Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sạt lở và xói mòn bờ sơng là một q trình địa chất được biểu hiện bằng sự thay

đổi hình thái, thay đổi mặt cắt và tính ổn định của nó.

Hiện tượng sạt lở và xói mòn bờ sơng có các đặc trưng sau:

-



Tác dụng mài mòn của vực nước thể hiện sự rửa xói sườn bờ của sơng dẫn

đến sự hình thành phần mài mòn của thềm bờ ngầm; dọc theo thềm bờ ngầm

về phía bờ hình thành đới sóng trườn. Sự vận chuyển vật liệu rời rạc do các

dòng chảy có hướng dọc theo bờ, trong một số trường hợp cũng thúc đẩy sự



-



hình thành thềm bờ mài mòn.

Tích tụ vật liệu do tác dụng của rửa xói bờ, vật liệu đó một phần được lắng



-



động tạo nên phần tích tụ của thềm bờ.

Vật liệu tích tụ do các dòng chảy có hướng dọc theo bờ.



b) Cơ chế xói lở bờ sơng

Có hai cơ chế xói lở điển hình tương ứng với hai vùng sơng có chế độ chảy

khác nhau:

-



Cơ chế xói lở bờ sơng vùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của dòng chảy thượng



-



nguồn q trình diễn ra theo chu kỳ gồm 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Xói sâu lòng sơng tạo hố xói.

+ Giai đoạn 2: Phát triển hố xói tiến sát vào bờ gây mất ổn định mái bờ.

+ Giai đoạn cuối: Lở bờ và cuốn trơi khối lở.

Cơ chế xói lở bờ sơng vùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của chế độ thủy triều. Quá

trình diễn ra theo chu kỳ gồm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu: Mở rộng lòng sơng – kết quả của q trình bào xói mái bờ



sơng dưới tác dụng của thủy triều, của sóng do gió, sóng do thuyền bè qua lại.

+ Giai đoạn cuối: Đào sâu dần lòng sơng dưới tác dụng của dòng chảy ven bờ.

b)

Các yếu tố ảnh hưởng đến bờ

i.

Do sóng gió

Trong các yếu tố tham gia vào việc tạo bờ yếu tố ảnh hưởng tích cực nhất là

sóng do gió vì chúng có sức phá hủy lớn hơn sóng do thủy triều, do dao động áp suất

khí quyển, do dao động đất…

Tốc độ các dòng khơng khí, đặc biệt là tốc độ cơn gió thường khơng đều, có

tính chất chuyển động rối và dẫn đến áp suất khơng khí lên mặt nước phân bố khơng

đều. Sóng sẽ có độ cao và chiều dài khác nhau, đồng thời các sóng nhỏ dần nhường

chỗ cho những sóng lớn hơn vì các sóng lớn giữ được năng lượng do gió truyền cho



22



tốt hơn. Khi có bão, từ những gợn sóng nhỏ lăn tăn phát riển thành những sóng khổng

lồ.

Thủy triều



ii.



Có khá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thủy triều nhưng yếu tố quan trọng nhất ảnh

hưởng đến thủy triều là lực hấp dẫn giữa Trái Đất và Mặt Trăng. Nguyên nhân của

thủy triều là sự khác nhau giữa lực hấp dẫn tổng và lực hấp dẫn cục bộ. Mặt trời dù có

khối lượng lớn nhưng ở cách xa Trái Đất nên không ảnh hưởng đến thủy triều. Thủy

triều lớn nhất khi Mặt trời, Trái Đất và Mặt Trăng nằm trên cùng một đường thẳng, còn

thủy triều nhỏ nhất khi Mặt Trăng và Mặt Trời vng góc với Trái Đất.

