Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật.

Nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật.

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Giáo dục sức khỏe: giáo dục sức khỏe thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo

dục, phổ biến kiến thức về chăm sóc sức khỏe, nhằm mục đích tăng cường kiến thức

và hiểu biết của người khuyết tật về việc tự bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản

thân, gia đình và cộng đồng. Từ những kiến thức và hiểu biết đó sẽ giúp người

khuyết tật loại bỏ dần những lối sống, thói quen và phong tục tập quán có hại cho sức

khỏe. Việc thực hiện các hoạt động này được thông qua các hình thức, biện pháp

phong phú như: Tổ chức lớp học, thông tin qua hệ thống truyền thông ở địa phương



-



hoặc lồng ghép vào các hoạt động văn hóa xã hội khác ở địa phương.

Thực hiện các biện pháp phòng ngừa: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến khuyết tật,

mà có bao nhiêu nguyên nhân thì có thể đưa ra bấy nhiêu cách phòng ngừa. Vì thế,

có thể thấy hoạt đợng phòng ngừa được thực hiện rất đa dạng, phong phú: Phòng

ngừa dựa vào dạng tật, phòng ngừa dựa vào khả năng thực tế của địa phương,hoàn

cảnh gia đình, phòng ngừa dựa vào nhu cầu của người khuyết tật,v.v… Tuy nhiên, có

thể khái quát hoạt động phòng ngừa khút tật bao gồm: Phòng ngừa khơng để xảy ra

khuyết tật; phòng ngừa để ngăn ngừa tình trạng ốm đau, tai nạn, rủi ro trở thành



-



khuyết tật và phòng ngừa để ngăn ngừa khuyết tật gây nên hậu quả nặng hơn.

Quản lí sức khỏe: Mục tiêu lâu dài mà ngành y tế đặt ra là quản lý sức khỏe cho toàn

dân, trước mắt là thực hiện quản lý sức khỏe cho các đối tượng ưu tiên như trẻ em

dưới 1 tuổi, trẻ em dưới 5 tuổi, phụ nữ có thai, phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, các đối

tượng có công với cách mạng và người khuyết tật. Theo quy định tại điểm b khoản 1

điều 21 luật người khuyết tật, trạm y tế cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi,

quản lý sức khỏe người khút tật.Mục đích của chế đợ này nhằm quản lý theo dõi

tình trạng khuyết tật địa phương, từ đó giúp cơ quan chức năng đưa ra các giải pháp

hợp lí để chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn.Quản lý sức khỏe người khuyết tật cũng

được coi là nội dung quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người

khuyết tật.

b) Khám bệnh, chữa bệnh.

Một thực tế đặt ra, người khuyết tật khi ốm đau, bệnh tật thì họ cũng cần được

khám bệnh, chữa bệnh ở các cơ sở khám chữa bệnh ở nơi họ cư trú, lao động và học

tập như người bình thường. Vì thế, để bảo vệ quyền và lợi ích của người khuyết tật

thì vấn đề khám chữa bệnh, cơ sở khám chữa bệnh cho người khuyết tật được pháp

luật quy định tại Điều 2 Luật Khám chữa bệnh năm 2009.

Nội dung của chế độ khám, chữa bệnh bao gồm:

4|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u yê t T ât V i êt N a m .



-



Quyền được khám bệnh, chữa bệnh. Trong quá trình được khám bệnh, chữa bệnh,

người khuyết tật được đảm bảo các quyền như mọi công dân khác, như: quyền được

khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với điều kiện thực tế, quyền được giữ bí mật thơng

tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án; quyền được tôn

trọng danh dự, không phân biệt kì thị, phân biệt đới xử trong phòng khám; qùn



-



được lựa chọn phương pháp chuẩn đoán và điều trị…

Được ưu tiên khám bệnh chữa bệnh: trong hoạt động khám bênh, chữa bệnh pháp

luật quy định cơ sở y tế phải ưu tiên khám bênh, chữa bệnh cho người khuyết tật

nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai, người

khuyết tật có công với cách mạng. Việc ưu tiên thơng qua các hình thức như: miễn,

giảm viện phí, hỗ trợ sinh hoạt phí, chi phí đi lại, chi phí điều trị. Quy định này thể

hiện sự thớng nhất, phù hợp với luật người cao tuổi, Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và luật khác về ưu tiên, ưu đãi đối với những đối

tượng có hoàn cảnh sức khỏe đặc biệt.

c) Phục hồi chức năng.

