Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 bản chất pháp luật về hang thừa kế theo pháp luật hiện hành

2 bản chất pháp luật về hang thừa kế theo pháp luật hiện hành

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại

Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thứ nhất của vợ chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là

vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp (quan hệ hôn nhân)

Khác với pháp luật thực định,pháp luật thời phong kiến quy định hàng thừa kế thứ

nhất chỉ có con cái .Vợ hoặc chồng khơng được quy định trong một hàng thừa kế cố

định nào và vị trí của người vợ bao giờ cũng bị xem nhẹ. Bởi theo truyền thống của

người Việt Nam lúc bấy giờ “ nhập gia tùy tục, xuất giá tồng phu, phu tử tòng tử” nên

quyền lực gia đình tập trung vào người chồng. Khi một người phụ nữ kết hơn thì

người chồng đương nhiên trở thành chủ sở hữu của tất cả tài sản trong gia đình , thậm

chí là chủ sở hữu luôn cả tài sản của người vợ đem về nhà chồng khi hết hơn .Nếu là

vợ chồng thì kể cả trong các trường hợp đặc biệt sau cũng được thừa kế của nhau :

+ Trong trường hợp vợ,chồng đã chia tài sản chung khi hơn nhân còn tồn tại mà

sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản

+ Trong trường hợp vợ ,chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án

cho ly hơn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người

chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

+ Người đang là vợ hoặc là chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì

dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản

(*) Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng được pháp luật

thừa nhận : Đó là các trường hợp có nhiều vợ nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở

miền Bắc, trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc( trong

khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và cuộc hơn

nhân sau khơng bị tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật . Trong

trường hợp này, người chồng(vợ) được hưởng thừa kế thứ nhất của tất cả những người

vợ( chồng) và ngược lại

- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại: được hưởng thừa kế của

nhau dựa trên quan hệ huyết thống.Cha mẹ sinh các con và có nghĩa vụ nuôi dưỡng

các con trưởng thành.Ngược lại, các con phải kính trọng,u thương, chăm sóc và

phụng dưỡng cha mẹ. Do vậy họ phải thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.

Cha đẻ, mẹ đẻ,con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau không chỉ là quy định của

pháp luật thừa kế Việt Nam mà là của hầu hết các nước trên thế giới. Con đẻ được

hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và

ngược lại .



11



- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con ni và ngược lại.

Trước đây, đã có giai đoạn pháp luật chỉ cho phép con nuôi được thừa kế của bố mẹ

nuôi chứ không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của bố mẹ đẻ và anh chị em ruột

,ngược lại cha đẻ, mẹ đẻ của người đang làm con nuôi cũng thuộc diện thừa kế theo

pháp luật của người con đẻ đó. Tuy nhiên, theo quy định của BLDS năm 1999 ,BLDS

năm 2005 thì cha mẹ ni và con nuôi được thừa kế di sản của nhau và nếu một người

đi làm con nuôi của người khác thi vừa có thể được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ

đẻ và cha đẻ của người đi làm con nuôi người khác cũng được hưởng thừa kế của

người con nuôi đó. Để có thể được hưởng thừa kế thì quan hệ nhận nuôi con nuôi

phải hợp pháp theo quy định của luật hơn nhân và gia đình năm 2000 và luật ni con

ni sửa đổi năm 2010

Ngồi ra, giữa con đẻ và con ni khơng có sự phân biệt, theo đó, quyền thừa kế theo

pháp luật của con đẻ và con nuôi la ngang nhau khi hưởng di sản thừa kế của cha

mẹ .Điều này còn phù hợp với mục đích nhận và ni con ni nhằm thể hiện lòng

nhân đạo, yêu thương của mọi người sao cho trẻ em được nuôi dưỡng trong điều kiện

tốt hơn và bù đắp cả vật chất lẫn tinh thần khi làm con nuôi. Những người ở hàng thừa

kế thứ nhất có mối quan hệ gần gũi hơn cả đối với người để lại di sản được xét trên

quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ ni dưỡng

Ví dụ: A và B là kết hơn năm 1970 và có con chung với nhau là C ,D và có một

người con ni là E do cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi lúc E còn nhỏ(13 tuổi ) .

Năm 2009 B có đơn yêu cầu tòa án chia tài sản chung của hai vợ chồng, vì mục

đích kinh làm ăn kinh doanh riêng. Việc làm ăn kinh doanh của B rất phát

triển,nhưng không may ngày 29/10/2010 vì bị tai biến mạch máu não ,B chết đột

ngột. Sau khi mai táng cho B xong các con của B xảy ra tranh chấp số tài sản cha

để lại nhưng lại khơng có di chúc gì cả. Ngày 1/1/2011 bà A làm đơn yêu cầu tòa

án chia di sản thừa kế của ơng B.

