Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bình đẳng giới trong khi tham gia vào thị trường lao động.

Bình đẳng giới trong khi tham gia vào thị trường lao động.

Tải bản đầy đủ - 0trang

thường chiếm tỷ lệ cao ở một số nhóm nghề khác như nơng nghiệp, bn bán nhỏ,

nhân viên văn phòng.

Vị thế việc làm của lao động nữ cũng co sự thay đổi tích cực. Trong 10 năm

từ năm 1997 đến năm 2007, nhóm lao động làm cơng ăn lương tăng rất mạnh trong

cơ cấu phân bố lao động, từ 18,6% (1997) lên tới 30% (2007) trong đó lao động

nam chiếm 59,8% và lao động nữ hiếm 40,2% (2007). Nếu so sánh với năm 2005

thì có sự thay đổi rõ rệt. Năm 2005, tỷ trọng lao động làm công ăn lương chiếm

25,6%, trong đó lao động nam chiếm 78,7% và lao động nữ chiếm 21,3%. Tỷ trọng

lao động nữ trong số người làm công ăn lương tăng mạnh (19%), thể hiện sự thay

đổi theo hướng giảm sự bất bình đẳng giới về việc làm có thu nhập ổn định giữa

nam và nữ. Đây là một chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình bình đẳng giới của

Việt Nam có nhiều tiến bộ.

Theo đánh giá của Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động khu vực

thành thị cũng có xu hướng giảm nhẹ, từ 4,82% năm 2006, xuống cong 4,64% năm

2007, ước tính năm 2008 là 4,65%, tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ

ở khu vực thành thị là 5,25%; 5,10% và 5,10%. Nhìn chung, kết quả này đều thực

hiện đạt chỉ tiêu phấn đấu đề ra trong Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ

Việt Nam.

Theo “Báo cáo phát triển con người, 2011” của UNDP, trình độ học vấn của

phụ nữ Việt Nam (từ 25 tuổi trở lên) đã hoàn thành chương trình giáo dục cấp 2 trở

lên là 24,7% so với 28% là của nam giới. Như vậy, mức độ chênh lệch giữa nam và

nữ về giáo dục ở nước ta không nhiều. Theo kết quả chủ yếu của Điều tra Dân số

-KHHGĐ 1/4/2011 của Tổng cục Thống kê (TCTK) thì tỷ lệ biết chữ của nam giới

là 96,2% và của nữ giới là 92,2% (từ 15 tuổi trở lên). Trang Wikipedia dẫn nguồn

tử website Quốc hội thì tại Việt Nam, cứ 100 cử nhân có 36 nữ, 100 thạc sĩ có 34

nữ, 100 tiến sĩ có 24 nữ. Để tôn vinh các nhà khoa học nữ, 25 năm qua, giải thưởng

Kovalevskaia đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa học Việt Nam được

trao cho hàng chục cá nhân, tập thể. Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã quyết

9



dịnh thành lập quỹ “Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam” nhằm khuyến khích và tơn vinh

phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực.

Khi phụ nữ có học vấn, học vấn cao sẽ mở ra các cơ hội cho họ về việc làm,

thu nhập, cơ hội tiếp cận về y tế, kế hoạch hóa gia đình hay tham gia lĩnh vực chính

trị. Chính vì thế, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lại. Mở cánh cửa giáo dục

là mở ra các cơ hội mới.

Theo UNDP, tỷ lệ nữ tham gia lao động của Việt Nam là 68% và nam giới là

76%. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 của TCTK thì tỷ lệ nữ tham

gia lao động là 46,6% trong tổng số lao động. Như vậy, tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia

lao động gần bằng nam giới. Đáng chú ý là báo cáo “Bình đẳng giới và Phát triển”

(Gender equality and Development) của World bank được công bố mới đây thì tỷ lệ

phụ nữ (30%) tham gia lao động trong lĩnh vực dịch vụ lại cao hoen nam giới

(26%). Có trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ, chủ yếu

thuộc về khu thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản. Nhiều tấm

gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những chỉ làm giàu cho bản than mà còn

đóng góp được nhiều cho xã hội. Theo UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm

được 1$ thì nữ giới sẽ kiếm được 0,69$ (số liệu năm 2007). Điều này khác xa so

với nhiều nước trên thế giới. Khi phụ nữ có việc làm, họ sẽ có thu nhập và mang

đến sự tự chủ về kinh tế, sự chia sẻ.

Đến nay tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động mới được giải quyết việc

làm đã tăng lên và có khả năng vượt chỉ tiêu kế hoạch. Theo Điều tra lao động –

việc làm ngày 1/8/2007 của Tổng cục Thống kê năm 2005, lao động nữ chiếm

khoảng 21,14 triệu người trong tổng số lao động của nền kinh tế quốc dân (48,6%

so với 43,45 triệu lao động), đến 8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu người

(49,4% so với tổng số trên 46,11 triệu lao động).

