Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 bản chất diện và hàng thừa kế theo pháp luật

2 bản chất diện và hàng thừa kế theo pháp luật

Tải bản đầy đủ - 0trang

đến thời điểm mở cửa thừa kế của người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn

nhân hợp pháp

Căn cứ vào quan hệ hôn nhân hợp pháp thừa kế của vợ, chồng trong nhận di sản của

nhau được bảo vệ bằng pháp luật.Quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ hôn nhân

được xác lập thông qua đăng ký kết hôn. Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định

trong luật hơn nhân và gia đình Việt Nam(1959 đến 2000). Tại điều 8 luật Hơn Nhân

và Gia Đình năm 2000 cũng đã giải thích: “Kết hơn là việc nam và nữ xác lập quan hệ

vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hơn”. Để

được đăng ký kết hơn, thì hai bên nam, nữ phải thỏa mãn các điều kiện kết hơn do luật

hơn nhân và gia đình quy định tại các điều 9,10,11 và 14 về độ tuổi kết hôn , ý chí tự

do,tự nguyện trong kết hơn, khơng vi phạm chế độ một vợ một chồng, không vi phạm

các quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời,và không vi phạm các điều cấm khác

của pháp luật như: Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;giữa người đã từng là cha mẹ, cha

nuôi với con nuôi,bố chồng với con dâu,mẹ vợ với con rể,bố dượng với con riêng của

vợ,mẹ kế với con riêng của chồng;giữa những người cùng giới tính. Người mất năng

lực hành vi không được kết hôn

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện

theo nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn( điều 14)

Về vấn đề hôn nhân trái pháp luật là vi phạm một trong các quy định của pháp luật về

hơn nhân và gia đình

Còn đối với vấn đề hôn nhân thực tế ,trước đây(trước năm 2000) do hồn cảnh lich

sử ,kinh tế đất nước thì vấn đề hơn nhân thực tế được tòa thừa nhận cũng coi là hôn

nhân hợp pháp. Như vậy , hôn nhân của vợ chồng là hôn nhân hợp pháp từ thời điểm

kết hơn hoặc hơn nhân thực tế được tòa án thừa nhận, thì vợ và chồng thuộc diện thừa

kế theo pháp luật của nhau và còn là người thừa kế tài sản của nhau không phụ thuộc

vào di chúc

Sau này nhằm giải quyết dứt điểm những quan hệ vợ chồng không tuân thủ những quy

định của luật hôn nhân và gia đình,chính phủ đã bna hành Nghị định số 77/2001/NĐCP ngày 22 tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị định số

35 /2000/QH10 của quốc hội về thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại điều

2 có quy đinh: Quan hệ vợ chồng chưa đăng ký mà được xác lập trước 3-1-1987,thì

việc kết hơn khơng bị hạn chế về thời gian. Nhưng nếu nam, nữ chung sống với nhau

như vợ chồng từ 3-1-1987 đến ngày 1-1-2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy



3



định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau

ngày 1-1-2001 mà họ không đăng ký kết hơn ,thì pháp luật khơng cơng nhận họ là vợ

chồng

Như vậy, pháp luật không thừa nhận hôn nhân thực tế đối với quan hệ nam và nữ trên

thực tế đã chung sống với nhau như vợchồng từ 3-1-1987 đến ngày 1-1-2001 mà có

đủ điều kiện kết hơn theo quy định của luật hơn nhân và gia đình năm 2000, thì phải

đăng ký kết hơn. Pháp luật quy định trong thỏi hạn hai năm từ ngày 1-1-2001 đến

ngày 1-1-2003, mà họ khơng đăng ký kết hơn thì quan hệ của họ không phải là quan

hệ hôn nhân hợp pháp. Vấn đề hơn nhân thực tế khơng những đã có Nghị định số 35 /

2000/QH10 quy định thời hạn giải quyết cho đến ngày 1-1-2003, mà tại khoản 11 luật

hôn nhân và gia đình đã quy định khơng thừa nhận hôn nhân thực tế: “ nam, nữ không

đăn ký kết hơn mà chung sống với nhâu như vợ chồng thì khơng được pháp luật cơng

nhận là vợ chồng”