Tòa án đã xác định ông B chết để lại di sản là 56 tỷ đồng

Áp dụng quy định của điều 667 người thừa kế theo pháp luật, Tòa án xác định

A,C,D,E đều thuộc diện thừa kế của B và đều cùng nằm trong hàng thừa kế thứ

nhất của B

“Hàng thừa kế thứ nhất gồm : vợ, chồng,cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi , mẹ ni ,con đẻ,

con

ni

của

người

chết.”

Do đó số di sản ơng B để lại sẽ được chia đều cho bốn người:



12



A=C=D=E= 56 tỷ đồng : 4 = 14 tỷ đồng

Hàng thừa kế thứ hai : điểm b khoản 1 điều 676 BLDS năm 2005 quy định những

người thừa kế ở hàng thứ ba bao gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh

ruột,em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà

nội , ông ngoại, bà ngoại;

- Quan hệ thừa kế giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại,bà ngoại

với cháu ngoại và ngược lại

Ông bà nội là người sinh ra cha của cháu,ông bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của

cháu. Nếu cháu(ruột) chết thì ơng bà nội, ông bà ngoại sẽ ở hàng thừa kế thứ hai của

cháu và ngược lại. Trước đậy,BLDS 1995 chỉ quy định ông, bà( nội ,ngoại ) ở hàng

thừa kể thứ hai của cháu ruột chứ không quy định cháu ruột ở hành thừa kế thứ hai

của ông bà. Sở dĩ BLDS năm 1995 quy định như vậy vì cho rằng nếu cha mẹ của cháu

còn sống khi ơng bà chết thì cha mẹ cháu sẽ được hưởng thừa kế. Tuy nhiên,theo

BLDS 1995 thì trên thực tế có trường hợp ơng bà chết nhưng cha mẹ của cháu không

được hưởng thừa kế mặc rù vẫn còn sống( bị truất quyền,khơng có quyền hưởng di

sản), trong trường hợp này cháu ruột của ông bà cũng khơng được hưởng di sản vì

khơng thuộc hàng thừa kế của ông bà. Xuất phát từ lý do này, để đảm bảo quyền lợi

cho những người cháu ruột pháp luật đã quy định cháu ruột là người thuộc hàng thừa

kế thứ hai của ông bà( nội, ngoại) nếu ông và chết.

- Quan hệ thừa kế giữa anh chị ruột với em ruột và ngược lại: Mặc dù pháp luật

khơng quy định cụ thể nhưng có thể hiểu anh chị em ruột là anh chị em ,cùng cha hoặc

cùng mẹ sinh ra nên giữa họ có mối quan hệ thuyết thống. Trong gia đình, nếu khơng

còn bố mẹ thì các anh, chị, em phải u thương chăm sóc ni dưỡng nhau. Trước đây

, theo thông tư 594 và thông tư 81 quy định anh,chị ,em nuôi được thừa kế của nhau,

Nhưng trên thực tế, khái niệm anh chị ,em nuôi chưa bao giờ tồn tại nên pháp luật đã

loại trừ và bãi bỏ quy định này. Do vậy, nếu anh chị ruột chết trước em ruột thì em

ruột được hưởng thừa kế của anh ,chị ruột và ngược lại.

Nhìn chung , những người thuộc hàng thừa kế thứ hai có mối quan hệ khá gần với

người chêt nhưng khơng thể ưu tiên xếp cùng thứ tự ở hàng thứ nhất bởi vì mức độ

gần gũi của họ khơng thể nào bằng hàng thừa kế thứ nhất được. Do vậy, họ ưu tiên

được hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai

Hàng thừa kế thứ ba: điểm c khoản 1 điều 676 BLDS năm 2005 quy định người thừa

kế ở hàng thứ ba bao gồm ;cụ nội ,cụ ngoại của người chết;bác ruột,chú ruột,cậu



13



ruột,cơ ruột, dì ruột của người chết;cháu ruột của người chết mà người chết là bác

ruột,chú ruột ,cậu ruột,cô ruột,chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ

ngoại :