3.1.2 Khái niệm khả năng thích ứng với BĐKH

Thích ứng với BĐKH là tìm cách làm giảm thiệt hại nhiều hết mức có thể bằng

các biện pháp thơng minh, ít tốn kém, dễ thực hiện và tăng kết quả thuận lợi với các

biện pháp được thực hiện (S.Rahmstorf, Hans J. Schellnhuber, 2007). Thích ứng với

BĐKH nhằm mục đích: làm giảm tổn thương, bồi thường thiệt hại tiềm năng, đối phó

với những hậu quả, để nhận ra cơ hội.

Thích ứng với BĐKH có nghĩa là cộng đồng với sự nỗ lực hỗ trợ của Chính

phủ, sớm thực hiện hành động để giảm thiểu tác động gây hại mà BĐKH gây ra trong

cuộc sống của họ (Oxfam, 2008).

Một khái niệm khác: Thích ứng với BĐKH là một trong q trình, trong đó

những giải pháp được triển khai và thực hiện nhằm giảm nhẹ hoặc đối phó với tác

động của các sự kiện khí hậu và lợi dụng những mặt thuận lợi của chúng (IPCC.

2007).

Thích ứng với BĐKH là một chiến lược cần thiết ở tất cả các quy mơ, có vai trò

bổ trợ quan trọng cho chiến lược giảm nhẹ BĐKH trên phạm vi toàn cầu bởi khả năng

tiềm tàng của nó trong việc hạn chế và giảm nhẹ những tác động tiêu cực của BĐKH,

kể cả biến đổi các trạng thái trung bình, những biến đổi khí hậu và các sự kiện cực

đoan. Nhiều giải pháp thích ứng cũng góp phần giảm nhẹ BĐKH. Do đó, thích ứng

những biến đổi khí hậu và các sự kiện khí hậu cực đoan hiện nay chẳng những mang

lại hiệu quả thiết thực mà đồng thời còn tạo cơ sở cho việc ứng phó với BĐKH trong

tương lai.

3.1.3 Cơng nghệ mềm Stabiplage và ứng dụng chống xói mòn

23



a) Cơng nghệ mềm Stabiplage

i. Khái niệm

Stabiplage tiếng Pháp có nghĩa là ổn định bờ. Đây là công nghệ do ông Jean

Cornic – một người Pháp sáng chế và đưa vào ứng dụng từ năm 1986. Năm 1998,

công nghệ này đã đăng ký bản quyền và được bảo hộ tại Cộng hòa Pháp. Từ đó đến

nay, nhiều nước trên thế giới như Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Tuynidi, xyry… đã

ứng dụng công nghệ Stabiplage chống xói lở bờ biển đạt hiệu quả cao. Bản chất của

cơng nghệ này là chống xói lở, sa bồi bờ biển không dùng đê kè cứng bằng bê tông cốt

thép nhưng bền vững, thích ứng với nhiều tầng nền, trong nhiều loại môi trường.

Các mục tiêu của công nghệ Stabiplage là ổn định đường viền bờ biển; bồi đắp;

phục hồi và mở rộng các bãi biển sạt lở; chỉnh trị tình trạng bồi lắng, xói mòn tại các

cảng biển, cửa sông; bảo vệ các đụn cát thiên nhiên và môi trường phía sau các đụn

cát; xử lý tình trạng bên lở bên bồi tại các triền sông, bán đảo; bảo vệ các đê đập và

các cơng trình xây dựng dọc bờ biển.

Thuộc tính cơ bản là khơng gây tác động đến động lực học trầm tích bờ biển,

tơn trọng mơi trường. Tích hợp một cách tối ưu vào hệ sinh thái, không làm biến đổi

sự cân bằng hệ động thực vật trong khu vực. Tôn trọng người sử dụng, không gây

nguy hiểm cho người tắm biển, ngư dân…Giải pháp thực thi nhanh và hiệu quả. Một

giải pháp bền vững và hạ giá thành.

