Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phụ lục 1. Bảng Câu Cỏi Điều Tra Người Dân Xã Ngãi Tứ

Phụ lục 1. Bảng Câu Cỏi Điều Tra Người Dân Xã Ngãi Tứ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo thống kê, từ đầu năm đến tháng 7/2014, toàn tỉnh Vĩnh Long đã xảy ra 20

điểm sạt lở, có khoảng 1.200 m bờ sông kênh rạch bị mất đất cùng hàng trăm hộ dân bị

ảnh hưởng. Một trong những nơi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là huyện Tam Bình,

tỉnh Vĩnh Long. Vấn đề đáng quan tâm hiện nay là Chùa Phước Hậu thuộc xã Ngãi Tứ,

huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long là khu di tích lịch sử Quốc Gia đang nằm trên đoạn

sạt lở và có nguy cơ bị sụp đổ bất cứ lúc nào.

Trước thực trạng này, các tăng ni chùa Phước Hậu và người dân sinh sống xung

quanh cảm thấy rất bất an khi tình trạng sạt lở lấn sâu vào bờ ngày càng nghiêm trọng.

Một trong những biện pháp ngăn chặn sạt lở đất hiệu quả nhất là xây dựng đê bao kiên

cố tại các địa điểm sạt lở và có nguy có bị sạt lở. Tuy nhiên, hiện nay, đa số các biện

pháp chống xói mòn được ưu tiên làm tại chùa là “cơng trình cứng” dùng móng đá

nhân tạo (cừ, kè, đập, đê…) đã bị rạn nứt và lở rất sâu phần móng cơng trình. Vì các

“cơng trình cứng” tạo ra bề mặt phẳng rộng và có tính phản xạ mạnh, hiện tượng này

tạo sóng lừng hoặc nhồi lắc khơng cho phù sa bồi đắp lên bờ. Ngồi ra, sóng lừng đi

thẳng vào bề mặt cơng trình, phản xạ, cộng hưởng và phá huỷ cơng trình. Do đó, kinh

phí duy tu, bảo trì, sửa chữa rất lớn. Vì vậy chính quyền địa phương và ban quản lý

khu di tích cần tìm ra biện pháp hiệu quả nhất để khắc phục tình trạng sạt lở này.

Được biết, trước những mặt hạn chế của “công trình cứng” ơng Jean Cornic một



nhà hàng hải người Pháp đã phát minh ra công nghệ Stabiplage nhằm bảo vệ bờ

biển, cửa sông, cảng biển. Công nghệ Stabiplage được gọi là “cơng nghệ mềm” có thể

khắc phục được những hạn chế của các giải pháp “công nghệ cứng”. Với mục tiêu

khôi phục tự nhiên, công nghệ Stabiplage phù hợp với nguyên lý mô phỏng thiên

nhiên, tái tạo biển, bờ sông xói lở trở về hiện trạng ban đầu nên khơng gây hậu quả bất

lợi cho mơi trường.

Đề án chống xói lở bằng cơng nghệ Stabiplage đã được thực hiện thí điểm tại xã

Lộc An tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu với chiều dài 800 m, đến thời điểm hiện nay công trình

đã hồn thành và bước đầu cho kết quả tốt. Nhận thấy rằng, cơng nghệ Stabiplage

cũng có thể ứng dụng tại bờ sông chùa Phước Hậu. Tuy nhiên, để ứng dụng cơng nghệ

này đòi hỏi kinh phí rất lớn nên chưa thực hiện được. Vì vậy, để đánh giá mức độ đồng

tình của người dân và đánh giá tiềm năng của dự án tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Đánh Giá Mức Sẵn Lòng Trả Của Người Dân Về Biện Pháp Chống Sạt Lở Bằng

9



Cách Ứng Dụng Công Nghệ Stabiplage Tại Chùa Phước Hậu, Xã Ngãi Tứ, Huyện

Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá mức sẵn lòng trả người dân về biện pháp chống sạt lở bằng cách ứng

dụng công nghệ Stabiplage tại chùa Phước Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh

Vĩnh Long.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

-



Mô tả thực trạng sạt lở hiện nay tại chùa Phước Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam



-



Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Đánh giá nhận thức của người dân về tình trạng sạt lở.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả.

Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình cho biện pháp khắc phục sạt lở bằng



-



cách ứng dụng công nghệ Stabiplage.

Đề ra các biện pháp làm giảm các tác hại do tình trạng sạt lở gây ra.

1.3. Phạm vi nghiên cứu



1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ dân sinh sống ở khu vực xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

1.3.2 Địa bàn nghiên cứu

Vì chùa Phước Hậu thuộc xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình nên người dân khu vực

sẽ hiểu rõ hơn giá trị văn hóa - lịch sử của chùa và tình trạng sạt lở hiện nay. Do đó,

cần thực hiện những nghiên cứu để đề ra các giải pháp khắc phục hậu quả và ngăn

chặn sạt lở nhằm bảo tồn khu di tích lịch sử Quốc Gia. Nên đề tài được tiến hành thực

hiện tại xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

1.3.3 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng sạt lở đất tại chùa Phước Hậu, xã Ngãi

Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình của

người dân cho biện pháp khắc phục, làm giảm hiện tượng sạt lở bằng cách ứng dụng

công nghệ Stabiplage.

1.3.4 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 20/09/2014 đến ngày 25/12/2014

1.3.5 Cấu trúc của khố luận

10



Luận Văn Gồm 5 chương:

Chương 1: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên

cứu và trình tóm tắt bố cục luận văn.

Chương 2: Giới thiệu về các tài liệu, thông tin, các ứng dụng có liên quan đến

vấn đề nghiên cứu. Phần tổng quan địa bàn nghiên cứu: giới thiệu địa bàn nghiên cứu

bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh

Vĩnh Long.

Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái niệm,

định nghĩa và phương pháp được sử dụng trong đề tài.

Chương 4: Trình bày các kết quả đạt được.

Chương 5: Dựa vào kết quả và thảo luận ở chương 4 đưa ra kết luận và kiến nghị.



CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN



2.1. Tổng quan tài liệu tham khảo

Để tiến hành thực hiện đề tài này, có nhiều tài liệu có liên quan được tham khảo

bao gồm những đề tài tốt nghiệp của các khóa trước, các bài giảng của thầy cơ có

liên quan đều là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài. Dưới đây là một số tài

liệu tham khảo:

Nhóm tác giả Hồng Văn Huân và Phạm Chí Trung, 2008, đã nghiên cứu đề

xuất khả năng ứng dụng khoa học công nghệ mới vào bảo vệ bờ cửa sông, ven biển

khu vực Gành Hào - Bạc Liêu.

Tác giả Nguyễn Thị Sinh, 2009, đã nghiên cứu đề tài đánh giá thực trạng xói lở

bờ biển Việt Nam và giải pháp Stabiplage. Đề tài nêu rõ thực trạng xói lỡ bờ biển

Việt Nam, đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm và những giải pháp khắc

phục các vấn đề gặp phải trong việc ứng dụng cơng nghệ Stabiplage chống xói lở

bờ biển ở BR - VT và Phan Thiết.

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Ánh, 2010, đã nghiên cứu đề tài xây dựng mơ hình

phòng chống sạt lở bờ sông cho sông Tiền, sông Hậu. Đề tài đã nêu ra rõ thực trạng

11



sạt lở, xói mòn ở sông Tiền và sông Hậu, đồng thời làm rõ những nguyên nhân gây

ra sạt lở và đưa ra những giải pháp để khắc phục, làm giảm hậu quả do sạt lở gây

ra. Đặc biệt là đưa ra những mô hình kỹ thuật chống sạt lở mới có thể áp dụng tại

sông Tiền và sông Hậu.

Tác giả Lê Thị Hoa Ban, 2013, đã nghiên cứu đề tài đánh giá mức sẵn lòng trả

của người dân về biện pháp thích ứng với hiện tượng biển xâm thực tai xã Phước

Thuận huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Kết quả cho thấy được có 64% số

người được phỏng vấn đồng ý đóng góp cho dự án. Những yếu tố ảnh hưởng đến

mức sẵn lòng trả là sự hiểu biết, học vấn, thu nhập, mức giá, tuổi. Tổng mức sẵn

lòng đóng góp của người dân để xây dựng bờ kè mềm là 4,787 tỷ đồng, đạt 40%

chi phí xây dựng dự kiến.