- Quan hệ thừa kế giữa cụ nội với chắt nội, cụ ngoại với chắt ngoại và ngược

lại

Tương tự như qua hệ thừa kế giữa ông ,bà (nội, ngoại) với cháu ruột, cụ nội ngoại sẽ

thuộc hàng thừa kế thứ ba của chắt ruột và ngược lại. Đây là quy định đã được bổ

sung thêm, quy định này thay thế cho sự bất hợp lý về quyền lợi của chắt khi không

thuộc diện thừa kế của cụ nội, ngoại tại điều 679 BLDS năm 1995

- Quan hệ thừa kế giữa bác ruột, chú ruột, cô ruột,cậu ruột với cháu ruột và

ngược lại

Bác ruột , chú ruột ,cô ruột là anh , chị, em (ruột) của bố đẻ của cháu; bác ruột,cậu

ruột, dì ruột và anh,chị , em (ruột) mẹ đẻ của cháu. Bác ruột, chú ruột, cơ ruột, cậu

ruột, dì ruột thuộc hành thừa kế thứ hai của cháu ruột chết và ngược lại.

Trình tự ưu tiên hưởng di sản phải theo quy luật săp xếp thứ tự các hàng. Trước hết,

những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được ưu tiên hàng đầu bởi giữa họ có mối

quan hệ thân thuộc, thiêng liêng và gần gũi nhất. Hàng thừa kế thứ nhất được xác định

trên cả ba mối quan hệ: quan hệ huyêt thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi

dưỡng. Tuy nhiên , những người này sẽ không được hưởng di sản nếu vi phạm Khoản

1 điều 643 BLDS năm 2005 hoặc bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ trối nhận di sản.

Và lúc này ngồi những người trên, khơng còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất thì những

người ở hàng thừa kế thứ hai sẽ ưu tiên hưởng di sản. Hàng thừa kế thứ ba cũng vậy,

sẽ nhận di sản nếu khơng còn ai ở hàng thừa kế thứ hai.Quy định như trên của pháp

luật nhằm giải quyết việc hưởng di sản theo trình tự hàng, mà khơng cơ sự xen kẽ với

bậc như pháp luật thừa kế của một số nước như: Thái Lan, Nhật Bản

Quyền của người thừa kế ở cùng một hàng được bảo đảm trong việc hưởng di sản.

Khơng có người thừa kế ở hàng hai hàng khác nhau cùng được hưởng di sản theo

pháp luật. Chỉ khi nào hàng trước khơng còn ai thừa kế, người ở hàng thừa kế sau

mới được hưởng

3 một số vướng mắc bất cập và phương hướng giải quyết về diện và

hàng thừa kế theo pháp luật



14



3.1 một số vướng mắc và bất cập về diện và hàng thừa kế theo pháp luật hiện

hành

Trong những năm qua, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường các tranh chấp

dân sự ngày càng có chiều hướng gia tăng. Trong số đó, các tranh chấp về thừa kế

chiếm một tỷ lệ đáng kể và chủ yếu xoay quanh việc chia di sản thừa kế.Đây là những

tranh chấp chủ yếu đòi hỏi cơng bằng về quyền lợi nên cần phải xác định một cách

thấu tình đạt lý, vì thế, đòi hỏi các cấp Tòa án có thẩm quyền phải xác định đúng

những người được quyền hưởng thừa kế và theo thứ tự ưu tiên nhất định, tránh trường

hợp nhầm lẫn để đảm bảo quyền lợi của đương sự

Một vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu khi giải quyết tranh chấp thừa kế là việc xác

định diện và hàng thừa kế. Nếu xác định sai về những người thuộc diện thừa kế theo

pháp luật không giải quyết dứt điểm vụ án mà còn dây dưa kéo dài. Ngồi việc xác

định đúng người thừa kế theo pháp luật, Tòa án nhân dân còn phải kết hợp hài hòa

giữa thực tiễn và lý luận để có sựu linh hoạt mềm dẻo nhằm ổn định đời sống, trật tự

xã hội.

Những năm gần đây, hiệu quả xét xử của tòa án nhân dân các cấp ngày càng nâng cao.