ii. Cấu tạo của cơng trình Stabiplage



Cơng trình có dạng con lươn có vỏ bọc bằng vật liệu geo-composite (vãi địa kỹ

thuật) đặc biệt rất bền. Phía dưới là các tấm phẳng làm bằng vật liệu đặc biệt nhằm

chống lún và chống xói cơng trình. Bên trong các con lươn được chứa đầy cát và được

bơm vào tại chổ. Khi cần thiết có hệ thống neo đặc biệt để giữ chúng khơng bị di

chuyển. Chiều dài trung bình của Stabiplage từ 50 đến 80 m, có mặt cắt gần như hình

elip chu vi khoảng 6,5 đến 10 m. Kích thước của Stabiplage cũng như loại vật liệu

được lựa chọn thích ứng với từng khu vực của cơng trình. Vật liệu Geocomposite có 2

lớp, lớp ngồi là lưới polyester màu sáng, lớp lọc bên trong là polypropylene kiểu

không dệt. Đặt tính cơ bản của Geocomposite là có độ bền kéo 400 kN/m và độ thấm

0,041 m/s.

iii. Các dạng công trình Stabiplage



24



Ngun lý hoạt động chủ yếu của cơng nghệ Stabiplage là thu giữ, tích tụ và

duy trì chỗ các trầm tích, khơng chống lại thiên nhiên và trợ giúp thiên nhiên, thông

qua hoạt động thủy động lực học ven biển và dịch chuyển trầm tích ngang và dọc bờ,

tạo ra các trao đổi cho phép ổn định động lực các khu vực cần được xử lý. Quá trình

hoạt động của các Stabiplage với kích thước thích hợp cho phép sóng vượt qua trầm

tích, cát nhưng trích lại một lượng cát trong dịch chuyển ven bờ. Lượng cát thu giữ

được tích tụ dần dọc theo cơng trình sau đó ổn định và nâng dần độ cao bãi biển để bồi

đắp, tái tạo lại bãi biển, hình thành địa mạo mới. Hoạt động Stabiplage không gây biến

động bất thường, không làm xói lở các khu vực thuộc hạ lưu và chân cơng trình.

Về cơ bản có 3 kiểu cơng trình Stabiplage:

- Stabiplage đặt nữa chìm, nữa lộ thiên vng góc với bờ như kiểu mỏ hàn,



nhằm hạn chế dòng ven bờ, tăng cường bồi tụ phù sa mà dòng chảy ven

bở mang theo, duy trì tại chỗ lượng phù sa theo cơ chế bồi tụ.

- Stabiplage đặt ngầm và song song với bờ, có tác dụng làm giảm bớt năng

lượng sóng lừng mạnh, nguy hiểm, tạo vùng sóng lừng nhỏ hơn, cho

phép phù sa mịn lắng đọng trong vùng bị xói lở.

- Stabilage đặt sát chân các đụn cát, có nhiệm vụ trực tiếp bảo vệ các đụn

cát ven biển, ngoài ra có thể tạo ra sự phủ cát nhân tạo theo ý muốn bằng

các biện pháp kỹ thuật đơn giản.

iv. Ba kiểu hình dáng và ứng dụng của hệ thống vải địa

Ba dạng hệ thống vải địa (geosystems) đang được ứng dụng nhiều nhất hiện nay

cho các cơng trình biển và thủy lợi đó là dạng ống (Geotubes), dạng túi (Geobags),

dạng container (Geocontainers).

- Dạng ống (Geotubes): Geotubes được tạo ra từ vải địa kỹ thuật loại dệt



làm thành dạng ống. Đường kính và chiều dài được xác định dựa vào

yêu cầu của dự án (1 - 10 m). Ống được bơm đầy cát lẫn nước biển bởi

hệ thống bơm thủy lực. Ống vải địa tổng hợp giữ lại cát còn nước được

thấm qua lớp màng chảy ra ngoài. Geotubes giữ lại một cách thường

xuyên vật liệu dạng hạt ở cả hai loại cơng trình trên cạn và dưới nước.

Để geotubes khơng bị lún do nước xói mòn người ta đặt một tấm phẳng

bên dưới.