Tác giả Craig E. Landry, 2011, đã nghiên cứu về các vấn đề biển xâm thực tại

Mỹ, nêu ra rằng hậu quả của nước biển dâng đó chính là hiện tượng biển xâm thực.

Đề tài sử dụng biện pháp CVM để định giá giá trị về mặt kinh tế do bãi biển mang

lại đối với người dân khu vực. Đề tài sử dụng mơ hình probit để ước lượng. Kết

quả cho thấy khi mức độ biển xâm thực tăng (từ 95 feet) thì giá sẵn lòng trả là

4,210$ (đối với mơ hình log-linear) và tăng 8,800$ (đối với mơ hình semi-log).

2.2 Tổng quan huyện Tam Bình

2.2.1 Lịch sử hình thành

Ngày 29 tháng 06 năm 1916, Thành lập Quận Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long

do đổi tên từ quận Chợ Mới, gồm 3 tổng: Bình Chánh với 5 làng, Bình Phú với 8 làng,

Bình Thới với 5 làng. Ngày 18 tháng 12 năm 1916, quận Tam Bình nhận thêm phần

đất của quận Cái Nhum do bị giải thể.

Ngày 11 tháng 08 năm 1942, giải thể tổng Bình Chánh, nhập làng Chánh An

vào làng An Phước của tổng Bình Quới, quận Vũng Liêm, các làng Chánh Lợi, Chánh

Hiệp, Chánh Hoà và Tân Long Hội nhập vào tổng Bình Thới. Ngày 20 tháng 03 năm

1956, quận Tam Bình thuộc tỉnh Tam Cần. Ngày 22 tháng 10 năm1956, quận thuộc

tỉnh Vĩnh Long, bao gồm tổng Bình Thuận với 4 xã, tổng Bình Phú với 2 xã, tổng

Bình Định với 3 xã. Sau năm1965, các tổng mặc nhiên bị giải thể.



12



Sau 30 tháng 04 năm 1975, Tam Bình là huyện của tỉnh Cửu Long. Ngày 11

tháng 03 năm 1977, huyện nhận thêm phần đất của huyện Bình Minh bị giải thể. Ngày

29 tháng 09 năm 1981, tái lập huyện Bình Minh. Ngày 27 tháng 03 năm 1985, lập xã

Long Phú trên cơ sở tách đất xã Song Phú. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu

Long tách thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Huyện Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh

Long.

Ngày 01 tháng 08 năm 1994, lập mới các xã: Phú Thịnh, Tân Phú, Tân Lộc,

Hoà Lộc, Phú Lộc, Hồ Thạnh.

Cuối năm 2004, huyện Tam Bình có thị trấn Tam Bình và 16 xã: Bình Ninh,

Loan Mỹ, Ngãi Tứ, Song Phú, Phú Thịnh, Tân Lộc, Long Phú, Mỹ Thạnh Trung,

Tường Lộc, Hòa Thạnh, Hòa Hiệp, Hòa Lộc, Mỹ Lộc, Phú Lộc, Hậu Lộc và Tân Phú.

2.2.2 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Hình 2.1. Bản Đồ Huyện Tam Bình



13



(Nguồn: http://www.gis.downappz.com/vn/vinh-long/tam-binh.html)

Tam Bình là một huyện của tỉnh Vĩnh Long, nằm về phía Nam cách trung tâm

Thành phố Vĩnh Long 32 km, cách trung tâm TP.Hồ Chí Minh 162 km, và trung tâm

Tp.Cần Thơ 28 km. Phía Bắc huyện Tam Bình giáp huyện Long Hồ, phía Đơng là các

huyện Mang Thít và Vũng Liêm, phía Tây là huyện Bình Tân, phía Nam là huyện Trà

Ơn đều cùng tỉnh Vĩnh Long. Ở phía Tây Nam là sơng Hậu, một phần phía Bắc giáp

thị xã Đồng Tháp.

b) Đặc điểm khí hậu và thủy văn

Tam Bình mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 26

-27°C (tháng 4 nóng nhất: 36°C, tháng giêng nhiệt độ thấp nhất: 29°C), bình qn

hằng năm có 2.600 giờ nắng, ẩm độ trung bình 80 - 83% (độ ẩm tối đa khoảng 92% và

tối thiểu khoảng 62%). Hàng năm có 2 mùa rõ rệt:

-



Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, đây là mùa nắng gay gắt,



-



thường gây ra hạn hán, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.

Mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình có khoảng 115 ngày mưa, với

lượng mưa khoảng 1400 – 1500 mm. hàng năm, lũ thường xảy ra vào mùa này.

Tam Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ quanh năm, có chế độ nhiệt



tương đối cao và bức xạ dồi dào, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và phát triển các

vườn cây ăn trái vùng nhiệt đới. Về thủy văn chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều

khơng đều của biển Đơng, có sơng Mang Thít là con sơng lớn đi qua huyện và 328 km

sông rạch vừa và nhỏ. Mực nước và biên độ triều khá cao, cường độ truyền triều

mạnh, có hệ thống sơng ngòi, kênh rạch chằng chịt nên tiềm năng tự chảy cho cây

trồng khá lớn, khả năng tiêu rút tốt nên ít bị tác hại do mùa lũ hàng năm gây ra. Hiện

tại, Tam Bình đã phát triển 3 vụ trồng lúa trong năm, thuận lợi cho cơ giới hóa thâm

canh tăng vụ.

c) Đặc điểm địa hình



14



Địa hình của huyện Tam Bình tương đối bằng phẳng cao độ giữa các vùng

chênh lệch 0,3 - 0,5 m từ phía Đơng và Đơng bắc và thấp dân về phía Tây và Tây

Nam, có cao trình 0,5 - 0,7 m so với mực nước biển nên rất thuận lợi cho dòng chảy

của nước phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp, nhất là phát triển các vườn cây

ăn trái.

d) Tài nguyên nước

Trong địa bàn, Huyện có 2 nguồn nước chính: Nước ngầm và nước mặt. Nguồn

nước ngầm được phân bổ ở độ sâu 200 - 270 m với hàm lượng sắt cao 4 - 15 mg/lít.

Nước mặt có được nhờ vào các sông rạch và nước mưa.

Một số nguồn nước mặt ở các kênh rạch trên địa bàn Huyện đều có dấu hiệu ô

nhiễm như các nhánh sông Tiền,sông Hậu, sông Rạch Tra, sơng Vĩnh Xn có các

thơng số chỉ thị đều không đạt quy chuẩn cho phép (pH, DO, BOD, COD, clorua, dầu

mỡ). Ngun nhân ơ nhiễm có thể do ảnh hưởng của hoạt động sản xuất nông nghiệp

và các hoạt động dân sinh từ các khu dân cư phân bố dọc theo các tuyến sông. Việc sử

dụng nước để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất tăng dần theo từng năm cộng với việc

nguồn nước mặt đang bị ô nhiễm, nên việc khai thác nước ngầm ngày càng tăng mạnh.

e) Tài ngun đất

Tổng diện tích đất tồn huyện là 290,60 km2 và được chia ra thành ba nhóm:

-



Đất sản xuất nơng nghiệp chủ yếu là trồng lúa, còn lại là cây lâu năm, cây

ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày chiếm 30%, khơng có đất



-



lâm nghiệp.

Đất chuyên dùng

Đất thổ cư và đất chưa sử dụng



Về địa chất cấu tạo đất, Tam Bình có loại đất mềm: Đất sét, đất cát và cát pha

tạp chất hữu cơ, về thổ nhưỡng có 3 nhóm đất: Đất phèn 17.849 ha (chiếm 67,51%),

đất phù sa 83.845 ha (32,06%) và đất giồng khoáng sản rất quý giá – Đất sét với trữ

lượng lớn thuận lợi dùng làm nguyên liệu cho việc xây dựng các nhà máy sản xuất

gạch, ngói, gốm mỹ nghệ xuất khẩu…

f) Tài nguyên rừng

15



Sản phẩm rừng chủ yếu được trồng theo kiểu phân tán tổng số có 243,7 nghìn

cây (2013) chủ yếu là tràm và bạch đàn để lấy gỗ. Tre, nứa, luồng khai thác có khoảng

56,3 nghìn cây.

g) Tài ngun sinh vật

Tam Bình khơng có rừng tự nhiên nên tài nguyên sinh vật không phong phú và

đa dạng. Chủ yếu là các loại giống cây trồng vật ni như heo, bò, gà, vịt, các loại cây

ăn quả: cam, dừa, mía, lúa, rau, dưa hấu, dứa, … Đây là những loại cây trồng và vật

ni nên tính đa dạng sinh học rất kém.