Thực tế xét xử của tòa án nhân dân các cấp đã có gắng trong việc nâng cao trình độ,

bám sát các quy định của Bộ Luật Dân sự và các văn bản pháp luật của các nghành có

liên quan để xác định đúng hướng đắn trong việc giải quyết các tranh chấp thừa kế đạt

hiểu quả tốt .Tuy nhiên, còn nhiểu quy định trong Bộ Luật Dân sự chưa phù hợp với

thực tế và chưa rõ ràng khiến các Tồ án gặp nhiều khó khăn khi áp dụng. Đôi khi do

cách hiểu của những người áp dụng các nhau trong cùng một vụ án. Song , với cách

hiểu nào cũng phải dựa trên tinh thần của điều luật và xác định bản chất điều luật quy

định như thế nào để tránh bị sai sót,nhầm lẫn

Ví dụ là:

3.1.1- Trường hợp con dâu , con rể đối với thừa kế di sản của bố mẹ vợ,chồng

Trong pháp luật thừa kế nước ta từ trước đến nay chưa có bao giờ quy định việc con

dâu, con rể được thừa kế di sản của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ. Thế nhưng, trên thực tế

nhiều vụ án lại có nguyên đơn là con dâu, con rể kiện việc chia thừa kế di sản của bố

mẹ chồng, bố mẹ vợ,với lý do người chồng ,người vợ của người đi kiện đã chết nên họ

là người thừa kế đương nhiên của người chồng, người vợ đó. Với cách hiểu như vậy

là không đúng, bởi lẽ,ở đây cần phân biệt tranh chấp thừa kế di sản của người cha mẹ



15



người chồng ,người vợ đã chết đó chứ khơng phải xác định người chồng, người vợ đó

được hưởng thừa kế của vợ hoặc chồng mình đã chết

Do vậy phải hiểu rõ trong trường hợp bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ để lại di sản, nếu

người chồng hoặc người vợ đó chết thì những người con của họ mới được hưởng

quyền thừa kế thế vị của ông bà nội, ông bà ngoại để lại.

Do hiểu khơng đúng,nhiều tòa án khơng đề cập đến người con của người chết hoặc

nếu có đề cập nhưng lại xếp những người con đó vào tư cách là những người có quyền

lợi nghĩa vụ liên quan, trong khi đó lại đưa người còn sống là vợ (hoặc chồng) của

người chết là nguyên đơn kiện chia thừa kế di sản của người bố mẹ đẻ của người chết.

Có tòa án trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án thừa kế đã ghi lời khai của những

người thừa kế, trong đó có sự từ chối hoặc nhường quyền thừa kế của mình cho một

người khác. Lẽ ra phải đưa những người thừa kế đó tham ra tố tụng để tòa án xem xét

chấp nhận hay khơng chấp nhận sự tự nguyện đó. Nhưng khi thấy họ từ chối quyền lợi

thừa kế thì loại bỏ họ ra ngồi vụ án luôn, không xếp họ tham gia tố tụng với tư cách

nào cả. Điều này dẫn đến trường hợp tại tòa án sơ thẩm, những người thừa kế có ý

kiến khước từ thừa kế, nhường kỷ phần cho người khác nhưng sau đó lại đổi ý kiên.

Vì khơng được tham gia tố tụng nên họ cũng không được quyền kháng cáo bản án sơ

thẩm mà khiếu nại Tòa án nhân dân Tối cao

Vì vậy , bài học rút ra từ thực tiễn là tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý đến việc điều tra kỹ

lưỡng để xác định đúng đắn hàng thừa kế ngay từ ban đầu để đưa họ tham gia tố tụng,

cho dù trước khi xem xét các nội dung liên quan đến việc tranh chấp về thừa kế mới

có thể giải quyết vụ án đúng pháp luật

3.1.2 - Vấn đề thừa kế theo pháp luật giữa con riêng và cha mẹ kế.

Giữa con riêng và cha kế,mẹ kế khơng có quan hệ huyết thống nhưng theo quy định

tại điều 38 luật hơn nhân và gia đình ,họ lại có nghĩa vụ chăm sóc,ni dưỡng nhau.

Như vậy, giữa con riêng với cha kế,mẹ kế dù muốn hay không muốn họ phải thể hiện

các nghĩa vụ theo pháp luật. Nếu họ cùng chung sống với nhau thì nghĩa vụ của họ đối

với nhau theo quy định trên cũng chẳng có gi khác so với nghĩa vụ giữa con đẻ với

cha đẻ,mẹ đẻ. Ngược lại nếu họ chung sống với nhau mà khơng thể hiện nghĩa vụ

chăm sóc, ni dưỡng nhau thì họ bị coi là vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng không? Nếu

xác định họ vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng nhau thì quyền thừa kế của một

trong hai người sẽ bị tước bỏ theo quy định của pháp luật,khi một bên chết trước.

Ngược lại, trong trường hợp họ không cùng chung sống với nhau nhưng họ vẫn thể



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 bản chất pháp luật về hang thừa kế theo pháp luật hiện hành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×