Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 một số vướng mắc và bất cập về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành

1 một số vướng mắc và bất cập về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành

Tải bản đầy đủ - 0trang

người chồng ,người vợ đã chết đó chứ khơng phải xác định người chồng, người vợ đó

được hưởng thừa kế của vợ hoặc chồng mình đã chết

Do vậy phải hiểu rõ trong trường hợp bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ để lại di sản, nếu

người chồng hoặc người vợ đó chết thì những người con của họ mới được hưởng

quyền thừa kế thế vị của ông bà nội, ông bà ngoại để lại.

Do hiểu khơng đúng,nhiều tòa án khơng đề cập đến người con của người chết hoặc

nếu có đề cập nhưng lại xếp những người con đó vào tư cách là những người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan, trong khi đó lại đưa người còn sống là vợ (hoặc chồng) của

người chết là nguyên đơn kiện chia thừa kế di sản của người bố mẹ đẻ của người chết.

Có tòa án trong q trình điều tra, giải quyết vụ án thừa kế đã ghi lời khai của những

người thừa kế, trong đó có sự từ chối hoặc nhường quyền thừa kế của mình cho một

người khác. Lẽ ra phải đưa những người thừa kế đó tham ra tố tụng để tòa án xem xét

chấp nhận hay khơng chấp nhận sự tự nguyện đó. Nhưng khi thấy họ từ chối quyền lợi

thừa kế thì loại bỏ họ ra ngồi vụ án ln, khơng xếp họ tham gia tố tụng với tư cách

nào cả. Điều này dẫn đến trường hợp tại tòa án sơ thẩm, những người thừa kế có ý

kiến khước từ thừa kế, nhường kỷ phần cho người khác nhưng sau đó lại đổi ý kiên.

Vì khơng được tham gia tố tụng nên họ cũng không được quyền kháng cáo bản án sơ

thẩm mà khiếu nại Tòa án nhân dân Tối cao

Vì vậy , bài học rút ra từ thực tiễn là tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý đến việc điều tra kỹ

lưỡng để xác định đúng đắn hàng thừa kế ngay từ ban đầu để đưa họ tham gia tố tụng,

cho dù trước khi xem xét các nội dung liên quan đến việc tranh chấp về thừa kế mới

có thể giải quyết vụ án đúng pháp luật

3.1.2 - Vấn đề thừa kế theo pháp luật giữa con riêng và cha mẹ kế.

Giữa con riêng và cha kế,mẹ kế khơng có quan hệ huyết thống nhưng theo quy định

tại điều 38 luật hôn nhân và gia đình ,họ lại có nghĩa vụ chăm sóc,ni dưỡng nhau.

Như vậy, giữa con riêng với cha kế,mẹ kế dù muốn hay không muốn họ phải thể hiện

các nghĩa vụ theo pháp luật. Nếu họ cùng chung sống với nhau thì nghĩa vụ của họ đối

với nhau theo quy định trên cũng chẳng có gi khác so với nghĩa vụ giữa con đẻ với

cha đẻ,mẹ đẻ. Ngược lại nếu họ chung sống với nhau mà không thể hiện nghĩa vụ

chăm sóc, ni dưỡng nhau thì họ bị coi là vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng không? Nếu

xác định họ vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng nhau thì quyền thừa kế của một

trong hai người sẽ bị tước bỏ theo quy định của pháp luật,khi một bên chết trước.

Ngược lại, trong trường hợp họ không cùng chung sống với nhau nhưng họ vẫn thể



16



hiện được nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì họ có được

thừa kế theo pháp luật của nhau khi một bên chết trước khơng? Để làm rõ vấn đề này

thì em nghĩ điều 679 cần phải kết hợp với các điều từ điều 34 đến điều 38 luật hôn

nhân và gia đình để xây dựng điều luật có nội dung thống nhất.

