Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ý nghĩa pháp lí: Chế độ chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật đảm bảo được quyền được chăm sóc sức khoẻ của người khuyết tật . Quyền của người khuyết tật đã được đề cập trong tuyên ngôn chung về con người của Liên hợp quốc “ mỗi người đều có quyền… hưởng mức

Ý nghĩa pháp lí: Chế độ chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật đảm bảo được quyền được chăm sóc sức khoẻ của người khuyết tật . Quyền của người khuyết tật đã được đề cập trong tuyên ngôn chung về con người của Liên hợp quốc “ mỗi người đều có quyền… hưởng mức

Tải bản đầy đủ - 0trang

các hoạt động khác, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của công dân, có nhiều

đóng góp cho cơng c̣c xây dựng và phát triển đất nước.



II.



TÌNH H́NG THỰC TIỄN.

1. Tình huống.

Câu chuyện về chàng trai 22 tuổi, Nguyễn Thái Thành, chàng trai khiếm thính



quê Bắc Giang có cửa hàng riêng tại thủ đô. Để có thành công này, Thành từng lê la

khắp cửa hàng cắt tóc xin học rồi đạp xe quanh làng mời mọi người ra cắt miễn phí.

Sinh năm 1991 trong gia đình có ba anh, chị em, Thành bị câm điếc bẩm sinh

do khi mang thai, mẹ em bị ốm. Mãi tới năm Thành gần 3 tuổi, gia đình mới phát

hiện cậu không có khả năng nghe nói như đứa trẻ bình thường. Trong trí nhớ của

Thành, ngày đó bớ mẹ "tha" cậu đi khắp nơi để châm cứu với hy vọng sẽ chữa khỏi.

Ở Bắc Giang chưa có trường dành cho trẻ khiếm thính nhưng ḿn con được hòa

nhập, gia đình xin cho Thành vào học cùng với học sinh bình thường.

Những ngày đầu làm quen với mặt chữ và ghép vần, cậu chật vật hình dung

ngữ nghĩa qua hình vẽ trong sách. Không nghe được cô giáo nói gì, cậu thấy lạc lõng

giữa bạn bè. Năm 14 tuổi, Thành được đưa xuống Hà Nợi học ở trường Nhân Chính.

Lứa tuổi này được xem là khá ṃn với trẻ khiếm thính để bắt đầu học ngôn ngữ ký

hiệu. Thành lại bắt đầu làm quen với những người nói thứ ngôn ngữ khác mình. Lạ

lẫm và học chậm hơn các bạn, cậu phải tự lần mò rồi buổi tới đi học thêm. Sau hai

năm học tại đây, Thành được gia đình định hướng học nghề nấu ăn, may thêu. Cảm

thấy không hợp, cậu bỏ dở và nhất quyết xin đi học cắt tóc vì mê mẩn một người thợ

xoay kéo chuyên nghiệp.

Hiện tại, Thành sống cùng vợ chồng chị gái ở tại cửa hàng. Vừa đi làm về chưa

kịp nghỉ ngơi, chị gái lại ngồi làm phiên dịch cho Thành với khách. Trong gia đình,

không ai học ngôn ngữ ký hiệu nhưng đều có thể giao tiếp và hiểu em nói gì.

Nhắc đến hành trình xin học cho em trai, chị Loan, chị gái Thành, không hiểu

sao thời điểm đó lại đủ kiên nhẫn và sức lực để đưa em đi khắp cửa hàng ở Hà Nội

xin học. Những lúc được nghỉ làm hay buổi tối, chị em Thành đi từng cửa hàng xin

học. Nếu chị bận, Thành ở nhà tìm trong mục rao vặt trên báo. Cậu tự đạp xe đi tìm



8|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u y ê t T ât V i êt Na m .



trước địa chỉ, đứng ngắm cửa hàng từ xa rồi tối dẫn chị đến. Không biết đường,

Thành mua bản đồ, khoanh vùng để không bỏ sót cửa hàng nào.

"Từ salon tóc lớn đến những quán vỉa hè đều lắc đầu nhận cậu vào học, thậm

chí, họ nói thẳng là khơng nhận người khiếm thính. Hai chị em đi nhiều đến nỗi, bản

thân tơi còn cảm thấy mệt mỏi vì bị từ chối nhưng Thành vẫn muốn đi và không tỏ vẻ

chán nản", chị Loan chia sẻ.

Không nơi nào nhận, Thành về Bắc Giang và may mắn xin được vào học nghề

ở một quán cắt tóc. Ngày đứng quan sát thầy, tối về cậu tự thực hành trên ma-nơcanh hoặc nhờ bố mẹ, người thân làm mẫu. Khi đã biết cắt, cậu nhờ bố đi thông báo

khắp làng mình cắt tóc miễn phí. Đeo đồ nghề quanh người, cậu đạp xe quanh làng

xem ai có nhu cầu sẽ phục vụ. Khách hàng phần lớn là người già và trẻ nhỏ.

