địa, sản phẩm thông thường được bán bn và bán lẻ, nhưng tại Hoa Kỳ thì sản phẩm

chỉ được bán bn);

- Điều chỉnh do có sự khác biệt về số lượng hàng bán ra (DOC chỉ thực hiện

điều chỉnh này, nếu bị đơn có thể chứng minh được những khác biệt về số lượng này có

thể tạo ra sự chênh lệch giá);

- Điều chỉnh liên quan đến các khoản tín dụng (do có sự chênh lệch về thời gian

giữa ngày gửi hàng và ngày được thanh toán tiền hàng).



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ SƠ LƯỢC VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA HOA KỲ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×