25



- Dạng túi (Geobags): Được sản xuất từ vải địa kỹ thuật loại dệt sức bền



cao, geobags đã chứng tỏ là có hiệu quả và kinh tế trong việc đặt những

túi lớn giống nhau trong việc chống xói mòn cũng như các cơng trình

dưới nước khác. Geobags có thể tích thơng thường từ 0,05 – 5 m 3, được

sản xuất với nhiều hình dạng khác nhau: Hình gối, hình hộp, hình nệm.

Geobags ứng dụng để xây dựng đê hoặc gờ nước, các con đê tạm thời,

bảo vệ đường bờ biển, cửa sông.

- Dạng container (Geocontainers): geocontainers là những ô vải địa chất

khổng lồ chứa số lượng lớn cát và được thả xuống nước để hình thành

những gờ nước, con đê hoặc những cơng trình bằng đất. Chúng được tạo

ra từ vải địa kỹ thuật có độ bền cao và được lắp ráp lại nhờ công nghệ

khâu nối đặc biệt. Chúng có thể được thiết kế cho thủy lợi hoặc cơng cụ

chứa. Thể tích thơng thường từ 100 đến 800 m 3 (nhưng có cái 1000 m3

đã được lắp đặt). Geocontainers có dung tích hình học kém thường được

lắp đặt bằng sà lan tách đáy (split-bottom barge). Các cơng trình dưới

biển như đê chắn sóng (breakwater), cơng trình kiểu mỏ hàn (groin),

vùng chắn sóng (spoil-containment areas) có giá cả hợp lý cho thiết kế.

Ứng dụng geocontainers cho đập hoặc gờ dưới nước, bảo vệ khỏi sự xói

mòn của sóng, lưu trữ, trầm tích.

b) Ứng dụng cơng nghệ Stabiplage chống xói mòn tại bãi biển Vũng Tàu

i. Thí điểm thực hiện công nghệ mới

Từ cuối năm 2003, sở KH&CN BR - VT đã tiếp cận công nghệ Stabiplage.

Nhận thấy đây là cơng nghệ thích hợp với việc bảo vệ vùng ven bờ biển của tỉnh. Sau

khi đề xuất với Lãnh đạo tỉnh và được bộ KH&CN ủng hộ, Sở đã phối hợp với Cơng

Ty Espace Pur (Cộng hòa Pháp), ông Jean Cornic nghiên cứu, lập dự án khả thi và

triển khai thi cơng cơng trình thí điểm ứng dụng cơng nghệ Stabiplage để chống xói lở

ở cửa Lộc An (huyện Đất Đỏ) là khu vực bị xâm thực, xói lở xảy ra nghiêm trọng nhất

xảy ra trong nhiều năm qua.

Mục tiêu của dự án là chống xói lở bờ biển trên chiều dài 800 m, bít cửa đã mở

tại Lộc An, nơi đã bị xói lở trong khoảng 10 năm qua, xâm thực hơn 100 m. Bảo vệ

khu vực đầm phá bên trong và khu dân cư. Từ kết quả thí điểm, tiến hành nghiên cứu

26



khả thi chỉnh trị ổn định cho cửa sông Lộc An và các khu vực khác từng bước tiếp

nhận chuyển giao công nghệ Stabiplage.

Từ mục tiêu trên, công việc lập dự án đã được thực hiện khá nhanh do có nhiều

cơng trình nghên cứu trước đó, đồng thời phải đảm bảo thi cơng xong trước mùa mưa

bão nên dự án đã được phê duyệt từ tháng 10/2004. Trong khoảng thời gian ngắn, việc

thiết kế và lập tổng dự toán cũng như các thủ tục đầu tư cho cơng trình đã hồn tất.

Tháng 3/2005, Sở đã ký hợp đồng với Công ty Espace Pur cung cấp vật liệu, một số

thiết bị, chuyển giao công nghệ và hướng dẫn thi cơng.