Sau một thời gian ở Bắc Giang, năm 2008, Thành xuống Hà Nội vì muốn nâng

cao tay nghề. Cậu lại cùng chị hành trình xin học và bị từ chối. Nhờ bạn của chị gái

giới thiệu, Thành được nhận vào một siêu thị tóc ở phố Khâm Thiên. Cửa hàng đó là

mơ ước của Thành và trước đây từng khước từ cậu. Thành tiếp tục gặp khó khăn khi

thầy giảng lý thuyết và không hiểu thuật ngữ trong ngành tóc.

Nhờ chị thơng dịch, cậu giải thích: "Cách pha màu nḥm, cách điều chỉnh

nhiệt độ máy uốn để tóc xoăn lọn to, lọn nhỏ rất khó hiểu. Em phải mượn vở của bạn

về xem và cố gắng quan sát thầy làm. Về nhà, em mua màu vẽ rồi tự pha để ra được

các màu".

Từng có thời gian đi làm ở quê và được học thêm nhiều kỹ thuật ở chỗ mới

nên Thành nhanh chóng vượt các bạn cùng học để được đưa lên phòng làm tóc hạng

sang. Nhiều khách hàng đến làm tóc đều yêu cầu Thành cắt, trong số đó có khơng ít

người nổi tiếng. Đến giờ, cậu nhớ mãi lần đầu tiên làm tóc cho Hoa hậu Dương Thùy

Linh và Á hậu Thụy Vân.

"Chị Linh thấy em nói chuyện bằng tay nên lạ lắm. Hôm đó chị ấy làm MC

cho chương trình truyền hình và muốn kiểu tóc bới cho hợp với chiếc váy. Lúc em

đưa gương để chị ngắm, chị ngạc nhiên và khen đẹp lắm", Thành cười vui vẻ khoe.

Gắn bó với siêu thị tóc 3 năm, cậu quyết định nghỉ để xin chỗ khác. Trước khi

mở cửa hàng riêng vào năm 2011, Thành đã vào Nam nâng cao tay nghề và học thêm

về trang điểm. Đến giờ, số tiền 60 triệu đồng vay của bố mẹ để mở cửa hàng, cậu đã

9|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u yê t T ât V i êt N a m .



tích cóp trả đủ. Cùng làm với Thành còn có hai thợ học việc, trong đó có mợt người

khiếm thính. Hiện tại, cậu tự lo trả tiền cho nhân viên, tiền thuê nhà và gửi về để mẹ

tiết kiệm hộ.

Thành mơ ước đi du học tóc và trang điểm ở châu Âu vì muốn được tiếp cận

với nhiều phong cách, kỹ thuật. Thành bảo, hiện vẫn chưa đủ tiền và đang học thêm

tiếng Anh. Những lúc rảnh rỗi, cậu cùng bạn khiếm thính hoặc bạn bình thường "trà

đá chém gió". Ngoài đam mê làm tóc và trang điểm, cậu còn bơi và nhảy salsa khá

giỏi.

Nhắc đến Nguyễn Thái Thành, anh Vũ Đức Tiến, người sáng lập thương hiệu

Vinatoc, bất ngờ khi biết cậu học trò khiếm thính vừa giành được giải triển vọng của

cuộc thi tìm kiếm tài năng trong lĩnh vực trang điểm. Anh khâm phục tinh thần vượt

khó, không mặc cảm trong công việc và nỗ lực của Thành. Anh Tiến nhớ những ngày

đầu dạy Thành, hai thầy trò trao đổi với nhau bằng cử chỉ và viết ra giấy. Biết hoàn

cảnh của Thành, anh khơng thu học phí và bao học trò tiền ăn trưa.

"Với những học viên lành lặn, không phải ai cũng đạt được thành công nếu

không có nỗ lực của bản thân. Tôi rất bất ngờ khi học viên khiếm thính của tơi thành

đạt như vậy. Tôi muốn truyền nghề đến tất cả mọi người, không kén chọn học sinh,

điều quan trọng là họ muốn học và làm hết mình. Tạo cho học trò cơ hợi kiếm sớng

là mục đích của tơi", anh Tiến nói.

2.



Nhận xét.