Phương án cho việc xây dựng quy định này có thể là con riêng với cha kế, mẹ kế được

thừa kế theo pháp luật cảu nhau, thì độ tuổi con của người con riêng cần phải được

quy định ở mức nào đó . Theo đó thời hạn chăm sóc , nuôi dưỡng nhau, mức độ năng

lực hành vi dân sự của họ và họ đã thể hiện nghĩa vụ chăm sóc ni dưỡng như thê

nào mà khơng nhất thiết họ phải sống cùng nhau. Nếu còn giữ nguyên điều 679 BLDS

như hiện nay, thì việc xác định quyền thừa kế theo pháp luật của nhau giữa con riêng

với cha kế, mẹ kế là một vấn đề phức tạp sẽ có nhiều quan điểm khác nhau trong việc

áp dụng quy phạm để giải quyết tranh chấp thực tế phát sinh. Như vậy sẽ gây nên

pháp luật về thừa kế không những thiếu chặt chẽ mà còn khó có thể áp dụng được

thống nhất ở các cấp tòa án. Như vậy thì pháp luật nên quy định về việc xác định

nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa con riêng với cha kế, mẹ kế không phụ thuộc và nơi

cư trú củ họ, ,mà căn cứ vào việc giữa họ có thực sự thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc,

ni dưỡng nhau như cha con,mẹ con hay không

Về nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa con riêng và cha kế, mẹ kế pháp luật không nhất

thiết phải quy định điều kiện họ cùng sống chung với nhau bởi vì sự thể hiện nghĩa vụ

chăm sóc ni dưỡng nhau giữa họ về điều kiện khơng gian không ảnh hưởng nhiều

tới việc nuôi dưỡng. Trên thực tế đã cho thấy con riêng và cha kế, mẹ kế đã không

cùng chung sống với nhau do điều kiện công việc ,nhiệm vụ của từng người mà họ

không thể chung sống cung nhau, nhưng họ vẫn dành chio nhau những khoản tiền

hoặc lương vật chất khác để đảm bảo cuộc sống của nhau với một tình cảm chân thực.

Nếu xét về mặt đạo đức thì hành vi ni dưỡng nhau giữa những người con riêng với

cha kế,mẹ kế được xem xét như bổn phận tự nguyện. Những khoản tiền và lương vật

chất khác của một trong hai bên được chuyển cho nhau để bảo đảm cuộc sống ổn định

và thậm chí trong điều kiện nào đó,mức độ vật chất mà họ dành cho nhau đảm bảo

cho chất lượng cuộc sống còn cao hơn mức cao hơn mức sống của những người bình

thường khác trong cùng một khu vực. Theo quan điểm của em pháp luật nên có

những quy định về vấn đề này theo giải pháp sau đây:

- Nếu giữa con riêng và cha kế,mẹ kế đã thể hiện được trên thực tế nghĩa vụ chăm sóc,

ni dưỡng và q mến,kính trọng nhau giữa cha con, mẹ con thì khi một bên chết



17



trước ,họ được thừa kế theo pháp luật của nhau như cha con, mẹ con. Theo đó, con

của người con riêng được thừa kế thế vị như các cháu ruột khác của người là cha kế,

mẹ kế trong trường hợp người con riêng đó chết trước hoặc chết cùng vào một thời

điểm với cha kế, mẹ kế. Có quy định cụ thể như vậy, khơng những thuận tiện cho việc

áp dụng quy phạm để giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế trong trường hợp

cụ thể,mà nó còn phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và truyền thống tốt đẹp của

người Việt Nam trong quan hệ mẫu kế, kế phụ

Từ những phân tích trên điều 679 BLDS cần sửa như sau :

Con riêng và bố dượng(cha kế),mẹ kế không phụ thuộc vào nơi họ cư trú nếu có quan

hệ chăm sóc ,ni dưỡng nhau như cha con, mẹ con từ một phía hoặc từ cả hai phía,

thì được thừa kế của nhau theo quy định tại điều 676 và con và cháu con hoặc cháu

của người con riêng đó còn được thừa kế tài sản theo quy định tại điều 667.

