Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẢI CHUYỂN TỪ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY CỔ PHẦN

PHẢI CHUYỂN TỪ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY CỔ PHẦN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



- Bốn là: DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng và

tự chịu bằng tài sán đó với chế độ TNHH.

Từ khái niệm và đặc điểm trên của DNNN chúng ta có thể nhận thấy rằng

sự hoạt động kinh doanh, hạot động cơng ích của DNNN ln chịu sự quản lý,

sự điều hành của cơ quan nhà nước, luôn bị chi phối và điều chỉnh của cơ quan

quản lý nhà nước vì vậy tính độc lập, tự chủ, năng động của DNNN thường bị

hạn chế.

Hiện nay DNNN bao gồm: DN do nhà nước sở hữu 100% vốn và DN do

nhà sở hữu trên 50% vốn. Trong đó DNNN do nhà nước sở hữu 100% vốn bao

gồm: Công ty nhà nước, công ty CP nhà nước, công ty TNHH. Trong phạm vi

của dề bài này chúng tôi chỉ đề cập đến công ty nhà nước độc lập.

2. Khái quát chung về công ty CP

Pháp luật Việt Nam không đưa ra 1định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ

đưa ra những dấu hiệu để nhận diện và phân biệt CTCP với loại hình DN khác.

Theo đó CTCP là 1 DN đảm bảo các điều kiện:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của

DN trong phạm vi về vốn đã góp vào DN.

- Cổ đơng có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người

khác.

- Cổ đơng có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và

không hạn chế số lượng tối đa.

- CTCP có quyền phát hành chứng khốn ra cơng chúng theo quy định

của PL về chứng khốn.

- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy phép ĐKKD.

Đặc điểm của CTCP:

Là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn,mang những đặc điểm sau:

- Về thành viên cơng ty: Trong suốt q trình hoạt động phải có ít nhất 3

thành viên, khơng hạn chế số lượng tối đa.



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



- Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ

phần. Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đơng.

- Tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp: phần vốn góp của thành viên

được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu,các cổ đơng có thể chuyển nhượng

tự do theo quy định của PL.

- Về chế độ trách nhiệm: Thành viên CTCP chỉ phải chịu trách nhiệm trong

phạm vi vốn đóng góp vào cơng ty.

- CTCP có quyền phát hành chứng khốn ra cơng chúng theo quy định của

PL để huy động vốn.

- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy ĐKKD.

3. Cổ phần hóa - mục tiêu của CPH

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển DNNN từ chỗ chỉ

thuộc sự sở hữu của nhà nước thành CTCP thuộc sở hữu của nhiều cổ đơng. Cổ

phần hóa doanh nghiệp nhà nước thực chất là việc bán 1 phần hoặc tồn bộ

DNNN thơng qua hình thức bán CP của DN.

Mục tiêu của CPH là tạo ra nhiều loại Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu,

tạo điều kiện cho người lao động có thể làm chủ Doanh nghiệp thực sự khi họ

mua cổ phần và như vậy họ sẽ quan tâm hơn tới hiệu quả hoạt động của DN,

huy động vốn của xã hội vào sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế đất nước,

nhà nước có thể thu hồi được vốn đã đầu tư đẻ tập trung vào cơng trình trọng

điểm, đồng thời nâng cao tính độc lập, tự chủ cho các DN, tạo “ sân chơi” bình

đẳng cho các DN trên thương trường, làm tốt cho quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế và khu vực.

4. Tính cấp thiết của việc chuyển từ DN 100% vốn nhà nước sang CTCP

Trong tiến trình chuyển đổi kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp

sang cơ chế thị trường,sự đa dạng hóa của các hình thức sở hữu đã trở thành đòi

hỏi tất yếu và ngày càng phổ biến trong xã hội. Trong đó giải pháp trọng tâm và

cũng là xu thế phổ biến hiện nay trên thế giới là Cổ phần hóa, nó đã đáp ứng

được yêu cầu bức thiết của công cuộc đổi mới DNNN nói riêng và nền kinh tế

nói chung.



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò , đóng góp của DNNN cho

nền kinh tế quốc dân với sắc lệnh số 10/SL ngày 1/1/1948 của CTN là cơ sở

pháp lý đầu tiên cho việc thành lập và hoạt động của DNNN. DNNN ở nước ta

đã được thành lập từ cuối những năm 40 đầu những năm 50 của thế kỉ trước.

trong từng giai đoạn lịch sử DNNN đã chứng minh được vai trò chủ đạo của

mình dù trong cơ chế cũ hay trong cơ chế thị trường định hướng XHCN hiện

nay.