 Những khó khăn và thuận của chị Liễu sẽ gặp phải trong quá trình xin

việc và làm việc:

Qua tình huống trên có thể thấy, Thành đã có những thuận lợi và thành công



nhất định trong công việc của mình như:

-



Làm đúng cơng việc mình u thích;

Mở được cửa hiệu riêng cho mình;

Được học hỏi và tiếp cận với những lớp học, những kĩ thuật và những giáo viên tốt



-



để nâng cao tay nghề;

Do chăm chỉ, chịu khó và kiên trì học hỏi, Thành đã đoạt giải cao trong cuộc thi về

thiết kế tóc khá quy mô; tạo được thương hiệu cũng như danh tiếng của mình và nhờ

đó mà nhiều người đã biết đến tay nghề và tên tuổi của cậu hơn.



10 | M ô n : L u â t N g ư ơ i K h u y ê t T â t V i ê t N a m .



Tuy nhiên qua tình huống trên có thể thấy Thành cũng đã gặp phải một số khó

khăn, bất lợi sau:

-



Thành đã gặp phải những khó khăn trong việc giao tiếp và tiếp nhận thông tin



với mọi người xung quanh;

Thành cũng gặp phải khó khăn, gian nan, vất vả trong vấn đề xin việc. Cậu đã phải

đến rất nhiều nơi để xin việc, tuy nhiên tất cả đều lắc đầu từ chối không nhận Thành.

"Từ salon tóc lớn đến những quán vỉa hè đều lắc đầu nhận cậu vào học, thậm chí, họ



-



nói thẳng là khơng nhận người khiếm thính...”.

Trong quá trình học nghề, Thành tiếp tục gặp khó khăn khi thầy giảng lý thuyết và

không hiểu thuật ngữ trong ngành tóc. Sau đó, Thành đã phải nhờ chị thông dịch viên

cho mình.

 Những quy định của pháp luật hiện hành về chế độ làm việc đối với

người khuyết tật.

Hiện nay, pháp luật đã có nhiều quy định đảm bảo chế độ việc làm cho người

khuyết tật. Tuy nhiên qua tình huống thực tế trên và một số tình huống thực tế khác

có thể thấy quy định pháp luật hiện nay còn gặp nhiều vướng mắc:

Thứ nhất, Để tăng cơ hội việc làm cho NKT, pháp luật quy định tỷ lệ bắt buộc

nhận NKT vào làm việc trong các doanh nghiệp, nếu không nhận đủ thì phải nộp một

khoản tiền vào quỹ việc làm cho NKT. Nhưng quy định này chưa thấy có hiệu quả

trong thực tiễn, mới chỉ có 8 tỉnh, thành phố thành lập Quỹ Việc làm. Nếu các quy

định được thực hiện nghiêm túc thì sẽ có mợt khoản tài chính đáng kể, tăng cường

cho việc tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho NKT nhiều hơn, nhưng chưa sự quan

tâm đầy đủ, đồng thời cũng thiếu giám sát và đôn đốc, cũng như chưa có những biện

pháp chế tài hữu hiệu.

Thứ hai, mặt khác trong đời sớng xã hợi còn tồn tại rất nhiều rào cản đối với

NKT trong giao thông, môi trường và ngay cả nhận thức của nhiều người trong cộng

đồng xã hội. Dịch vụ hỗ trợ việc làm cho NKT tập trung chủ yếu ở khâu dạy nghề và

giới thiệu việc làm, trong khi khâu tư vấn nghề, hỗ trợ tại nơi làm việc, tạo ra các

điều chỉnh hợp lý tại nơi làm việc còn hạn chế. Các đơn vị cung cấp dịch vụ liên

quan đến việc làm và phục hồi khả năng lao động cho NKT như các cơ sở dạy nghề,

trung tâm giới thiệu việc làm, đơn vị phục hồi chức năng, doanh nghiệp... chưa tạo

được sự kết nối, hợp tác chặt chẽ do hiện nay nước ta vẫn chưa chính thức có chương

trình phục hồi chức năng lao đợng cho NKT. Ví dụ như, các cơng nhân bị tai nạn lao

11 | M ô n : L u â t N g ư ơ i K h u y ê t T â t V i ê t N a m .



động cần sự hỗ trợ phối hợp của bệnh viện, đơn vị giới thiệu việc làm, doanh nghiệp,

cơ sở dạy nghề... để giúp NKT phục hồi khả năng lao động, quay trở lại công việc cũ

hoặc chuyển đổi sang công việc mới phù hợp. Điều này đòi hỏi cần hoàn thiện các

quy phạm pháp luật hơn nữa, bám sát những hạn chế trong thực tiễn để đảm bảo việc

áp dụng những quy phạm đó.

