Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện về hình thức của hợp đồng.

Điều kiện về hình thức của hợp đồng.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hợp đồng miệng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận với

nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng.

Thực tiễn: Trong thực tế loại hợp đồng này được sử dụng tương đối nhiều nhưng

chỉ với những mục đích có giá trị nhỏ, phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày, giữa các

bên có sự tin cậy nhất định. Song một hiện tượng cũng hay gặp là vì sự tin cậy mà

dẫn đến lợi dụng sự tin cậy gây lừa đảo chiếm đoạt tài sản…

4. 2 Hợp đồng bằng văn bản:

Nội dung của hợp đồng là tổng thể quyền, nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện.

Hình thức văn bản là dạng thức chứa đựng quyền, nghĩa vụ của các bên. Bộ luật

dân sự 2005 không quy định rõ ràng các yếu tố cuả một hợp đồng bằng văn bản

nhưng căn cứ vào những điều khoản về nội dung của hợp đồng, vào thời điểm giao

kết hợp đồng thì một văn bản phải được lập như một hợp đồng và phải được các

bên kí vào văn bản mới có hiệu lực. Điều 124- Bộ luật dân sự có quy định các hình

thức giao dịch thơng qua phương tiện điện tử dưới hình thức thơng điệp dữ liệu

cũng được coi là giao dịch bằng văn bản. Hợp đồng bằng văn bản được các bên lựa

chọn trong các trường hợp:

-Hợp đồng có giá trị lớn;

-Hợp đồng có nội dung quyền, nghĩa vụ phức tạp, phản ánh các quan hệ dân sự

phong phú, đa dạng;

-Hợp đồng được thực hiện trong một thời gian dài;

-Giữa các chủ thể trong hợp đồng khơng có độ tin tưởng.

Hình thức bằng văn bản là hình thức duy nhất mà Nhà nước can thiệp vào bằng

những quy định cụ thể. Đối với một số loại hợp đồng nhất định, Nhà nước can

thiệp vào sự tự do ý chí bằng những quy định có tính chất bắt buộc đối với hình

thức hợp đồng bằng văn bản. Căn cứ vào mức độ can thiệp của Nhà nước vào

nguyên tắc tự do thể hiện ý chí của các bên trong hợp đồng mà hợp đồng bằng văn

bản được chia thành các loại:

Thứ nhất, hợp đồng bằng văn bản thông thường: hợp đồng loại này chỉ cần lập

bằng văn bản thơng thường trong đó ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các bên là đủ.

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản hợp

đồng;

Thứ hai, hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin

phép: đây là những dạng hợp đồng phần nhiều có đối tượng tài sản phải đăng kí

quyền sở hữu, những tài sản có giá trị đặc biệt trong đời sống dân sự không chỉ bởi

giá trị vật chất mà bởi chúng còn là tư liệu sản xuất khơng thể thay thế được (đất

15



đai), là nơi cư trú của con người (nhà ở)…, hợp đồng có tính chất phức tạp dễ xảy

ra tranh chấp.

Hợp đồng dạng này cần có sự quản lí của Nhà nước bởi nó khơng chỉ ảnh

hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sản xuất kinh doanh của các chủ thể mà

còn ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, tác động đến cuộc

sống của cộng đồng dân cư, trật tự xã hội.

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm văn bản hợp đồng được chứng

nhận, chứng thực, đăng kí hoặc cho phép.

Thực tiễn: Trong thực tiễn đây là loại hợp đồng được sử dụng nhiều nhất, vì bó

đảm bảo tính pháp lý cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Xong cũng do nhiều

qui định của pháp luật mà gây khó khăn cho người thực hiện nên rất dễ các chủ thể

thực hiện hợp đồng không biết điều kiện như thế nào thì hợp đồng mới có hiệu lực,

nhiều trường hợp mua bán đất chỉ có chữ ký của các bên, mà khơng được chứng

thực, thì lúc đó có mâu thuẫn xảy ra, đưa hợp đồng ra tranh chấp, thì bị tun là

hợp đồng vơ hiệu. như vậy trong thực tế có nhiều trường hợp xảy ra.