Trong thời kì trước năm 1985, DNNN đã phát triển với cơ cấu tương đối

hoàn chỉnh, thể hiện vai trò chủ đạo: DNNN chiếm khoảng 85% vốn cố định của

nền kinh tế, 90% lao động có trình độ. Hàng năm DNNN đã đóng góp 35-40%

tổng sản phẩm xã hội và 28-30% thu nhập quốc dân, nộp ngân sách nhà nước

với mức cao nhất so với các thành phần kinh tế khác. Hoạt động khơng vì mục

đích lợi nhuận, theo sự chỉ đạo…

Từ ĐHĐBTQ lần thứ VI (1986) Đảng xác định vai trò của kinh tế nhà

nước vẫn là vai trò chủ đạo nhưng khơng giữ vị trí độc tơn trong nền kinh

tế,chỉ nắm giữ những lĩnh vực then chốt.

Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000 Đảng ta đã khẳng định:

“Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và

lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những

hoạt động mà những thành phần khác khơng có điều kiện hoăc khơng muốn đầu

tư kinh doanh. Khu vực kinh tế quốc doanh được sắp xếp lại,đổi mới công nghệ

và hỗ trợ các thành phần khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một

cơng cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước.” DNNN là công cụ để nhà nước điều tiết

vĩ mô nền kinh tế, gắn liền với vai trò quản lý của nhà nước đối với thị trường.

Theo thống kê đến năm 1990, các DN đã tập trung vào các ngành, lĩnh

vực then chốt, sức mạnh và hiệu quả kinh doanh tăng rõ rệt, tỉ lệ % do các

DNNN tạo ra trong GDP tăng từ 36%(1991) lên 40,07%(1998), tỉ lệ nộp ngân

sách cũng tăng từ 14,7% lên 27,9%.

Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn

nhiều tồn tại:



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



- Tốc độ tăng trưởng của DNNN chưa cao

- Khả năng cạnh tranh của DNNN còn thấp so với DN có vốn đầu tư nước

ngồi và chưa đủ sức hội nhập khu vực và quốc tế. Theo kết quả công bố của Bộ

Thương Mại 18/10/2001, Việt Nam chỉ xếp 62/75 nước về chỉ số năng lực cạnh

tranh.

- Tình trạng trang thiết bị khoa học cơng nghệ còn lạc hậu, thiếu đồng bộ.

- Quy mơ DNNN còn nhỏ bé, nợ phải trả khơng có khả năng thanh tốn

lớn, lao động dơi dư còn nhiều, hơn nữa số lượng DNNN q nhiều.

Như vậy tình hình tài chính DN nhìn chung khó khăn, khó thích ứng với

cơ chế năng động của nền kinh tế thị trường. Thực hiện sắp xếp lại DNNN,

Đảng và nhà nước đã đưa ra nhiều giải pháp như: xác nhập, giải thể, phá sản

những DN làm ăn thua lỗ, giao, bán, khoán, cho thuê DNNN, CPH, thí điểm

thành lập tập đồn kinh doanh… Trong đó, CPH được coi là giải pháp hữu hiệu

nhất cho công cuộc cải cách DNNN ở Việt Nam. Lý do CPH được coi là quan

trọng cần thiết được xem xét ở những khía cạnh sau:

CPH với việc chuyển DNNN thành CTCP sẽ giúp DNNN sau khi chuyển

đổi có thể đứng vững bằng chính khả năng của DN. Bởi lẽ CTCP là một loại

hình DN tiến bộ với những ưu điểm nổi bật:

+ Thứ nhất, ưu điểm về sự phân tán rủi ro trong kinh doanh. CTCP có



nhiều chủ sở hữu, số lượng cổ đông lớn, cộng với chế độ TNHH cho nên khả

năng phân tán rủi ro cao hơn hẳn những DN khác. Đây là một ưu điểm thích hợp

cho nền kinh tế thị trường.

+ Thứ hai, CTCP có khả năng huy động vốn nhanh với lượng vốn huy



động thông qua phát hành chứng khốn. Đây là tính năng động cần có trong nền

kinh tế thị trường.

+ Thứ ba, CTCP có nhiều ưu thế về quản lý và điều hành hoạt động DN.



Cơ chế quản lý của CTCP tách biệt quyền sở hữu và quyền điều hành DN, loại

bỏ sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nước. Đó là những ưu thế giúp

CTCP thích nghi và kinh doanh đạt hiệu quả trong kinh tế thị trường.



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



- Thông qua CPH với việc bán cổ phần của mình trong DNNN cho các

đối tượng khác, nhà nước có thể thu hồi một lượng vốn nhất định vào các dự án

khác khả thi và hiệu quả hơn, tháo gỡ khó khăn cho ngân sách nhà nước.

- Thơng qua CPH, với việc góp cổ phần của mình vào CTCP, người lao

động sẽ có cơ hội làm chủ DN, nâng cao năng lực trách nhiệm của họ với hoạt

động sản xuất kinh doanh của DN bởi lúc này quyền lợi của họ gắn bó chặt chẽ

với cơng ty hơn.

- Thơng qua CPH làm cho số lượng CTCP tăng, góp phần hình thành và

phát triển thị trường chứng khốn.

- Về phía nhà nước, cáí được lớn nhất thơng qua CPH đó là điều chỉnh

được cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp với kinh tế thị trường theo định hướng

XHCN ở nước ta, nâng cao sức mạnh cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế.