Như vậy có thể thấy được với quy định tại điều 11 luật hơn nhân và gia đình năm

2000 đã đoạn tuyệt hẳn vơi hôn nhân thực tế.Bởi lẽ , trong sự phát triển của nền kinh

tế thị trường,các mối quan hệ trở nên đa dạng và phức tạp nên quy định về “hơn nhân

thực tế”hồn tồn khơng còn phù hợp với xu thế xã hội hiện đại. Hơn nữa ,chủ trương

của Đảng và Nhà nước là xây dựng Nhà nước ta thành Nhà nước pháp quyền Xã hội

chủ nghĩa thì khơng còn lý do nào để cơng nhận” thói quen” cảu người dân thay cho

quy định của pháp luật.

Do đó những quy định trên là hoàn toàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã

hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai diện thừa kế theo pháp luật dựa trên quan hệ huyết thống

Mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ, con đẻ

Pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam ln bảo vệ lợi ích chính đáng của

những người con xét về quan hệ huyết thống với cha ,mẹ và nghĩa vụ của người làm

cha, làm mẹ của con. Quyền thừa kế theo pháp luật của con khơng phụ thuộc vào hình

thức hơn nhân của cha, mẹ đẻ. (theo tinh thần

điều 4 trong luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 ,khơng phân biệt đối xứ

với trẻ em). Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai hay con gái

con trong giá thú hay ngồi giá thú, có năng lực hành vi dân sự hay khơng có năng lực

hành vi dân sự,theo quy định của pháp luật, họ đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật

của nhau; vì giữa họ với cha, mẹ đẻ có quan hệ huyết thống.Cha đẻ, mẹ đẻ rù là con



4



trong giá thú hay con ngoài giá thú( về hậu quả pháp lý do pháp luật quy định để có cơ

sở xác định con chung của vợ chồng hoặc con của người cha, người mẹ khơng phải là

vợ chồng sình ra đều là những người có quan hệ huyết thống với con) đều có quan hệ

huyết thống, do vậy cha đẻ , mẹ đẻ với các con đẻ thuộc diện thừa kế theo pháp luật

của nhau. Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em cũng quy định “ trẻ em có quyền

được khai sinh và có quốc tịch. Trẻ em chưa xác định được cha, mẹ nếu có u cầu thì

được cơ quan có thẩm quyền giúp đỡ xác định cha,mẹ theo quy định của pháp luật”.

(điều 11 luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004). Luật hôn nhân và gia đình

đã quy định về quyền xin xác nhận con của cha, mẹ là nhằm bảo vệ những quyền dân

sự chính đáng của cơng dân, trong đó có quyền thừa kế tài sản

Trong thực tế việc đương sự xin xác định cha cho con ngoài giá thú là một loại vụ việc

phức tạp,giải quyết các loại khiếu kiện này thường phải dựa vài những căn cứ nhất

định: như chứng cứ về mối quan hệ giữa những người được nghi vấn là cha,mẹ của

đứa trẻ trong mối liên hệ về mặt thời gian khi đứa trẻ thành thai và những người được

nghi vấn là cha,mẹ đứa trẻ trong thời gian đứa trẻ được sinh ra( theo quy đinh của luật

hôn nhân và gia đình nằm 2000)

Việc xác định cha,mẹ,con(xác định quan hệ huyết thống)không những là cơ sở để xác

định quyền và nghĩa vu của cha,mẹ và con đối với nhau trong quan hệ gia đình, mà

còn là cơ sở để xác định diện thừa kế giữa cha,mẹ và các con trong trường hợp chết

Hiện nay, trình độ khoa học và cơng nghệ trên thế giới phát triển mạnh mẽ hơn bao

giờ hết,vấn đề thụ tinh trong ống nghiệm đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới

và ở nước ta cũng đã có nhiều thành cơng trong lĩnh vực này. Vì vậy, việc xác định

cha,mẹ cho con được sinh theo phương pháp khoa học không những là vấn đề nhân

đạo mang tính xã hội,mà còn là một vấn đề pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền

nhân thân và quyền tài sản của cơng dân trong đó có quyền thừa kế tài sản. Việc xác