Chênh lệch lao động sau 2 năm 2006 – 2007 tương ứng với số lao động được

giải quyết việc làm mới là 2,76 triệu người (trong đó, lao động nam là 1,08 triệu



10



người và lao động nữ là trên 1,67 triệu người), bình quân mỗi năm giải quyết việc

làm cho trên 1,33 triệu người, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn người.

Tuy vậy nhưng vẫn có những hạn chế sau:

Thứ nhất, mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức, phụ nữ cũng tham gia

rất nhiều vào lực lượng lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, ước tính

khoảng 70% đến 80%. Tuy nhiên, điều kiện lao động, thu nhập và an sinh xã hội

(bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế) đối với lao động nữ làm việc trong khu vực này

còn rất nhiều hạn chế.

Thứ hai, nhiều quy định của pháp luật lao động chưa đượ các doanh nghiệp

nghiêm túc thực hiện, thậm chí một số doanh nghiệp còn trốn tránh thực hiện bởi

họ nhìn nhận những quy định ưu tiên, ưu đãi đối với lao dộng nữ là những gánh

nặng tài chính hoặc đem lại rủi roc ho họ vì vậy những quy định ưu tiên đối với lao

động nữ có thể trở thành bất cập.

Thứ ba, còn khoảng cách giữa quy định của chính sách pháp luật và thực tiễn

thực hiện nên lao động nữ không thực sự thụ hưởng, cụ thể theo các quy định về

giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì các khoản chi cho

lao động nữ được coi là các khoản chi hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thế

theo quy ddnhj của pháp luật không mang tính bắt buộc. Vì vậy, nếu doanh nghiệp

chi thêm cho lao động nữ thì doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục phức tạp để

đề nghị được xét giảm thuế. Do vậy, các doanh nghiệp thường chọn cách không chi

thêm cho lao động nữ. Mặt khác, các khoản chi phí thực hiện chính sách ưu đãi

phải hạch tốn vào giá thành sản phẩm dẫn đến hiểu quả sản xuất kinh doanh thấp

khiến doanh nghiệp né tránh thực hiện các quy định ưu đãi đối với lao động nữ.

Trong khu vực nông thôn, lao động nữ chưa được điều chỉnh bởi hệ thống chính

sách pháp luật này, mặc dù họ chiếm đa số lực lượng lao động ở đây. Một sự bất

bình đẳng mới phát sinh ngay giữa các nhóm lao động nữ trong lực lượng lao động.

III.



Một số nguyên nhân



11



Hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước còn có nhiều khó khăn đã hạn chế

các điều kiện đầu tư cho cơng tác bình đẳng giới, các chính sách thúc đấy bình

đẳng giới.

Tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận

nhân dân, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi; mặt khác nhận thức về vấn đề

bình đẳng giới tuy đã có chuyển biến nhưng chưa cao, do vậy, việc thực hiện bình

đẳng giới trong gia đình và ngồi xã hội còn có những hạn chế. Nhận thức của các

cấp, các ngành còn nhiều bất cập; chưa tích cực, chủ động triển khai thực hiện Luật

Bình đẳng giới và còn có tư tưởng coi cơng tác bình đẳng giới là của phụ nữ và cho

phụ nữ nên nhiều hoạt động thực hiện còn mang tính hình thức.

Một số quy định trong các lĩnh vực có liên quan đến bình đẳng giới còn chưa

phù hợp đã dẫn tới những hạn chế điều kiện và cơ hội tham gia bình đẳng của phụ

nữ như vấn đề tuổi nghỉ hưu; tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm… của cán

bộ, công chức nữ. Thiếu chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới; một

số chính sách khuyến khích sử dụng lao động nữ khơng được thi hành như chính

sách khuyến khích đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ban hành

đã lâu nhưng chậm và khó thực hiện, do vậy không tạo động lực cho các doanh

nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ và nâng cao các điều kiện bảo hộ lao động, chế

độ đãi ngộ đối với lao động nữ.

Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm

pháp luật, cũng như các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội chưa được

quan tâm đúng mức nên việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật đảm bảo

lồng ghép bình đẳng giới cũng còn lúng túng và có hạn chế nhất định.

IV. Một số kiến nghị và giải pháp cải thiện bình đẳng giới giữa các thành

viên trong gia đình trong lao động và tham gia vào thị trường lao động.

Cần có tổng kết, đánh giá việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ các văn

bản quy phạm pháp luật trên các lĩnh vực không phù hợp với các nguyên tắc bình

đẳng giới theo quy định tại Điều 6 của Luật Bình đẳng giới.

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bình đẳng giới trong khi tham gia vào thị trường lao động.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×