Cơng trình thí điểm tại Lộc An được thực hiên với 8 Stabiplage đặt vng góc

với đường bờ (kiểu mỏ hàn), tiếp theo là các công việc: xây dựng ranh giới thi công tại

công trường; xác định các vị trí lắp đặt cơng trình Stabiplage với các thiết bị định vị và

các điểm chuẩn; tạo đường hào để đặt Stabilage và các neo; triển khai trải ống

Stabiplage theo hào; định vị các cơng trình bằng máy laser; lắp hệ thống bơm nước và

cát (máy bơm có công suất lớn và áp lực cao); phun cát đầy các cơng trình Stabiplage

tạo thành các con lươn sẵn sàng hoạt động.

Từ cuối tháng 6/2005 đến cuối tháng 7/2005 Stabiplage cuối cùng đã được lắp

đặt xong. Ngày 4/8/2005, Sở đã tổ chức nghiệm thu cơng trình và đưa vào sử dụng.

ii. Bài học kinh nghiệm



Ứng dụng công nghệ Stabilage chống xói lở bờ biển ở BR-VT là dự án thí điểm

đầu tiên ở Việt Nam. Ngay sau khi hoàn thành, cơng trình đã bước đầu phát huy hiệu

quả với những ưu điểm cơ bản: không gây tác động xấu đến môi trường mà dựa vào tự

nhiên để điều chỉnh, thời gian thực hiện được rút ngắn đáng kể so với cơng trình cứng;

giá thành rẻ; thi cơng đơn giản; cơng trình khơng cần bảo trì; tiết kiệm nhân cơng…

Đặc biệt, cơng trình khơng chỉ có tác dụng chống xói lở mà còn tạo nên bãi bồi với

cảnh quan mới.

3.1.4 Nhận thức và thái độ

a) Khái niệm nhận thức

Nhận thức là quá trình con người tiếp thu mọi sự vật, hiện tượng. Nhận thức là

cơ sở của tri thức, có những nhận thức sẽ trở thành tri thức nhưng cũng có những nhận

thức sẽ mất đi.

27



Nhận thức là một quá trình cảm nhận của con người về thế giới xung quanh, về

tất cả các mặt khác nhau của đời sống. Từ q trình nhận thức đó con người rút ra

được những kinh nghiệm và từ đó dần dần hình thành mơn triết học. Nhận thức là quá

trình tư duy con người đi từ cái riêng đến cái chung, từ hiện tượng đến bản chất.

Nhận thức là hành động con người tìm hiểu thế giới tự nhiên. Trong quá trình

này, con người lý giải thế giới vạn vật theo từng giao đoạn nhận thức của mình. Từ đó,

tìm ra quy luật vận động và phát triển, thay đổi và tiến hóa, bản chất và hình thức, hình

thành và tiêu vong của thế giới vật chất và tinh thần. Hoạt động nhận thức chủ yếu của

con người là phản ánh thực tế khách quan, để thích nghi với nó hay cải tạo nó. Quá

trình hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ các thuộc tính bên ngồi (cảm

tính, trực quan, riêng rẽ) đến sự trọn vẹn (ổn định, có ý nghĩa trong các quan hệ của

nó); sau đó đến các thuộc tính bên trong, đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng

được nghiên cứu; cuối cùng từ đó trở về thực tiễn, thơng qua các q trình tâm lý như

cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ. Ở những giai đoạn phát triển

nhất định, giáo dục là hoạt động nhận thức chủ yếu của con người.

b) Khái niệm thái độ

Thái độ được giả thuyết là một trong những nhân tố quyết định chính trong việc

lý giải hành vi con người. Thái độ được định nghĩa là một xu hướng tâm lý được bộc

lộ thông qua việc đánh giá một vấn đề cụ thể với một số mức độ thích – khơng thích,

thỏa mãn – không thỏa mãn…(Eagly & Chaiken, 1993).