Thứ ba, pháp luật chưa có quy định cụ thể về chương trình thơng tin về học

nghề, việc làm chính vì vậy đã gây khó khăn không nhỏ cho người khuyêt tật trong

quá trình tìm kiếm việc làm ;

Thư tư, Rào cản giao thông cũng là thách thức không nhỏ. Quy đinh chưa có

giải pháp tháo gỡ thỏa đáng khiến một bộ phận NKT sống bằng nghề chở hàng xe ba

bánh mất việc, không có thu nhập và cũng chưa chuyển đổi nghề khác phù hợp. Đi

lại bằng giao thông công cộng thì xe buýt không tiếp cận được, thái độ phục vụ còn

thờ ơ. Đến đi lại bằng đường hàng khơng còn trường hợp bị từ chối phục vụ. Khó

khăn trong đi lại đồng nghĩa với khó khăn tìm kiếm việc làm (trừ một số người làm

trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhận gia công tại nhà...). Điều này gây khó khăn

không nhỏ trong việc tìm kiếm việc làm đối với người khuyết tật hiện nay.



III.



KẾT LUẬN.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, nước ta đã có nhiều nỗ lực trong



việc giúp đỡ NKT vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, tạo điều kiện cho

NKT có điều kiện chăm sóc sức khỏe ngày càng tốt hơn như: có hàng trăm lượt NKT

được phẫu thuật chỉnh hình, trợ giúp phục hồi chức năng được cung cấp xe lăn, dụng

cụ chỉnh hình miễn phí, tổ chức nhiều lớp tập huấn triển khai chương trình phát hiện

sớm khuyết tật và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho cán bộ tuyến huyện,

xã,... Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cho người khuyết tật cũng được quan tâm. Nhiều

biện pháp, chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết được thực hiện, triển khai

như: Cho vay vốn hỗ trợ để tạo việc làm cho người khuyết tật, hỗ trợ người khuyết

tật được học nghề, được tư vấn giới thiệu việc làm... Mới đây, trong luật dành cho

người khuyết tật, Nhà nước cũng đã đưa ra mợt sớ chính sách mới hơn như: Chính

sách hỗ trợ phục hồi chức năng lao đợng cho người khuyết tật, hoặc chính sách

khuyến khích các doanh nghiệp cải tạo điều kiện làm việc để nhận người khuyết tật

12 | M ô n : L u â t N g ư ơ i K h u y ê t T â t V i ê t N a m .



vào lao động. Đặc biệt Nhà nước cũng có mợt sớ chính sách để hỗ trợ cho các doanh

nghiệp nếu nhận người khuyết tật vào làm việc như: Miễn giảm th́, hỗ trợ bớ trí đất

xây dựng cơ sở...

Các chính sách chế đợ hỗ trợ người khút tật ban hành trong những năm qua

đã tạo khung pháp lý về chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các

cơ quan chức năng từ Trung ương đến cơ sở cũng như tạo môi trường thuận lợi cho

người khuyết tật tiếp cận học nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhờ vậy,

những năm qua đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã

hội được cải thiện một bước. Tuy nhiên quá trình thực hiện cho thấy hệ thống các văn

bản chưa thật sự đồng bợ, tính khả thi của mợt sớ chính sách chưa cao, cơng tác

tun trùn, kiểm tra giám sát thực hiện chưa thường xuyên, nguồn lực về tài chính

và nhân lực cũng chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Rất hy vọng những chính sách

này sẽ thực sự đi vào cuộc sống để NKT được chăm sóc một cách đầy đủ, toàn diện,

cải thiện chất lượng cuộc sống, tham gia bình đẳng vào các hoạt động của xã hội.



13 | M ô n : L u â t N g ư ơ i K h u y ê t T â t V i ê t N a m .



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

********

1.



Giáo trình luật Người Khuyết tật Việt Nam, ĐH Luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà

Nội 2011;



2.



Luật Người khuyết tật 2010;



3.



Nghị định số 28/2012/ NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số

điều của luật Người Khuyết tật;



4.



Công ước của UN về quyền của Người khuyết tật;



5.



Công ước sớ 159 và Khún nghị sớ 168 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc

làm của NKT.



6.



http://ijob.vn/khoi-nghiep/ong-chu-9x-khiem-thinh-cua-cua-hang-toc-dtn87992.html

http://www.baomoi.com/Cham-soc-SKSS-cho-nguoi-khuyet-tat-Nhung-khatkhao-chinh-dang/139/9602630.epi



14 | M ô n : L u â t N g ư ơ i K h u y ê t T â t V i ê t N a m .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ý nghĩa pháp lí: Chế độ chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật đảm bảo được quyền được chăm sóc sức khoẻ của người khuyết tật . Quyền của người khuyết tật đã được đề cập trong tuyên ngôn chung về con người của Liên hợp quốc “ mỗi người đều có quyền… hưởng mức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×