Phục hồi chức năng được coi là nội dung quan trọng trong việc chăm sóc sức

khỏe người khuyết tật. Ngay từ năm 1983, Tổ chức lao động quốc tế đã ban hành

công ước số 159 đề cập vấn đề phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật

nhằm giúp người lao động khuyết tật phục hồi sức khỏe để tiếp tục lao động mang lại

thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Đến năm 2006, Tổ chức Liên Hợp Quốc,

trong công ước về quyền của người khuyết tật, đã đặc biệt coi trọng vấn đề phục hồi

chức năng, không chỉ áp dụng với lao động người khuyết tật mà áp dụng đối với mọi

người khuyết tật nói chung.Trong hai điều (Điều 25,26) quy định về chăm sóc sức

khỏe người khuyết tật, thì công ước đã dành riêng Điều 26 quy định về phục hồi chức

năng cho người khuyết tật. Theo đó, “để giúp người khuyết tật đạt được và duy trì tối

đa sự độc lập, khả năng đầy đủ về mặt thể chất, trí tuệ, xã hội và nghề nghiệp, sự

hòa nhập và tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống… các quốc gia, tổ chức, tăng

cường và mở rộng dịch vụ, chương trình tồn diện hỗ trợ chức năng và phục hồi

chức năng.” Pháp luật về chăm sóc sức khỏe người khuyết tật của các nước trên thế

giới cũng rất coi trọng nội dung này.

Theo quy định của Pháp luật nước ta thì phục hồi chức năng người khuyết tật

bao gồm: Phục hồi chức năng thông qua các cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng và

phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.

5|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u yê t T ât V i êt N a m .



d)

-



Các chính sách hỗ trợ việc thực hiện chế độ chăm sóc sức khoẻ người



khuyết tật.

Nghiên cứu khoa học về người khuyết tật.

Sự hiện diện của người khuyết tật trong xã hợi có tính khách quan và phổ biến



vì thế hoạt động nghiên cứu khoa học về người khuyết tật là hoạt động lâu dài và ở

nhiều lĩnh vực mọi khía cạnh liên quan đến đời sớng thực thể, tâm thần và xã hợi của

người khút tật. Mục đích của hoạt động này là tìm hiểu nguyên nhân gây ra khuyết

tật từ đó có thể đưa ra những biện pháp chăm sóc sức khoẻ cho người khuyết tật hiệu

quả và hợp lí hơn.

-



Đào tạo nguồn nhân lực y tế.

Nguồn nhân lực y tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ



người khuyết tật. Vì thế, nhà nước ln có chính sách phù hợp để phát triển, đào tạo

đội ngũ cán bộ thực hiện việc chăm sóc con người nói chung và người khuyết tật nói

riêng. Việc đào tạo được thực hịên 1 cách toàn diện, không chỉ chú trọng kiến thức và

kĩ năng chuyên môn mà còn chú trọng đến phẩm chất, đạo đức và cách ứng xử giao

tiếp với người khuyết tật.

-



Tài chính.

Chính sách tài chính đới với việc thực hiện hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ người



khuyết tật được quy định cụ thể tại khoản 1,2 Điều 26 Luật người khuyết tật. Theo

đó, nhà nước ưu tiên vay vốn và lãi suất vốn vay, giảm thuế cho các cơ sở sản xuất

dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng, trọ giúp sinh hoạt, học

tập và lao động cho người khuyết tật, miễn giảm thuế cho theo quy định đối với các

dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng, trọ giúp sinh hoạt và

học tập cho người khuyết tật từ chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại hoặc do

tổ chức cá nhân nước ngoài tặng, hỗ trợ.