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



CHƯƠNG II

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của đảng và

nhà nước ta. Vì vậy để q trình này được thực hiện thành cơng và đạt kết quả

cần phỉa có khung pháp lý hồn chỉnh và đầy đủ, vì vậy nhà nước đã ban hanh

một loạt văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cổ phần

hố hiện nay. Ví dụ như: Quyết định 143/HĐBT ngày 10/05/1990. về đổi mới

hiện nay.Quyết định 202/TTG ngày 08/06/1992 về tiến hành thí điểm cổ phần

hố doanh nghiệp nhà nước.Thơng tư36 ngày 07/05/1993 về tài chính trong

doanh nghiệp được cổ phần hố ….Và gần đây nhất là nghị định 109/NĐ-CP về

việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

1. Mục tiêu cổ phần hoá

Nước ta ở từng giai đoạn ,từng thời kì mục tiêu được đặt ra ít nhiều mục

tiêu khác nhau. Theo nghị định 109/2007/NĐ_CP ngày26/06/2007 có 3 mục tiêu

cơ bản. Nội dung chính của ba mục tiêu đó là huy động vốn của các nhà đầu tư

nuớc ngoài, và trong nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh; Đảm bảo hài

hoà lợi ich của các đối tượng tham gia doanh nghiệp. Thực hiện cơng khai minh

bạch, tránh tình trạng cổ phần hố khép kín.

2. Quy định về đối tương cổ phần hóa

Qua 15 năm thực hiện cổ phần hố những quy định về cơ phần hóa cũng

thay đổi khá lớn. Điều 2- quy định 202/1992/CT đã đưa ra đối tượng cổ phần

hố là: “ có quy mơ vừa, đang kinh doanh có lãi hoặc trước mắt tuy gặp khó

khăn, nhưng có triển vọng sẽ hoạt động tốt khơng thuộc diện những doanh

nghiệp cần thiết phải giữ 100% vốn nhà nước”. Đây là quy định thí điểm nên

việc lựa chọn như vậy phù hợp với tình hình thực tế và không quá mạo hiểm.

Đến nay điều 2 nghị định 109/2007/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn

nhà nước thành công ty cổ phần quy định cụ thể là:” công ty nhà nước thuộc các

bộ ngành đối tượng công ty mẹ của tập đồn kinh tế, tổng cơng ty nhà nước (kể



Website: http://www.kilobooks.com Email : care@kilobook.com



cả ngân hàng thương mại nhà nước); công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ công

ty con; cơng ty thành viên hạch tốn độc lập thuộc tổng công ty do nhà nước quy

định dầu tư và thành lập; đơn vị hạch tốn phụ thuộc của cơng ty nhà nước độc

lập….”. Như vậy nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn đối với những công ty hoạt

động trong ngành, lĩnh vực thực sự quan trọng như an ninh quốc phòng…. Việc

ngày càng mở rộng cổ phần hố các công ty được coi là tâm điểm và là điểm

mới, ví dụ như lĩnh vực ngân hang tài chính

3. Quy định về đối tượng và điều kiện mua cổ phần

Sau khi cổ phần hoá, điều đáng quan tâm là ai có thể nắm giữ cổ phần. Đó

là điều được quan tâm kịp thời về mặt pháp luật cho các chủ thể nắm giữ cổ

phần trong doanh nghiệp. Từ chỗ pháp luật chỉ quy định bán cổ phần cho cán bộ

công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cho các tổ chức kinh tế xã hội, cho

các cá nhân trong nước. Cho đến nay, pháp luật cổ phần hoá đã mở rộng và công

bằng cho các chủ thể tham gia vào tiến trình cổ phần hố. Đến nay việc sở hữu

cổ phần cổ phiếu khơng còn khó khăn đối với cá nhân tổ chức trong nước, và

với cá nhân tổ chức nước ngoài, người việt nam định cư ở nước ngoài. Cụ thể

hơn những quy định nay được quy định tại điều 6 nghị định 109/2007/NĐ-CP.

Nội dung chính của điếu 6 chia đối tương mua cổ phần thành ba nhóm chính, đó

là nhà đầu tư trong nước, nhà đầu nước ngoài, và nhà đầu tư chiến lược, Đồng

thời cung quy định cụ thể quyền và điều kiện mua cổ phần

4. Hình thức cổ phần hóa cơng ty nhà nước

Tại điều 4 NĐ 109/2007/NĐ-CP đã quy định cụ thể bằng 3 hình thức:

- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành them cổ

phiếu để tăng vốn điều lệ

- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa

bán bớt một phần vốn nhà nước, vừa phát hành them cổ phiếu để tăng vốn điều

lệ.

- Bán tồn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa

bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành them cổ phiếu để tăng vốn điều lệ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẢI CHUYỂN TỪ DOANH NGHIỆP 100% VỐN NHÀ NƯỚC SANG CÔNG TY CỔ PHẦN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×