Và vì trên thực tế có trường hợp khi người để lại di sản chết vì khơng muốn cho con

riêng hưởng di sản mà những người thừa kế khác không thừa nhận quan hệ ni

dưỡng đó.Trong trường hợp này thì quyền lợi của người là cha kế, mẹ kế,con riêng sẽ

được đảm bảo bằng biện pháp nào? Pháp luật đã không quy định cụ thể và thiết nghĩ

đây là điều cần bổ sung để tránh gây ra tình trạng điều luật được hiều khơng nhất quán

và để đảm bảo quyền lợi cho người được hưởng di sản thừa kế.

3.1.3- Những người thừa kế được sịnh theo phương pháp khoa học:

Đây cũng là một vấn đề nóng bỏng nữa khiến những nhà áp dụng pháp luật lúng

túng,xác định cha cho những đứa bé sinh ra theo phương pháp khoa học thụ tinh nhân

tạo. Trong một số trường hợp đưa trẻ sinh ra theo phương pháp tiến bộ khoa học

nhưng khơng được sự thuận tình của cả hai vợ chồng trong khi hơn nhân còn tồn tại

khiến những người xét xử không biết phải phân định như thế nào khi xẩy ra tranh chấp

Ví dụ như là: trên thực tế.có trường hợp hai vợ chồng sống với nhau trong một thời

gian dài nhưng khơng có con do người chơng khơng có khả năng có con. Khơng bàn

bạc với chồng, người vợ đã tự ý đi thụ tinh nhân tạo và sinh ra một đứa bé. Lúc vợ

chồng còn sống hòa thuận với nhau thì khơng có chuyện gì xẩy ra. Đến khi ơng bà nội

chết đi mới biết trước khi chết ông bà nội để lại di chúc cho đứa cháu đích tơn do ơng

,bà nội cư nhầm tưởng rằng đó là giọt máu của con trai ơng bà. Lúc này vợ chồng xẩy

ra xích mích và dẫn đến ly hôn. Trong trường hợp này, đứa bế sẽ được xác định như

thế nào? Đứa bé có phải là con chung của hai vợ chồng trong khi hơn nhân còn tồn tại

hay khơng? Nếu xét về lý thì đứa bé dó hồn tồn khơng phải là máu mủ của người



18



chông mà là do người vợ đi thụ tinh nhân tạo.Việc xác định tư cách của đứa bé rất

quan trọng bởi lẽ, nếu xem đứa trẻ là con chung thì việc hưởng di sản của ơng, bà nội

sẽ được giải quyết một cách dễ dàng. Nhưng xét về mặt truyền thốn thì khơng thể xem

đứa bé là con của chồng được bởi người vợ không hề bàn bạc với chồng về việc đi thụ

tinh nhân tạo

Trong trường hợp cụ thể này thì, một số người cho rằng đứa trẻ đó khơng được xem là

con của người chồng.Bởi lẽ,trong trường hợp thụ tinh nhân tạo nhưng tinh trùng được

lấy từ người chồng để thụ tinh thì đó mới là con đẻ của người chồng. Cũng có những

đứa bé được thụ tinh nhân tạo không phải từ tinh trùng của người chồng nhưng được

sự đông ý, thỏa thuận giữa hai vợ chồng thì đứa trẻ vẫn được xem là con chung của

hai vợ chồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này người này người vợ tự ý đi thụ tinh

nhân tạo nên đứa bé sẽ được xem là con riêng của người vợ. Do vậy, dù di chúc của

