Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Phân tích, giải quyết vụ việc :

2 Phân tích, giải quyết vụ việc :

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhân thân “quyền được khai sinh” quy định tại Điều 29 BLDS năm 2005 là cá

nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.

Thứ nhất việc từ chối khai sinh do khơng có giấy chứng sinh là khơng

đúng vì theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và

quản lý hộ tịch thì “…nếu trẻ em sinh ra ngồi cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh

được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp

khơng có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về

việc sinh là có thực…”.

Trong trường hợp này chị Như sinh đứa trẻ ngoài cơ sở y tế nhưng dưới

sự làm chứng của người bạn vì thế chị Như thay vì phải xuất trình giấy chứng

sinh của cơ sở y tế thì sẽ xuất trình văn bản xác nhận của chị Yến My là người

làm chứng thì cán bộ Tư pháp – Hộ tịch phải chấp nhận và đăng ký khai sinh

cho đứa trẻ.

Thứ hai là vấn đề anh Tiến nhận con và không được chị Như đồng ý và

chị Như không cho anh được ghi tên vào sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh

của đứa trẻ.

Theo quy định tại Điều 64 Luật HN&GĐ quy định về xác định con như

sau “người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể u cầu Tồ án

xác định người đó là con mình”. Nhưng theo quy định tại Điều 65 thì chỉ quy

định cho một trường hợp là con đã thành niên nhận cha hoặc mẹ thì khơng nhất

thiết phải có sự đồng ý của mẹ hoặc cha. Như vậy, mặc ta hiểu rằng con chưa

thành niên mà nhận cha hoặc mẹ thì phải có sự đồng ý của mẹ hoặc cha (hoặc là

người đại diện theo pháp luật nếu khơng có cha mẹ). Điều này cũng đã được

quy định tại khoản 1 Điều 34 của Nghị định 158 “1. Người nhận cha, mẹ, con

phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận

con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc



4



cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế

năng lực hành vi dân sự.”

Mặt khác tại mục 6 chương II Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và quản

lý hộ tịch thì việc nhận cha mẹ con phải đáp ứng điều kiện “1. Việc nhận cha,

mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được

nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc

nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và khơng có tranh chấp. 2. Người con đã thành

niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên

nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ theo

quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ

là tự nguyện và khơng có tranh chấp.”

Trong quy định trên có nhắc đến khái niệm “tranh chấp”. Vậy “tranh

chấp” ở đây ta nên hiểu như thế nào, tranh chấp là giữa những người cùng

muốn nhận là cha đứa bé hay tranh chấp giữa cha và mẹ đứa bé. Vẫn chưa có

văn bản pháp luật nào hướng dẫn cho điều này chính vì thế khi đi vào áp dụng

và thực thi pháp luật đã gặp những khó khăn mà khơng giải quyết được

Nếu vậy, trong trường hợp trên anh Tiến muốn nhận đứa bé để làm khai

sinh cho con mình và được ghi tên mình vào phần người cha trong giấy khai

sinh thì phải có sự đồng ý của người mẹ là chị Như chăng. Nếu giải quyết theo

chiều hướng đó thì có hợp lý khơng khi đó chỉ là đứa trẻ mới sinh ra. Về vấn đề

cha, mẹ nhận con chưa thành niên thì pháp luật lại chưa có một quy định hướng

dẫn cụ thể nào. Hơn nữa đây lại là một trường hợp mà đứa trẻ là con ngồi giá

thú thì việc ghi tên người cha vào giấy khai sinh là hồn tồn được chấp nhận vì

nó ảnh hưởng rất lớn và sẽ theo suốt cả cuộc đời đứa trẻ, thế nhưng bây giờ mẹ

đứa trẻ không đồng ý thì sao.

Theo ý kiến đóng góp để hồn thiện của nhóm thì: sẽ giải quyết theo

chiều hướng nên quy định cho người cha có quyền nhận con khi con chưa thành



5



niên mà khơng cần có sự đồng ý của người mẹ nếu người cha chứng minh được

mình là cha ruột của đứa trẻ. Bởi lý do: họ là cha con, họ có tình máu mủ,

khơng có điều gì khiến họ khơng được nhận nhau, nhận sự u thương chăm

sóc của nhau, hơn nữa trong tình huống này còn liên quan đến vấn đề khai sinh

cho đứa trẻ thì điều đó có ảnh hưởng vơ cùng lớn và theo suốt cuộc đời đứa trẻ,

nó sẽ là đứa trẻ có cha, có mẹ khi cha mẹ nhận nó mà người còn lại khơng có

quyền khơng đồng ý điều đó. Ví dụ trong trường hợp người cha mẹ nhận con

với mục đích bất chính thì người đang mẹ hoặc cha có thể kiện với lý do là xâm

hại quyền của đứa trẻ chứ khơng thể có một lý do hớp lý nào khi lại có sự

khơng đồng ý cho việc nhận cha mẹ con.