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp CVM

a) Giới thiệu phương pháp CVM



Theo Callan (2000) khi dữ liệu thị trường khơng có sẵn hoặc khơng đáng tin

cậy cho việc định giá một loại hàng hóa nào đó, các nhà kinh tế có thể áp dụng các

phương pháp thay thế khác dựa vào việc xây dựng một thị trường mức sẵn lòng trả

(WTP) hay sẵn lòng nhận đề bù (WTA) của các cá nhân cho một sự thay đổi trong chất

lượng môi trường. Cách tiếp cận dựa vào số liệu khảo sát để ước lượng các lợi ích hay

thiệt hại của một sự thay đổi chất lượng môi trường được gọi là phương pháp đánh giá

ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method – CVM), gọi là “ngẫu nhiên” vì các kết quả

28



phụ thuộc hay thay đổi theo các điều kiện khác nhau được đưa ra trong thị trường giả

định.

Phương pháp CVM thường được sử dụng trong các lĩnh vực như: Chất lượng

nước, chất lượng khơng khí, những nơi có hoạt động vui chơi giải trí (như câu cá, săn

bắn…) mà do một dự án nào đó sắp được triển khai gây ảnh hưởng đến chúng, việc

bảo tồn các khu rừng tự nhiên, các khu vực hoang dã, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo

tồn loài và những rủi ro đối với sức khỏe cộng đồng…

b) Ưu nhược điểm của phương pháp CVM

i.

Ưu điểm



Những người làm nghiên cứu thích phương pháp đánh giá ngẫu nhiên vì nó có

thể áp dụng cho nhiều hàng hóa mơi trường khác nhau. Bên cạnh việc ước lượng được

các giá trị sử dụng trực tiếp, gián tiếp, nó còn có thể đánh giá được giá trị không sử

dụng cụ thể là giá trị tồn tại hay giá trị lưu truyền. Như vậy, có thể thấy rằng CVM là

một phương pháp rất linh hoạt, áp dụng được cho hầu hết các loại giá trị của một hàng

hóa mơi trường hay một loại tài ngun.

CVM là một phương pháp quan trọng để ước lượng các sản phẩm dịch vụ của

tài ngun mơi trường khi khơng có thị trường tồn tại cho chúng. Thông thường, các

phương pháp định giá cần một thị trường cụ thể về giá cả của một loại hàng hóa nào

đó, để biết được các yếu tố môi trường tác động lên giá cả hàng hóa đó như thế nào?

Các nhà nghiên cứu sẽ thu thập nhiều thông tin liên quan đến đặc điểm của hàng hóa

đó cùng với yếu tố mơi trường. Sau quá trình xử lý số liệu sẽ xác định được mức độ

ảnh hưởng của yếu tố môi trường lên giá cả hàng hóa đó. Từ đó xác định được tổng lợi

ích hay thiệt hại do yếu tố mơi trường mang lại. Các dạng phương pháp này có thể kể

đến là: Hedonic Pricing Method, Replacement Cost Method…Đối với các giá trị

không sử dụng như giá trị tồn tại, giá trị lưu truyền, bảo tồn đa dạng sinh học…khơng

có một thị trường nào quyết định giá cả hàng hóa, vì thế muốn định giá hàng hóa

khơng có phương pháp nào ngồi việc sử dụng phương pháp CVM. Một thị trường giả

định sẽ được xây dựng nên để ước lượng cho các loại giá trị đó. Các kết quả sẽ thay

đổi tùy thuộc vào các điều kiện giả thiết đặt ra trong thị trường giả định.

ii.



Nhược điểm



29



Các kết quả nghiên cứu khi sử dụng phương pháp CVM phụ thuộc và các điều

kiện của thị trường giả định, cách lấy mẫu, cách thức điều tra phỏng vấn một số sai

lệch thường gặp trong việc ứng dụng phương pháp CVM là:

-



Sai lệch do chiến thuật (Strategic Bias): nếu người được điều tra cho là các giá

trị mà họ đưa ra có thể có một ảnh hưởng nào đó đến chính sách sẽ đề ra và có

ảnh hưởng đến quyền lợi của họ thì họ có thể đưa ra (trả lời) quá cáo hay quá



-



thấp so với giá trị thực sự của họ.