ông,bà nội đã nhầm lẫn do không biết đứa bé sinh ra theo phương pháp thụ tinh nhân

tạo và khơng có một chút máu mủ huyết thống dòng tộc mình. Ý chí của ông ,bà nội

cho đứa cháu hưởng di sản dựa trên suy nghĩ duy trì huyết thống dòng tộc. Vì thế, dù

di chúc hợp pháp về hình thức nhưng nội dung có sự nhầm lẫn nên đứa bé sẽ khơng

được hưởng tồn bộ di sản do ơng bà để lại

Tất cả nhưng suy luận cũng không thể nào đưa ra một ý kiến thống nhất va thuyết

phục được. Do vậy, em thiết nghĩ trong thời gian tới các nhà làm luật nên quy định cụ

thể vấn đề này. Xã hội ngày càng phát triển thì hiện nay vấn đề áp dụng các phương

pháp khoa học tiến bộ để hỗ trợ trong việc sinh đẻ xẩy ra rất phổ biến.Do vậy,vấn đề

công nhận cha cho những đưa trẻ sinh ra theo phương pháp khoa học hết sức quan

trọng. Điều đó khơng những có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi cho

những đứa trẻ mà còn mang lại tình thương yêu,tạo ra những suy nghĩ tốt đẹp trong

việc hình thành nhân cách tre thơ.Ngược lại,nếu xảy ra tranh chấp xuất phát từ vấn đề

này sẽ hình thành những suy nghĩ khơng tốt và gây vết thương lòng cho những đứa trẻ

vô tội tâm hồn trong như pha lê. Mà pháp luật thừa kế hiện hành của nước ta chưa có

quy định cụ thể về vấn để này.Nếu pháp luật không quy định rõ ràng thì sẽ rất khó giải

quyết khi xẩy ra tranh chấp trên thực tế. Vì vậy cần phải bổ sung những quy định về

trường hợp sinh đẻ theo phương pháp thụ tinh nhân tạo m thụ tinh trong ống nghiệm

một cách cụ thể, rõ ràng để đảm bảo quyền lợi cho những người liên quan và những

đưa bé được sinh ra theo phương pháp khoa học này.Có như vậy khi có tranh chấp về

thừa kế liên quan đến những người này thì những người nha áp dụng pháp luật mới có



19



cơ sở để giải quyết một cách thấu tình đạt lý,nâng cao cơng tác xét xử và tạo niềm tin

vào pháp luật trong lòngy người dân.

3.1.4 - Vấn đề thừa kế của con nuôi với các thành viên trong gia đình của cha mẹ

ni khi Luật ni con ni 2010 ra đời và có hiệu lực

Theo tinh thần của Bộ luật dân sự và phần phân tích quan hệ thừa kế giữa anh chị

em ruột với nhau, thì ta có thể thấy mối mâu thuẫn sau đây

Thứ nhất: Quan hệ giữa anh, chị với em nuôi (con đẻ và con nuôi của một người).

Anh chị với em nuôi không phải là anh chị em ruột với nhau, khơng có quan hệ huyết

thống, khơng có quan hệ ni dưỡng nên khơng là người thừa kế của nhau. Ví dụ:

Vợ chồng T và K có hai người con là J và H (đã thành niên) trong đó J là con nuôi và

H là con đẻ; giả sử do không may bị tay cảm H chết .Thì trong trường hợp này mặc dù

là anh, chị, em sống với nhau trong cùng một gia đình nhưng J, H khơng phải là “anh

chị em ruột” của nhau nên không được hưởng di sản của nhau.

Mà theo, Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi,

giữa cha mẹ ni và con ni có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa

con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ ni cũng có các quyền,

nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp

luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

Như vậy quy định này đồng nghĩa rằng khi được nhận làm con ni thì quyền và

nghĩa vụ của con nuôi sẽ phát sinh như quyền và nghĩa vụ của người con đẻ với các

thành viên của gia đình.

Theo quan điểm của BLDS thì con ni không phải là người được hưởng di sản

của anh, chị, em ni (vì khơng phải là anh, chị, em ruột với nhau), không là người

được hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai của ông bà nuôi, hàng thứ ba của cụ (vì

khơng phải là chắt ruột của cụ).