2.1 Vụ việc thứ 2 :

Năm 2005, anh A và Chị B học cùng 1 trường đại học ở Hà Nội . 2 người

yêu nhau và quyết định sống với nhau như vợ chồng. Đến tháng 1/2009, khi sắp

ra trường biết tin chị B có thai, trong thời gian này, anh A đang có tình cảm 1

người con gái khác và dọn ra ở riêng không sống chung với chị B. Thai của chị

B to dần, chị đến tìm anh A nhưng anh A dù biết đó là con mình nhưng cố tình

trốn tránh trách nhiệm và nói đứa con đó khơng phải của anh. Do xấu hổ chị B

đã 1 mình bỏ đi đến xã Y, huyện Z, tỉnh Bắc Giang để sinh con một mình. Đến

tháng 10/2009 chị sinh 1 bé trai. Khi Chị B ra UBND xã làm khai sinh cho con,

xã yêu cầu chị xuất trình giấy đăng kí kết hơn, chị B khơng có nên chị yêu cầu

xã Y đăng kí khai sinh cho con ngoài giá thú, con mang họ của mẹ và khơng có

tên người cha trong giấy khai sinh và đã được cán bộ xã chấp nhận

Đến năm 2012, khi cháu bé đã lớn, chị quyết định quay về thăm gia đình.

Lúc này, chị gặp lại anh A, và biết anh đã lấy vợ. Tuy nhiên do hai người kết

hôn mà khơng thể có con, mâu th̃n nảy sinh nên đã ly hôn. Nay anh A đã ân

hận, biết chị B dẫn con về nên đã đến để xin lỗi chị B đồng thời xin nhận lại

con mình và đã được chị B đồng ý. Nay hai anh chị muốn nộp đơn ra UBND xã

để xin nhận con.



6



2.2 Phân tích, giải quyết vụ việc :

Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định, trẻ

em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Để đảm bảo quyền đăng ký khai

sinh cho trẻ khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm

2004 quy định, UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện việc đăng

ký khai sinh cho trẻ em.

Nhằm thực hiện nguyên tắc “mọi trẻ em sinh ra đều phải được đăng ký khai

sinh đúng hạn”, đồng thời, xuất phát từ quan điểm đối xử bình đẳng về quyền

đăng ký khai sinh không kể con sinh ra trong giá thú hay ngồi giá thú, thì theo

khoản 1 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung một

số điều theo nghị định 06/2012/NĐ-CP quy định, người đi đăng ký khai sinh

cho trẻ chỉ phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hơn của cha mẹ trẻ khi cha mẹ

trẻ có đăng ký kết hơn. Theo khoản 3 của Điều 15 nghị định này thì trong

trường hợp trẻ là con sinh ngồi giá thú thì khơng bắt buộc phải xuất trình Giấy

chứng nhận kết hơn của cha mẹ, chỉ cần có Giấy chứng sinh là có thể khai sinh

cho trẻ theo diện con ngoài giá thú. Mặt khác, khi đăng ký khai sinh cho con

ngoài giá thú, pháp luật không cho phép cán bộ tư pháp - hộ tịch được gặng hỏi,

tìm hiểu về quan hệ hơn nhân của người mẹ. Đây là vấn đề thuộc về bí mật đời

tư của cá nhân. Do đó, khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được

sửa đổi bổ sung một số điều theo nghị định 06/2012/NĐ-CP quy định, trong

trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu khơng xác định được người

cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để

trống. Khi con sinh ra, việc xác định họ cho con có thể xác định theo họ của

người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc thoả thuận. Tuy nhiên, đối

với trẻ là con ngoài giá thú, không xác định được người cha nên họ của trẻ

đương nhiên sẽ được xác định theo họ của người mẹ.

Về việc anh A muốn nhận lại con là hoàn toàn hợp lý, điều này giúp đứa trẻ

có thể phát triển một cách toàn diện. Căn cứ theo Điều 34 Nghị Định

158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo nghị định

06/2012/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì thủ tục đăng ký việc nhận

cha, mẹ, con được quy định như sau:

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Phân tích, giải quyết vụ việc :

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×