Sai lệch xuất phát từ các giả định chúng ta sử dụng khi xây dựng các hoạt cảnh



-



ban đầu.

Sai lệch tổng thể và bộ phận: người được phỏng vấn cũng có thể hiểu nhầm vấn

đề được hỏi trong quá trình điều tra phỏng vấn và có thể đưa ra các giá trị đánh



-



giá một bộ phận của vấn đề mà ta quan tâm thành giá trị tổng thể và ngược lại.

Sai lệch giữa mức sẵn lòng trả và sẵn lòng nhận đền bù.

Sai lệch do điểm khởi đầu khi xây dựng các bảng điều tra mức sẵn lòng trả.

Bên cạnh đó cũng có thể có những sai lệch do thơng tin cấp cho người được

điều tra, sai lệch do sự không hiểu giữa người đi điều tra và người được điều

tra. Sai lệch do cách chọn phương thức đóng góp tiền khi hỏi về mức sẵn lòng

trả. Ngồi ra, để thực hiện được một nghiên cứu CVM đúng qui cách cần phải

có nhiều thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực.



c) Các nội dung quan trọng trong bảng câu hỏi



Bảng câu hỏi trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

thường là những bản câu hỏi tương đối dài và khó hiểu, đây là một trong những lý do

mà các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu hoài nghi về khả năng thực hiện nghiên

cứu CV ở các nước đang phát triển, nơi mà trình độ dân trí còn quá thấp. Ngay cả ở

các quốc gia phát triển cũng khơng phải là ngoại lệ. Vì thế, việc xác định các nội dung

then chốt trong bảng câu hỏi nhằm làm cho bảng câu hỏi chặt chẽ và dễ hiểu là một

việc làm hết sức cần thiết. Có 5 vấn đề quan trọng nhất trong bảng câu hỏi CVM bao

gồm:

i.



Lựa chọn giữa mức sẵn lòng trả (WTP) hay sẵn lòng nhận đền bù (WTA)?

WTP thường được dùng trong các trường hợp mà ở đó chất lượng mơi trường



cải thiện hoặc để bảo tồn một loại tài nguyên nào đó…và người dân sẽ sẵn lòng trả bao

nhiêu tiền để các dự án đó được tiến hành.

30



WTA thường được hỏi khi có một dự án mà có thể gây ơ nhiễm một vùng nào

đó, và người ta muốn biết người dân sẽ nhận thức mức đề bù là bao nhiêu để chấp

nhận sống chung với ô nhiễm hay chấp nhận đề bù bao nhiêu khi dự án đó làm mất đi

một khu rừng, mất đi lồi động vật mà họ thích ngắm…

Jack L Knestch, 1983, cho rằng về mặt lý thuyết, mức sẵn lòng trả và nhận đền

bù có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn. Khi hỏi về mức sẵn lòng

trả, người được hỏi thường trả lời mức sẵn lòng trả tối thiểu nhưng khi được hỏi về

mức sẵn lòng nhận đền bù, họ sẽ trả lời mức nhận đền bù tối đa vì mức sẵn lòng trả

chịu ảnh hưởng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn mức sẵn lòng

nhận đền bù thì khơng ảnh hưởng. Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích và

lựa chọn của con người khơng hồn tồn giống nhau.