định cha ,mẹ cho người con được sinh theo phương pháp khoa học, chính là việc xác

định quan hệ huyết thống giữa cha ,mẹ và con, ngoài những ý nghĩa kinh tế ,xã hội

khác, việc làm này còn là cơ sở để xác định diện thừa kế giữa người được sinh ra theo

phương pháp khoa học và cha , mẹ của người đó( hiện nay vấn để này đã được quy

định tạ khoản 2 điều 63 luật hơn nhân và gia đình, và ban hành nghị định số 12 /

2003 /nđ-cp ngày 12/2/2003 về việc sinh con theo phương pháp khoa học)

Mối quan hệ giữa các cụ, ông bà với các cháu,chắt



5



Cũng như cha mẹ, ông bà phải là người thừa kế theo quy định của pháp luật chứ

không thể là người được gọi để thu nhận lại các tài sản của cháu chết mà không có

người nối dõi như ngày xưa. Tuy vậy, ơng bà không thể là người được thừa kế ưu tiên

hay cùng hàng so với cha, mẹ, cháu,chắt được

Theo điều 679 BLDS năm 1995 thì ơng nội, bà nội,ơng ngoại, bà ngoại của người

chết; cụ nội, cụ ngoại của người chết được hưởng thừa kế theo pháp luật của cháu

,chắt, nhưng cháu , chắt không phải là người thừa kế theo pháp luật cảu họ. Quy định

này đi ngược với thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế theo quan hệ huyết thống xi của cháu

chắt bởi quan niệm truyền thống thì “ nước mắt chảy xi’’ . Vì thế,cháu, chắt khơng

được hưởng di sản của ông,bà ,các cụ là điều hợp lý. Chính vì vậy, BLDS năm 2005

đã sửa đổi bổ sung thêm tại điều 676. Ngoài ra , nếu cha mẹ, cháu,chắt chết trước hoặc

cùng thời điểm với ông, bà, các cụ thì cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị tại điều

677 BLDS năm 2005

Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ

Mối quan hệ giữa anh, chị ,em và con ,cháu của anh,chị ,em:

Điều 676 BLDS năm 2005 quy định anh,chị, em ruột là những người thuộc hàng thừa

kế thứ hai của nhau cùng với ông nội, và nội ,ông ngoại ,bà ngoại của người chết.

Con của anh,chị ,em được xếp vào hàng thứ ba bên cạnh cụ nội, cụ ngoại. Ngoài ra,

việc pháp luật quy định cho con của anh,chị ,em ruột của người chết gọi người chết là

bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cii ruột ,dì ruột là hợp với đạo lý. Và vị trí của họ khơng

thể lấn lướt cha, mẹ mình trong việc nhận di sản nên được xếp thứ tự sau cùng là hàng

thứ ba

Nhìn chung, luật hiện hành đã xây dựng một giải pháp có mức độ hợp lý cao, có sự

dung hòa giữa quan niệm kinh tế và đạo đức củ quyền thừa kế,

Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ khác

Ngoài anh,chị,em ruột và con của anh,chị,em ruột pháp luật hiện hành chỉ thừa nhận

những người nào mà người chết gọi cô ruột, bác ruột, chú ruột,cậu ruột hoặc dì ruột là

người thừa bàng hệ và được xếp vào hàng thứ ba( điểm c khoản 1 điều 676 BLDS

năm 2005) . Như vậy ,họ hưởng di sản cùng với cụ nội,cụ ngoại của người chết cũng

như với con cảu anh chị em của người chết

Nhìn chung lại ta thấy, diện thừa kế theo quan hệ huyết thống quy định tại BLDS năm

2005 đã được mở rộng đến ông bà nội, ngoại; anh chị em ruột, cháu ruột của người

chết mà người chết là ông bà nội ngoại của người chết; bác ruột,chú ruột,cậu ruột, dì



6



ruột của người chết; cháu ruột của người chết là bác ruột,chú ruột,dì ruột, cô ruột,cậu

ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội , cụ ngoại.