4. 3 Hợp đồng thể hiện bằng hành vi:

Hợp đồng có thể được xác lập thông qua hành vi nhất định theo quy ước đã

định trước.Ví dụ như mua nước ngọt bằng máy tự động, gọi điện thoại tự động…

Hợp đồng có thể được xác lập thơng qua hình thức này mà khơng nhất thiết phải có

sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết. Hiệu lực của hợp đồng

phát sinh tại thời điểm một hoặc các bên chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp

đồng.

Thực tiễn: Hiện nay loại hợp đồng này được sử dụng tương đối ít, chưa phổ biến,

một phần là họ quen với hợp đồng bằng lời nói hay văn bản, mà một phần là do

tính chất yếu kém của nền kinh tế.

Vậy như đã phân tích nguyên tắc “tự do hợp đồng” là nguyên tắc xuyên suốt

toàn bộ một thoả thuận hợp đồng. Sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng phải

dựa trên sự tự do ý chí và đồng thuận của các bên. Chỉ khi nào sự tự do ý chí và sự

đồng thuận được thể hiện dưới một hình thức nhất định mới tồn tại hợp đồng. Hợp

đồng không bao giờ có trong ý tưởng hay suy nghĩ của con người mà nó phải được

thể hiện dưới một dạng thức nhất định. Khoa học pháp lí đã bước đầu có sự tiếp

cận và có những lí giải về hình thức của hợp đồng dựa trên những cơ sở như vậy.

Điều 401- Bộ luật dân sự chưa đưa ra khái niệm về hình thức của hợp đồng mà

chỉ thừa nhận hợp đồng tồn tại dưới 3 dạng thức: lời nói, văn bản hay bằng hành vi

cụ thể. Không phải mọi sự thống nhất ý chí nào cũng là hợp đồng mà chỉ có sự

16



thống nhất ý chí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự mới

chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng. Thực chất sự thống nhất ý chí của chủ

thể có thể được chúng ta nhận biết ra sao hay nó được thể hiện như thế nào thì mỗi

cá nhân lại có một cách thức riêng để biểu đạt suy nghĩ của mình. Sự thống nhất ý

chí của ít nhất hai chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải được thể hiện dưới những

hình thức nhất định, đảm bảo khả năng nhận biết khách quan. Khi đó pháp luật mới

bảo vệ cho quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi chúng bị vi phạm.

Hợp đồng không thể là những ý tưởng riêng rẽ của một cá nhân nào đó mà đó

chính là sự đồng thuận của các chủ thể có ý chí độc lập, tồn tại dưới một dạng ghi

nhận thơng tin nào đó. Dạng thức ghi nhận thoả thuận hợp đồng khơng chỉ có ý

nghĩa trong việc xác định đã tồn tại hợp đồng hay không, hợp đồng đã xác lập bao

gồm những nội dung gì mà còn nhằm đối kháng với bên thứ ba. Một hợp đồng đã

được giao kết tức là các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận. Bất kì sự

thay đổi hoặc khơng thực hiện đúng thoả thuận mà không được sự đồng ý của bên

kia cũng là nguyên nhân để bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi.

Quan điểm của các nhà lập pháp Việt Nam cũng tiếp cận theo phương hướng

này. Đối với một số loại hợp đồng cụ thể, pháp luật Việt Nam quy định phải tuân

theo những yêu cầu hình thức bằng văn bản cùng một số thủ tục như hợp đồng phải

có cơng chứng, chứng thực, phải được đăng kí… là yêu cầu bắt buộc.

Đoạn 2, khoản 2, Điều 401- Bộ luật dân sự quy định: “hợp đồng khơng bị vơ

hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức trừ trường hợp pháp luật có quy

định khác”. