Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sở hữu

Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sở hữu

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Doanh nghiệp đã thực hiện đầu tư phù hợp với loại hình sản xuất kinh

doanh hay chưa? Cần có hoạt động tiếp nhận và xử lý thông tin TCDN để xác

định về tính hiệu quả của các dự án đầu tư.

+ Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào? Cơ cấu vốn chủ sở hữu/vốn vay là như thế

nào? Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu

như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất. Liệu doanh nghiệp có

nên sử dụng tồn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức

đi vay và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của

doanh nghiệp.

+ Sự quản lý, điều hành hoạt động tài chính đã diễn ra hợp lý và hợp pháp

chưa? Có sự tư lợi ở đây hay không? Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với

các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ. Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha

của các dòng tiền.

Vậy, trên cơ sở sự thống kê, ghi chép và công khai thông tin, bộ máy giám

sát, quản lý và điều hành (do chủ sỡ hữu doanh nghiệp xây dựng) có thể phân

tích tài chính một cách tồn diện nhất, về khả năng thanh toán, khả năng cân đối

vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể

dự đốn về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh

nghiệp trong tương lai. Từ đó, chủ sở hữu doanh nghiệp có thể định hướng cho

giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài

trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính.

Có thể thấy rõ hơn qua hoạt động giám sát của Ban Kiểm soát trong CTCP,

Ban kiểm soát có quyền và nhiệm vụ giám sát HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng

giám đốc trong việc quản lý, điều hành công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp,

tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh

doanh, trong tổ chức cơng tác kế tốn, thống kê và lập báo cáo tài chính; thẩm

định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của

công ty, bán cáo đánh giá công tác của Hội đồng quản trị [Điều 123 LDN 2005].

Vậy, để thực hiện các hoạt động trên, việc công khai các thông tin liên quan đến

hoạt động trên là tất yếu, nhưng là trong nội bộ công ty. Công khai ở đây được

hiểu là công khai giữa các “mắt xích” khác nhau trong bộ máy của CTCP.

6



Hay việc cơng khai lợi ích của chính thành viên Hội đồng quản trị, thành viên

Ban kiểm soát, Giám đốc hay Tổng giám đốc và người quản lý khác theo Điều

118 LDN, họ phải kê khai các lợi ích của họ với cơng ty. Các lợi ích đó như: tên

địa chỉ, trụ sở chính, ngành nghề kinh doanh, số và ngày cấp GCN ĐKKD, nơi

ĐKKD của DN mà họ có sở hữu vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm sở

hữu vốn góp hoặc cổ phần đó [Khoản 1 Điều 118], việc cơng khai đó phải được

thơng báo cho ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên và được niêm yết, lưu giữ tại

trụ sở chính của doanh nghiệp [Khoản 2 Điều 118]. Việc các chủ thể trên phải

cơng khai các lợi ích khác với lợi ích của cơng ty đảm bản hạn chế được sự tư

lợi (việc chủ thể trên sử dụng thơng tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của cơng ty

hoặc lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi). Thông qua hoạt

động công khai thông tin tại trụ sở DN, chủ sỡ hữu DN có thể bảo vệ được lợi

ích của chính mình.

Ví dụ1 2: Trong vụ việc của CTCP chế biến thủy sản Phương Nam gần đây,

việc bà Diệu Hiền với chức danh Giám đốc thực hiện một số dự án đầu tư: Nhà

máy Sản xuất nước uống Collagen Bình An, tổng vốn đầu tư là 10 triệu USD;

đầu tư 200 tỷ đồng để xây dựng Viện Nghiên cứu thủy sản Bình An, tại Khu

Cơng nghiệp Trà Nóc II, TP.Cần Thơ... Tuy nhiên, các dự án trên thực tế không

hoạt động hoặc hoạt động nhưng không mang lại lợi nhuận. Nhiều dự án đầu tư

khơng có hiệu quả như vậy, tất yếu dẫn đến thua lỗ. Câu hỏi đặt ra, các cổ đơng

khác của CTCP Phương Nam có biết được những số liệu trên trước khi vụ việc

bị phanh phui hay không. Chắc chắn rằng, các số liệu về các khoản lỗ, các khoản

thâm hụt không được công khai hoặc đã được “làm đẹp” trước khi đưa ra

ĐHĐCĐ.

1.2. Công khai TCDN trong việc khẳng định và quảng bá thương hiệu, thu

hút đầu tư

Hiện nay, mở cửa thông tin được xem là một hình thức để quảng bá thương

hiệu của DN. Việc cơng khai TCDN được xem là một tiêu chí quan trọng để các

nhà đầu tư, người cho vay hay các ngân hàng đánh giá xem có nên đầu tư/cho

vay hay khơng.