-



Hợp tác quốc tế.

Hợp tác quốc tế là con đường ngắn nhất để tiếp thu các thành tựu khoa học tiên



tiến hiện đại của các nước trên thế giới trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ người

khuyết tật. Hợp tác quốc tế thông qua các hoạt động như: tham gia tổ chức q́c tế, kí

kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế liên quan đến chăm

sóc sức khoẻ người khuyết tật. Ngoài ra, hợp tác q́c tế còn còn được thơng qua hợp

6|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u yê t T ât V i êt N a m .



tác giữa Việt Nam và các tổ chức quốc tế, các cơ quan và tổ chức phi chính phủ…

trong việc xây dựng và thực hiện chương trình, dự án liên quan đến chăm sóc sức

khoẻ người khuyết tật như tài trợ, hỗ trợ, trao đổi về tài chính, kinh nghiệm, máy

móc thiết bị… để hoạt đợng chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật ngày càng đạt hiệu

quả cao.

3.



Ý nghĩa của việc chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật.

Ý nghĩa xã hội và nhân văn: Cũng như các chế độ khác, việc chăm sóc sức



khoẻ người khuyết tật thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc của con người đối với con

người trong cộng đồng , trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Đó là sự chia sẻ,

cảm thông không biên giới với những người bất hạnh do những rủi ro gây ra. Sự giúp

đỡ về các điều kiện vật chất và tinh thần trong quá trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu,

khám bệnh, chữa bệnh, chỉnh hình…nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng

của mọi người khuyết tật. Từ đó, giúp họ khắc phục những bất lợi, khó khăn để vượt

qua mặc cảm, tự ti về ngoại hình và bệnh tật vươn lên khẳng định chính mình.

Ý nghĩa pháp lí: Chế đợ chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật đảm bảo được

quyền được chăm sóc sức khoẻ của người khuyết tật . Quyền của người khuyết tật đã

được đề cập trong tuyên ngôn chung về con người của Liên hợp quốc “ mỗi người

đều có quyền… hưởng mức sống bao gồm cơm ăn, áo mặc, nhà ở, chăm sóc y tế và

phục vụ xã hội để duy trì sức khoẻ và thoả mãn như cầu của chính bản thân và gia

đình”, trong đó bao hàm cả quyền được chăm sóc sức khoẻ từ đó tạo cơ sở để người

khuyết tật thực hiện quyền được chăm sóc sức khoẻ của mình. Đồng thời, bên cạnh

đó pháp ḷt còn quy định trách nhiệm của các bợ, ngành nhất là ngành y tế và cộng

đồng xã hội trong việc chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật nhằm nâng cao chất

lượng hiệu quả và công bằng xã hội trong các hoạt động này.

Ý nghĩa kinh tế: Chế độ chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật giúp người

khuyết tật có cơ hội tham gia các quyền khác. Đó là khi sức khoẻ được đảm bảo,

người khuyết tật sẽ tìm kiếm việc làm mang lại thu nhập cho bản than và gia đình.

Với nguồn nhân lực người khuyết tật như hiện nay nếu có mợt chính sách hợp lí phù

hợp thì họ sẽ trở thành nguồn nhân lực tiềm năng cho nhân loại và đất nước. Thực tế

đã chứng minh họ là những người được đánh giá cao về lòng tận tụy, sự trung thành

và ý chí vươn lên ngoài ra, sức khoẻ ổn định người khuyết tật sẽ có cơ hội tham gia

7|M ô n : L u ât N gư ơ i K h u yê t T ât V i êt N a m .



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung chế độ chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×