2.2.3 Điều kiện kinh tế xã hội

a) Điều kiện kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tăng lên theo chiều hướng tích cực. Giá trị sản

xuất nông – lâm – ngư nghiệp: 3.177,369 tỷ đồng tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, nơng nghiệp: 2.958,003 tỷ tăng 3,3%, thủy sản: 203,393 tỷ đồng giảm 7,9%,

lâm nghiệp:15,973 tỷ đồng. Công nghiệp: 512,371 tỷ đồng tăng 18,2% so với cùng kỳ

năm trước. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ xã hội 2.896,136 tỷ đồng tăng 18,2% so với

cùng kỳ năm trước (Niên Giám Thống Kê, 2014).

Thu nhập bình quân đầu người là 22,230 triệu đồng/người/năm tăng 12,6% so

với cùng kỳ năm trước.

b) Dân số

Dân số của huyện là 155.476 người, với 40.013 hộ dân. Mật độ dân số là 535

người/km2.

Dân cư phân bố chủ yếu ở thành thị với mật độ 3.053 người/km 2 và phân bố

dọc theo quốc lộ và các khu chợ.

c) Giáo dục - đào tạo

Trên địa bàn huyện có 75 trường học. Trong đó, có 21 trường mẫu giáo, 35

trường tiểu học,12 trường trung học cơ sở và 7 trường phổ thông trung học.

Huyện đang thực hiện đề án xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia hiện đã có 16

trường đạt chuẩn quốc gia chiếm 21,3%. Kết quả giáo dục - đào tạo được duy trì: xét

và cơng nhận hồn thành chương trình bậc Tiểu học đạt 100%, tốt nghiệp THCS

99,79%, tốt nghiệp Trung học phổ thơng 99,1%. Có 17/17 xã, thị trấn đạt phổ cập giáo

dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS.

16



d) Giao thông

Các công trình giao thơng tiếp tục được đầu tư xây dựng, tổng nguồn vốn xây

dựng cơ bản giải ngân: 96,179 tỷ đồng, đưa vào sử dụng 13 cơng trình giao thơng

nơng thôn, dự kiến cuối năm sẽ nghiệm thu và đưa vào sử dụng tiếp 4 cơng trình.

e) Y tế

Mạng lưới y tế được mở rộng phủ kín đến tận ấp – khu, cơng tác chăm sóc và

bảo vệ sức khỏe nhân dân luôn được chú trọng, chất lượng khám chữa bệnh ngày càng

được nâng lên. Trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện, 1 phòng khám đa khoa khu vực và

17 trạm y tế xã, thị trấn trong đó có 7 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.

2.3. Tổng quan xã Ngãi Tứ, huyện Tam bình, tỉnh Vĩnh Long

Theo Niên giám thống kê 2014, Xã Ngãi Tứ có diện tích 26,13 km 2, dân số toàn

xã là 14.291 người và có khoảng 3.690 hộ dân trên tồn xã. Mật độ phân bố dân cư là

547 người/km2.

Xã Ngãi Tứ được chia làm 9 ấp: Bình Ninh, Bình Quý,An Phong, Nhứt, Ngãi

Cái, Đông Thạnh, Đông Phú,An Thới, Đông Hậu.

Các ấp trong xã Ngãi Tứ đa số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp là 254.037 triệu đồng giảm 0,4%. Tổng giá trị sản

xuất công nghiệp 36.668 triệu đồng tăng 9,3 %. Tổng mức bán lẻ và dịch vụ xã hội là

117.664 triệu đồng tăng 18,8 % so với cùng kỳ năm trước.