2



Những dự án chết yểu của nữ đại gia Diệu Hiền, http://danviet.vn/thoi-su/nhung-du-an-chet-yeu-cua-nu-dai-



gia-dieu-hien/79895p1c24.htm



7



Theo quy định của pháp luật, đối với phát hành trái phiếu, theo Nghị định

90/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, một trong hai điều kiện

để phát hành trái phiếu được quy định tại Điều 13 đó là: theo báo cáo tài chính

thì kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành

phải có lãi. Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4

hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểm tốn thì

phải có:

- Báo cáo tài chính được kiểm tốn của năm trước năm liền kề với kết quả

hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi;

- Báo cáo tài chính q gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

có lãi được kiểm tốn (nếu có);

- Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty

phê duyệt theo Điều lệ hoạt động của công ty.

Báo cáo tài chính (BCTC) có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc cung

cấp thông tin đối với nhà đầu tư, các tổ chức quản lý, điều hành thị trường, là

điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển hiệu quả và lành mạnh.

Công khai, minh bạch thông tin chứng tỏ được doanh nghiệp đó có kinh doanh

đúng pháp luật, đúng với ngành nghề đăng ký trong GCN ĐKKD hay khơng,

việc cơng khai minh bạch thơng tin còn chứng tỏ được tiềm lực của doanh

nghiệp. Bởi, thông qua các thông tin được công khai, mà tiêu biểu là bản báo cáo

tài chính, các nhà đầu tư có thể đánh giá được quy mơ cũng như tiềm lực của

doanh nghiệp.

Ngồi ra, trên thương trường, việc một doanh nghiệp không công khai TCDN

hoặc công khai nhưng không minh bạch chứng tỏ trong quan hệ “làm ăn” với

DN đó sẽ khơng đảm bảo được sự lành mạnh, uy tín của doanh nghiệp đó cũng

khơng cao. Do đó, cơng khai TCDN là biểu hiện cho sự “lành mạnh” của doanh

nghiệp; là sự trung thực trong kinh doanh. Khơng những vậy, cơng khai TCDN

còn biểu hiện của sự uy tín và vị thế nhất định trên thương trường.



8



Ví dụ 2:

Hoạt động cơng khai thơng tin của công ty niêm yết trên trang thông tin điện

tử: http://hnx.vn/ – Công khai – Minh bạch – Công bằng. Cụ thể là đối với hai

Công ty cổ phần Chứng khốn dần khí (PSI) và Cơng ty Cổ phần Than Hà Lầm

– Vinacomin (HLC)

CTCP Chứng khốn dầu khí, địa chỉ: Tầng 2 và 10 - Tòa nhà Hanoi

Tourist, số 18 phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội; GCN ĐKKD số: 26/UBCKGPHĐKD. Cổ phiếu của cơng ty Vinacomin chính thức lên sàn chứng khốn vào

ngày 21/7/2010. Tất cả các thơng tin được cần thiết đều có thể tìm thấy trên

trang của cơng ty trong trang web hnx.vn. Từ Bản cáo bạch, Các bản báo cáo tài

chính các năm, Báo cáo thường niên hay Thông báo mới họp, tài liệu họp

ĐHĐCĐ thường niên, Báo cái tài chính, Thay đổi GCN ĐKKD, Giải trình chênh

lệch lợi nhuận hay Thay đổi nhận sự...Việc các thông tin TCDN được công khai

sẽ giúp các nhà đầu tư đánh giá được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp

cũng như tác động vào cách ứng xử của nhà đầu tư (mua hay không mua cổ

phiếu của PSI) và thông qua cơng khai thơng tin có thể xây dựng được uy tín,

chỗ đứng trên thị trường chứng khốn, thu hút được nhà đầu tư.

CTCP Than Hà Lầm – Vinacomin, có địa chỉ: Số 1, phố Tân Lập, phường

Hà Lầm, Hạ Long, Quảng Ninh; GCN ĐKKD số: 2203001252. Cổ phiếu của

công ty Vinacomin chính thức lên sàn chứng khốn vào ngày 05/3/2009. Các

thơng tin được tìm thấy (được cơng khai) tương tự như đối với PSI.

Tuy nhiên, xem xét kỹ, CTCP Vinacomin đã không công bố thông tin trên

trang thông tin điện tử Cơng ty về Báo cáo tình hình quản trị công ty năm 2010,

Báo cáo thường niên năm 2010, Báo cáo tài chính Quý 2 và Quý 4 năm 2011,

Báo cáo thường niên năm 2011, Nghị quyết và tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông

thường niên năm 2011, Báo cáo tài chính bán niên năm 2012 đã sốt xét, Báo

cáo tài chính năm 2012 đã kiểm tốn, Báo cáo thường niên năm 2012; công bố

thông tin không kịp thời về Báo cáo tài chính Quý 1 và Quý 2 năm 2012, Báo

cáo tài chính Quý 3 và Quý 4 năm 2012, Báo cáo tài chính Quý 1, Quý 2 và Quý

3 năm 2013.



9



Do đó, Vinacomin Phạt tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) theo quy

định tại Điểm a Khoản 3 Điều 33 Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010

của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị

trường chứng khoán theo Quyết định số 243/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với Công

ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin. Việc Vinacomin không công khai thông

tin hoặc công khai không kịp thời sẽ dẫn đến cái nhìn khơng tích cực của nhà

đầu tư đối với cơng ty, từ đó ảnh hưởng đến uy tín cũng như chỗ đứng của HLC

trên trường chứng khốn.

2. Vai trò của cơng khai tài chính doanh nghiệp đối với các chủ nợ

Để đáp ứng hoạt động, hiện nay các doanh nghiệp đa số đều có sử dụng vốn

vay và đều có các mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, ngân hàng với tư cách

là người cho vay. Các chủ nợ cho vay tiền hoặc cung ứng hàng hoá và dịch vụ

cho doanh nghiệp đều quan tâm đến việc liệu doanh nghiệp có đủ tiền để hoàn

trả nợ vay cho họ khi nợ đến hạn hay khơng. Do vậy, các chủ nợ đều phân tích

rất kỹ tình hình tài chính và khả năng thanh tốn của doanh nghiệp trước khi

quyết định cho doanh nghiệp vay.

Điều đó có nghĩa việc cơng khai thơng tin TCDN và thơng tin được cơng có

minh bạch ảnh hưởng rất lớn đến cách ứng xử của các tổ chức tín dụng, ngân

hàng. Bởi nếu DN công khai thông tin nhưng thông tin thiếu trung thực, minh

bạch sẽ dẫn đến cách hành xử khơng đúng gây ảnh hưởng đến lợi ích của các

chủ nợ. Các chủ nợ phân tích tài chính của DN nhằm đảm bảo khả năng trả nợ

của doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích các thơng tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp,

các chủ nợ xem xét khả năng thanh tốn của doanh nghiệp trên hai khía cạnh là

ngắn hạn và dài hạn. Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay xét

xem về vốn điều lệ, vốn có sẵn, tài sản thế chấp có giá trị hay khơng, tài sản đó

đã được thế chấp ở nơi khác chưa để đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của

doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ

khi đến hạn trả. Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay hướng đến

khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn

10



và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này. Đó là các thơng tin hiện hữu qua

báo cáo tài chính các năm trước, hay sáu tháng trước của doanh nghiệp...

+ Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm

của họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý

đặc biệt đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ

đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh tốn tức thời của

doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng

rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu, bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho

họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro. Như vậy, đối với ngân hàng và tổ

chức tín dụng việc phân tích tài chính dựa trên thơng tin về tình hình tài chính

mà DN cơng khai là rất quan trọng. Bởi, thơng qua phân tích tài chính DN, ngân

hàng và tổ chức tín dụng có thể tính được mức độ mạo hiểm khi cho doanh

nghiệp vay.

Ví dụ 3 3: Trường hợp Cơng ty Cổ phần Tập đồn Thái Hòa Việt Nam (THV)

là một ví dụ. THV kinh doanh gặp khó khăn nên thường xuyên phải vay ngắn

hạn để đầu tư dài hạn. Theo thông tin được công khai (báo cáo tài chính của

THV) THV có mức lỗ 84,17 tỷ đồng, tài sản ngắn hạn 263,21. Qua phân tích tài

chính của doanh nghiệp cho thấy cơng ty vẫn có thể tiếp tục hoạt động và có khả

năng trả nợ. Do đó, các ngân hàng vẫn cho THV vay nợ.

Tuy nhiên, báo cáo tài chính sau sốt xét cho biết, kết quả kinh doanh 6 tháng

của THV thua lỗ nhiều hơn trước soát xét rất nhiều. Từ mức lỗ 84,17 tỷ đồng

trước soát xét, mức lỗ sau soát xét đã tăng lên 129,44 tỷ đồng. Không những thế,

THV hoạt động phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng.

Có thể thấy thơng qua việc cơng khai thông tin thiếu trung thực, không minh

bạch đã dẫn đến các ngân hàng phân tích sai về tình hình tài chính của THV

trước khi cho vay, ngân hàng đã nhận định sai về khả năng trả nợ cũng như mức

độ rủi ro khi cho THV vay. Với tình trạng kinh doanh hiện tại, THV liệu có khả

năng trả nợ hay khơng? Đây là sẽ bài tốn khó đối với các ngân hàng. Khi, đơn

vị kiểm toán đưa ra lưu ý đáng lo ngại cho người đọc báo cáo, rằng: nợ phải trả

ngắn hạn của THV đã vượt quá tài sản ngắn hạn 263,21 tỷ đồng trong đó hầu hết

3



Lãi thành lỗ: DN lộ yếu kém và nói dối, http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/86363/lai-thanh-lo--dn-lo-yeu-kem-va-



noi-doi.html



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sở hữu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x