Tuy nhiên , pháp luật cũng loại trừ quyền thừa kế của những người trong diện thừa kế

nếu có hành vi trái pháp luật được quy đinh tại điều 643 BLDS năm 2005

Thứ ba, diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo quan hệ nuôi dưỡng

Quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc nhau ni dưỡng nhau giữa

những người thân thuộc theo quy định của pháp luật.Trong luật hôn nhân và gia đình

nghĩa vụ của những người có quan hệ huyết thống trong việc chăm sóc, ni dưỡng và

giáo dục các con chưa thành niên theo những nguyên tắc pháp luật: Cha mẹ có nghĩa

vụ ni dưỡng con đã thành niên mà khơng có khả năng lao động để tự ni mình;

con có nghĩa vụ kính trọng, ni dưỡng cha mẹ. Nếu những người trong quan hệ

huyết thống mà vi phạm nghĩa vụ ni dưỡng,chăm sóc, giáo dục nhau giữa những

người có quan hệ huyết thống là căn cứ vào điều kiện có thể ni dưỡng nhưng đã vi

phạm. Người vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người đẻ lại di sản đã bị Tòa án kết án

bằng một bản án có giá trị pháp lý người đó bị tước quyền thừa kế theo pháp

luật( điểm b khoản 1 điều 643 BLDS “Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi

dưỡng người để lại di sản”)

Quan hệ ni dưỡng còn được thể hiện giữa anh, chị ,em ruột đối với

nhau trong hồn cảnh mồ cơi cha,mẹ hoặc cha,mẹ còn nhưng khơng có khả năng lao

động hoặc đều khơng có năng lực hành vi dân sự

Quan hệ nuôi dưỡng giữa ông,bà nội,ngoại và các cháu nội ngoại:

Về phía ơng ,bà nội,ngoại ngồi nghĩa vụ ni dưỡng cháu,ơng bà còn là những

người giám hộ đương nhiên của nhau và là đại diện theo pháp luật cho nhau.Điều 17

luật hơn nhân và gia đình có ghi nhận :

“ Điều 47. Nghĩa vụ và quyền của ơng bà nội, ơng bà ngoại và cháu

1. Ơng bà nội, ơng bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trơng nom, chăm sóc, giáo dục

cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu chưa

thành niên hoặc cháu đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, khơng có

khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình mà khơng có người ni

dưỡng theo quy định tại Điều 48 của Luật này thì ơng bà nội, ơng bà ngoại có nghĩa

vụ ni dưỡng cháu.



7



2. Cháu có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ơng bà nội, ông bà ngoại.

Ngoài nghĩa vụ nuôi dưỡng, cháu và ông bà còn là người giám hộ đương nhiên của

nhau và đồng thời cũng có nghĩa vị đại diện theo pháp luật cho nhau.”

Như vậy, nếu cháu chưa thành niên hoặc khơng có khả năng lao động hoặc khơng có

năng lực hành vi dân sự hoặc khơng có tài sản để tự ni mình thì ơng,bà nội,ngoại

phải có nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng cháu theo pháp luật. Ngược lại cháu cũng có

bổn phận kính trọng,chăm sóc phụng dưỡng ơng bà. Với lý do như trên, ngoài mối

quan hệ huyết thống, dựa trên quan hệ ni dưỡng thì ơng bà và các cháu thuộc diện

thừa kế của nhau

Quan hệ giữa cha kế,mẹ kế với con riêng của vợ ,của chồng:

Theo quy định của pháp luật thì giữa những người con riêng với cha kế, mẹ kế đã thể

hiện được nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng nhau. Điều 38 Luật hơn nhân và gia đình

quy định bố dượng ,mẹ kế có nghĩa vụ và quyền trong mon, ni dưỡng, chăm sóc,

giáo dục con riêng cùng chung sống với mình và đã thể hiện được nghĩa vụ của người

cha, người mẹ đối với con thì theo quy định của pháp luật họ thuộc diện thừa kế của

nhau

Nếu con riêng của vợ,của chồng mà chết trước cha kế, mẹ kế, con của họ được thừa

kế thế vị nhận di sản của ông bà kế khi qua đời

Như vậy theo điều 679 con riêng và bố dượng ,mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, ni

dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và được thừa kế di

sản theo quy định tại điều 676 và điều 677 của BLDS này

Nhưng quy định này rất chung chung, không rõ ràng như thế nào mới là được xem là

chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha con,mẹ con. Vì vậy khi xẩy ra tranh chấp trên

thực tế ,việc áp dụng rất khác nhau.Lúc đó quyền lợi giữa con riêng với cha kế,mẹ kế

khó có cơ sở pháp lý để đảm bảo quyền lợi giữa khi xung quanh họ còn có nhiều

người có quan hệ thân thuộc, gần gũi trong diện thừa kế. Thử hỏi ,khi có tranh chấp

xẩy ra ,người con riêng đó có đủ chứng cứ để chứng minh hay không? Tương tự như

vậy, con riêng không thuộc diện thừa kế của những người khác trong họ hàng, thân

thuộc của cha kế ,mẹ kế.

Quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi :

Nuôi con nuôi là vấn đề đã được pháp luật điều chỉnh từ lâu. Mục đích ni con

ni đã được Luật hơn nhân và gia đình qua các thời kỳ quy định rất cụ thể:



8



Điều 34 Luật hôn nhân và gi đình năm 1986: “việc ni con ni nhằm gắn bó

tình cảm giữa người ni và con ni trong hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người

nuôi chưa thành niên được ni dưỡng, chăm sóc giáo dục tốt nhất”

Điều 67 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000: “ Nuôi con nuôi là việc xác lập

quan hệ cha mẹ và con giữa những người nhận nuôi con nuôi với người được nuôi,

bảo đảm cho người con được nhận làm con nuôi được trông nom và nuôi dưỡng,

chăm sóc giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội…”

Giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con ni, có quyền và nghĩa

vụ của cha mẹ và con theo Luật này…”

Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời là hành lang pháp lý bảo vệ quyền và nghĩa

vụ của con nuôi và những người liên quan. Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010 quy

định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con ni có đầy đủ các

quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia

đình cha mẹ ni cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp

luật về hơn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có

liên quan”

Ni con nuôi là việc làm nhân đạo, tạo môi trường sống tốt nhất cho người được

nhận làm con nuôi đặc biệt là những trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi. Khi quan hệ ni con

ni được xác lập, con ni có nghĩa vụ trách nhiệm với gia đình cha mẹ ni như là

con đẻ: u thương,kính trọng ơng bà cha mẹ, đoàn kết giúp đỡ anh chị em…cùng

sống trong một mái nhà, có nghĩa vụ trách, nhiệm với các thành viên trong gia đình

như con đẻ, nên việc pháp luật quy định con ni và các thành viên trong gia đình cha

mẹ nuôi nằm trong diện thừa kế của nhau là hồn tồn hợp lý. (Theo quan điểm của

Luật ni con nuôi năm 2010)

Theo khoản 1 điều 74 của luật hôn nhân và gia đình “. Quyền và nghĩa vụ giữa cha

mẹ nuôi và con nuôi”:

“Giữa cha mẹ nuôi và con ni có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy

định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.”

Một khi nhận nuôi một người làm con ni thì người con ni đó đương nhiên trở

thành một thành viên trong gia đình cha, mẹ nuôi. Khi mối quan hệ nuôi dưỡng giữa

cha mẹ ni với con ni được thiết lập thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ chăm sóc,

ni dưỡng con ni, ngược lại người con ni phải biết u thương kính trọng,chăm

sóc,phụng dưỡng cha,mẹ ni.



9



Theo khoản 1 điều 74 của luật hơn nhân và gia đình “. Quyền và nghĩa vụ giữa cha

mẹ nuôi và con nuôi”:

“Giữa cha mẹ nuôi và con ni có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy

định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi.”

Một khi nhận ni một người làm con ni thì người con ni đó đương nhiên trở

thành một thành viên trong gia đình cha, mẹ nuôi. Khi mối quan hệ nuôi dưỡng giữa

cha mẹ ni với con ni được thiết lập thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ chăm sóc,

ni dưỡng con nuôi, ngược lại người con nuôi phải biết yêu thương kính trọng,chăm

sóc,phụng dưỡng cha,mẹ ni.

Như vậy ta có thể thấy , mối quan hệ của họ không phải là quan hệ huyết thống, quan

hệ thừa kế của họ chỉ được xác định trên cơ sở nuôi dưỡng.