2.4. Tổng quan chùa Phước Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

Chùa Phước Hậu, ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

là một Tổ đình có tầm vóc trong tỉnh Vĩnh Long nói riêng và miền Nam Việt Nam nói

chung. Chùa đã trực tiếp hay gián tiếp sản sinh ra nhiều vị Tăng ni tài đức, có nhiều

cống hiến cho tỉnh Vĩnh Long và có thể là cho cả nước Việt Nam. Chùa án ngữ ở một

vị trí địa lý đẹp. Trước mặt là dòng sơng Hậu mênh mông, là kênh giao thông quan

trọng của quốc gia, sau lưng là quốc lộ 54 nối liền ba tỉnh Vĩnh Long – Cần Thơ – Trà

Vinh.

Chùa Phước Hậu chính thức dựng nên năm 1894, do ơng Hương cả làng Đông

Hậu là Lê Ngọc Đán (thường gọi là Cả Gồng) xây, tuy có xin phép quan chủ tỉnh

nhưng chỉ là một ngôi chùa nhà. Khoảng năm 1910, con gái thứ Tám của ông bà

17



Hương cả là Lê Thị Huỳnh đã sửa sang ngơi chùa và cho phép có sự sinh hoạt tín

ngưỡng, ngơi chùa gia đình trở thành chùa làng Đông Hậu.

Năm 1961, do thời gian chùa Phước Hậu bị xuống cấp. Lúc bấy giờ, Hoà

thượng Khánh Anh đang làm Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Hoà thượng

đang chuẩn bị trùng tu chùa Phước Hậu thì viên tịch.

Hòa thượng Thiện Hoa kế thế trụ trì chùa Phước Hậu và bắt đầu xây dựng lại

ngôi chùa. Tuy danh nghĩa là trụ trì, nhưng Hồ thượng Thiện Hoa là Viện phó, rồi

Viện trưởng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nên phải giao chùa Phước Hậu

cho Hòa thượng Thích Hồn Phú xây dựng tháp Đa Bảo thờ xá lợi đức Phật Thích Ca

và các vị tổ sư tiền bối hữu cơng. Ngồi ra, Thượng tọa Hồn Phú còn xây dựng nhiều

cơng trình xung quanh chùa Phước Hậu.

Chùa Phước Hậu hiện nay gồm nhiều cơng trình : chính điện, trung điện, hậu

tổ, tàng kinh các, hệ thống bảo tháp… Trừ chính điện là cơng trình xây năm 1962,

bằng vật liệu hiện đại như bê-tơng, xi-măng, gạch ngói, gỗ… theo mơ hình kiến trúc

kết hợp Đơng phương và Tây phương. Còn các cơng trình khác là các bộ phận của

ngơi chùa cũ, có từ năm 1894, tất nhiên có sửa chữa tu bổ.

Chính điện chùa Phước Hậu hình chữ “sơn”, nhìn xuống dòng sơng Ba Sác

(một nhánh của sơng Hậu). Mặt tiền chùa xây theo kiểu cổ lầu, giữa trang trí mơ hình

ngơi tháp bảy tầng cao chót vót. Nội điện rộng rãi trang trí đơn giản, nền lót gạch

bơng, lại có nhiều cửa ra vào nên trơng trống trải. Bàn thờ giữa trang trí tượng đức

Phật Thích Ca dạng đang tọa thiền dưới gốc bồ đề. Tầng dưới là tượng Thái tử Tất Đạt

Đa sơ sinh và bộ tượng Tây Phương Tam Thánh: Di Đà, Quan Âm và Thế Chí. Ưu thế

của mơ hình này là cùng lúc có thể chứa hàng trăm người hành lễ, hai bên tả hữu ban

có hai bàn thờ, đa số là tượng của chùa Đơng Hậu cũ còn để lại như tượng Tiêu Diện