Xuất phát từ thực tế tình hình nhận ni con ni của nước ta, các trường hợp được

nhận làm con nuôi thường là trẻ em mồ côi trong các trại trẻ mồ cơi khơng xác định

được gia đình gốc, trẻ em bị bỏ rơi. Gia đình cha mẹ ni là gia đình duy nhất, là tất

cả cuộc sống của các em. Việc hạn chế nhận di sản trong gia đình cha mẹ ni đã vơ

hình gây ra sự khơng bình đẳng, sự phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ, gây ra

sự kỳ thị làm cho con nuôi mặc cảm với số phận của mình. Luật ni con ni đã giải

quyết vấn đề đó, đã tạo cho con ni có một hồn cảnh mới hồn tồn bình đẳng.

Theo quan điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010, con ni có quyền và nghĩa



20



vụ đối với các thành viên của gia đình cha mẹ ni như con đẻ, tức là con nuôi sẽ

nhận được di sản của ông bà; anh, chị ,em nuôi ở hàng thừa kế thứ hai; cháu nuôi sẽ

được nhận di sản thừa kế của cụ ở hàng thừa kế thứ ba. Mặt khác quy định về thừa kế

thế vị theo Điều 677 BLDS sẽ không còn những tranh luận xoay quanh vấn đề: Ni –

ni – đẻ, nuôi – đẻ - nuôi , nuôi – nuôi – nuôi.

Con nuôi cùng chung sống trong một gia đình, có nghĩa vụ với các thành viên

trong gia đình như con đẻ nên quy định tại Điều 24 Luật ni con ni là hồn tồn

hợp lý.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỂ

Quyền thừa kế của công dân là chế định pháp luật đã được khẳng định trong các văn

bản hiến pháp từ năm 1946 đến nay. Cùng với việc được pháp luật thừa nhận và bảo

hộ, các quy định về quyền thừa kế của công dân ngày càng được bổ sung, củng cố và

hoàn thiện hơn. Sự phát triển của chế định thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật

nói riêng ln đi kèm với sự phát triển của chế định quyền sở hữu tài sản của công

dân.

Qua hơn năm năm thực thi BLDS 2005 mặc dù đã có những quy định khá cụ thể để áp

dụng một cách thống nhất về các quy định liên qua đến thừa kế . Tuy nhiên qua thực

tế hoạt động xét xử của tòa án nhân dân về các tranh chấp xác định diện và hàng thừa

kế vẫn thấy cần phải được tiếp tục sửa đổi bổ sung để từng bước hoàn thiện hơn cho

phù hợp với tình hình kinh tế xã hội nước ta hiên này và lâu dài



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM THẢO



21



1 BỘ LUẬT DÂN SỰ CỦA NƯỚC CÔNG HỊA XA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM( NXB: LAO ĐƠNG)

2 GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

2006 (NXB: CƠNG AN NHÂN DÂN)

3 GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM (NXB: GIÁO DỤC VIỆT NAM)

4 LUẬT HƠN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

5 LUẬT NI CON NUÔI NĂM 2010

6 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG

DÂN VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY ( PHÙNG TRUNG TẬP), NĂM 2002

7 LUÂN ÁN THẠC SĨ LUẬT HỌC: THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT CỦA

CHÁU,CHẮT THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM (LÊ ĐỨC BỀN),

NĂM 2009

-



Nghị Quyết 35/2000;

Thông Tư 01/2001;

Nghị Quyết 02/2000;

1. Pháp lệnh thừa kế;

2. Nghị quyết của hội đồng thẩm phán TAND tối cao số 02/HĐTP ngày 19 tháng

10 năm 1990 hướng dẫn áp dụng một số quyết định của pháp lện thừa kế;

3. http://thongtinphapluadansu;

4. Nghị Định Số 12/NĐCP ngày 12/02/2003;



MỤC LỤC



I ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................................1

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ..............................................................................................1

1.Diện và hàng thừa kế.............................................................................................1

1.1khái niệm về diện và hàng thừa kế..................................................................1

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 một số vướng mắc và bất cập về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×