Thơng thường thì mức sẵn lòng trả được ước lượng nhiều hơn trong các nghiên

cứu. Nói như vậy khơng có nghĩa là hỏi WTP sẽ phản ánh đúng giá trị của tài nguyên

thiên nhiên vì WTP thường là mức tối thiểu, nhưng nếu hỏi WTA sẽ đánh giá quá cao

giá trị của tài nguyên hoặc giá trị của ô nhiễm.

ii. Tình huống giả định



Tình huống giả định là nội dung then chốt đối với bảng câu hỏi CV. Tình huống

giả định càng cụ thể, càng thực tế sẽ giúp cho việc phỏng vấn trở nên dễ dàng hơn và

các câu trả lời có độ tin cậy cao hơn. Các nghiên cứu CV có kết quả cao thường là

những nghiên cứu xây dựng được tình huống giả định.

iii. Cách hỏi WTP/WTA



Lựa chọn cách hỏi mức sẵn lòng trả trong các nghiên cứu sử dụng phương pháp

CVM cũng là một điều đáng quan tâm đối với các nhà nghiên cứu, vì với những cách

hỏi mức sẵn lòng trả khác nhau có những ưu, nhược điểm khác nhau, cách xử lý số

liệu khác nhau và có những sai lệch nhất định. Vì vậy, phải lựa chọn phương pháp hỏi

phù hợp nhất. Có 4 phương pháp hỏi mức sẵn lòng trả là:

-



Open - Ended Question (câu hỏi mở)

Người trả lời sẽ được hỏi câu “anh/chị sẵn lòng trả bao nhiêu tền để…” và số

tiền bao nhiêu là do người trả lời suy nghĩ và nói ra, phỏng vấn viên khơng đưa

ra trước một mức giá nào cả. Ba trường hợp có thể xảy ra khi sử dụng phương

pháp này là:

31



+ Tiết lộ mức WTP thật: người trả lời có thể phát biểu mức WTP cực đại

thật của họ, mức này phản ánh đúng giá trị thực tế tài nguyên đó mạng

lại cho họ. Đây là điều mà tất cả các nhà nghiên cứu CVM đều mong

muốn.

+ Đánh giá thấp: điều này có thể diễn ra do các nguyên nhân khác nhau.

Nếu người trả lời cảm thấy mức trả lời của họ có thể liên quan đến mức

trả thực tế, nhưng thực tế họ muốn trả thấp hơn như vậy, họ sẽ đưa ra

một mức giá thấp (Samuaelson, 1954) nhưng trên thực tế giá trị mà tài

nguyên đó mang lại cho họ cao hơn rất nhiều (Marwell và Amé, 1981;

Brubaker, 1982)

+ Tính khơng quen với câu hỏi mở có thể làm cho người được phỏng vấn

trả lời theo chiến lược khơng thích rủi ro làm xu hướng phát biểu mức

sẵn lòng trả thấp, hoặc người trả lời khơng biết mức sẵn lòng trả là bao

nhiêu để trả lời.

- Payment Card

Một loạt các mức giá được viết lên thẻ và người trả lời được yêu cầu

chọn một mức giá. Cách hỏi này thường đem lại mức sẵn lòng trả thấp,

vì trong một loạt mức giá được ghi trên thẻ thì các mức giá thấp thường

được người trả lời chú ý hơn.

- Bidding Games



Phỏng vấn viên đưa ra mức giá đầu tiên và yêu cầu người được phỏng

vấn trả lời. Nếu được trả lời “Có”, phỏng vấn viên sẽ đưa ra giá ngày

càng cao cho đến khi người được phỏng vấn trả lời “Không” và ngược

lại. Đây chính là mức sẵn lòng trả tối đa của người được phỏng vấn. Với

cách hỏi này, thông thường trong các nghiên cứu, người tổ chức thường

chia số mẫu phỏng vấn thành nhiều nhóm và mỗi nhóm sẽ có mức giá

khởi đầu khác nhau.

Nhược điềm lớn nhất của phương pháp này là các sai lệch xảy ra trong

mức giá khởi đầu. Mức giá khởi đầu quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng đến

kết quả cuối cùng của nghiên cứu.

- Dichotomous Choice hay Close-Ended Question (câu hỏi đóng)



Có 2 cách hỏi:

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×