Đại Sĩ, Hộ pháp Di Đà, Địa Tạng, Chuẩn Đề và “Thập lục La Hán”, bằng gỗ hoặc

bằng gốm Cây Mai (Chợ Lớn). Phước Hậu cổ tự là tổ đình Phật giáo dòng Lâm Tế

(Chúc Thánh). Dòng Phật giáo này từ Hội An vào Quảng Ngãi rồi vào Trà Ôn. So với

các thiền phái khác thì thiền phái Lâm Tế chi nhánh Chúc Thánh đến Vĩnh Long khá

muộn, nhưng dòng thiền này đào tạo rất nhiều tăng ni tài đức trong giai đoạn chấn

hưng và giai đoạn thống nhất Phật giáo. Riêng trong giai đoạn đấu tranh giải phóng

18



dân tộc, chùa Phước Hậu là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng ngay trong lúc khó khăn

nguy hiểm nhất. Nhiều tu sĩ tu học ở chùa, đã tuân lời dạy dỗ của các vị Hòa thượng

nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc, đã “cởi áo cà sa, khoác áo chiến bào” và có nhiều

vị đã hy sinh trên chiến trường.

Ngày nay, ngôi chùa là một địa điểm du lịch rất nổi tiếng ở khu vực bởi kiến

trúc cổ xưa, cảnh quan đẹp và bề dày lịch sử của nó. Chùa Phước Hậu đã được Bộ Văn

hóa Thơng tin cơng nhận là Di tích lịch sử cách mạng ngày 25 tháng 01 năm 1994

(Quyết Định số 152 QĐ ngày 25/1/1994).

2.5 Tổng quan hiện tượng sạt lở xói mòn

2.5.1 Hiện tượng sạt lở, xói mòn tại Đồng Bằng Sơng Cửu Long

Khi nước lũ bắt đầu dâng cao ở các huyện đầu nguồn như Đồng Tháp và An

Giang. Cùng lúc đó, tình trạng sạt lở cũng gia tăng mạnh ở các tỉnh ĐBSCL; trong đó

Đồng Tháp, Hậu Giang, Vĩnh Long liên tục ghi nhận các vụ sạt lở nghiêm trọng

Các vụ sạt lở mới nhất được ghi nhận vào cuối tháng 7/2014 tại Hậu Giang. Cụ

thể là tuyến bờ bao bề mặt rộng 6m, dài 24m đã sạt lở xuống kênh Thạnh Đông, thuộc

xã Phú An, huyện Châu Thành, làm tuyến giao thông đường bộ khu vực này bị cắt đứt

hoàn toàn. Chỉ tính riêng tại huyện Châu Thành, đã xảy ra 21 vụ sạt lở từ đầu năm đến

nay, làm mất 3.700 m² đất, gây thiệt hại gần 700 triệu đồng. Theo Sở NN-PTNT tỉnh

Hậu Giang, tồn tỉnh có hơn 100 điểm dọc các bờ sơng có nguy cơ sạt lở cao. Các

điểm này tập trung ở tuyến sông Cái Côn, Mái Dầm, Cái Dầu, Ngã Sáu, Nàng Mao…

Trong khi đó, tỉnh Đồng Tháp cũng phát đi thơng báo cơng bố tình trạng khẩn cấp sạt

lở đất bờ sông Tiền đoạn chảy qua khu vực phường 11, Thành phố Cao Lãnh. Tại khu

vực phường 11 xuất hiện nhiều vết nứt có nguy cơ sạt lở, đe dọa tính mạng và tài sản

của hàng trăm hộ dân. UBND tỉnh Đồng Tháp đã khẩn trương di dời nhà cửa, tài sản

trong vùng nguy hiểm đến nơi an toàn; cắm biển cảnh báo khu vực sạt lở để ghe tàu,

xe tải qua lại tránh xa và hạn chế tốc độ, tải trọng khi qua lại khu vực này; xem xét

thực hiện hỗ trợ ngay các hộ bị sạt lở, di dời theo chính sách hiện hành. Đáng chú ý là

điểm sạt lở này rất gần với một kho chứa 5 triệu lít xăng dầu. Đồng Tháp cũng nhanh

chóng phê duyệt xây dựng cơng trình khẩn cấp khắc phục sự cố sạt lở khu vực với

tổng mức vốn hơn 9 tỷ đồng do Sở NN-PTNT làm chủ đầu tư.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phụ lục 1. Bảng Câu Cỏi Điều Tra Người Dân Xã Ngãi Tứ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×