2.2 bản chất pháp luật về hang thừa kế theo pháp luật hiện hành

Hàng thừa kế theo pháp luât: được quy định cụ thể tại điều 676 BLDS

Như chúng ta đã biết, di sản của người chết phải được dịch chuyển cho những người

thân thích của ngưởi đó.Tuy nhiên, trong số những người thân thích đó có mức độ gần

gũi, thân thích của mỗi người đối với người chết là khác nhau. Theo trình tự hưởng di

sản thừa kế thì người nào có mức độ gần gũi nhất với người chêt sẽ di sản mà người

đó để lại, nhiều người có cùng một mức độ gần gũi với người chết sẽ cùng được

hưởng phần di sản của người đó. Khi khơng có người gần gũi nhất thì những người

có mức độ gần gũi tiếp theo sẽ được hưởng di sản của người chết để lại.Như vậy, khồn

phải tất cả những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật hưởng di sản theo trình tự

trước, sau căn cứ vào mức độ gần gũi giữa họ với người chết,pháp luật về thừa kế đã

xếp những người đó theo nhóm khác nhau. Mỗi nhóm đó được gọi là hàng thừa kế

theo pháp luật

Như vậy hàng thừa kế theo pháp luật là nhóm những người có cùng mức độ gần gũi

với người chết và theo đó hị cùng được hưởng ngang nhau đối với di sản thừa kế mà

người chết để lại

Hàng thừa kế thứ nhất: quy định tại điểm a , khoản 1 điều 676 BLDS năm 2005 quy

định về hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng,cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi , mẹ

nuôi ,con đẻ, con nuôi của người chết:

Cơ sở xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất dựa trên cả ba mối quan hệ:

huyết thống, quan hệ hôn nhân , quan hệ nuôi dưỡng



10



- Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại

Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thứ nhất của vợ chồng và ngược lại. Tuy nhiên, chỉ coi là

vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp (quan hệ hôn nhân)

Khác với pháp luật thực định,pháp luật thời phong kiến quy định hàng thừa kế thứ

nhất chỉ có con cái .Vợ hoặc chồng không được quy định trong một hàng thừa kế cố

định nào và vị trí của người vợ bao giờ cũng bị xem nhẹ. Bởi theo truyền thống của

người Việt Nam lúc bấy giờ “ nhập gia tùy tục, xuất giá tồng phu, phu tử tòng tử” nên

quyền lực gia đình tập trung vào người chồng. Khi một người phụ nữ kết hơn thì

người chồng đương nhiên trở thành chủ sở hữu của tất cả tài sản trong gia đình , thậm

chí là chủ sở hữu ln cả tài sản của người vợ đem về nhà chồng khi hết hôn .Nếu là

vợ chồng thì kể cả trong các trường hợp đặc biệt sau cũng được thừa kế của nhau :

+ Trong trường hợp vợ,chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà

sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản

+ Trong trường hợp vợ ,chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án

cho ly hơn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người

chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

+ Người đang là vợ hoặc là chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì

dù sau đó đã kết hơn với người khác vẫn được thừa kế di sản

(*) Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng được pháp luật

thừa nhận : Đó là các trường hợp có nhiều vợ nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở

miền Bắc, trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc( trong

khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và cuộc hơn

nhân sau khơng bị tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật . Trong

trường hợp này, người chồng(vợ) được hưởng thừa kế thứ nhất của tất cả những người

vợ( chồng) và ngược lại

- Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại: được hưởng thừa kế của

nhau dựa trên quan hệ huyết thống.Cha mẹ sinh các con và có nghĩa vụ ni dưỡng

các con trưởng thành.Ngược lại, các con phải kính trọng,u thương, chăm sóc và

phụng dưỡng cha mẹ. Do vậy họ phải thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.

Cha đẻ, mẹ đẻ,con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau không chỉ là quy định của

pháp luật thừa kế Việt Nam mà là của hầu hết các nước trên thế giới. Con đẻ được

hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và

ngược lại .



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 bản chất diện và hàng thừa kế theo pháp luật

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×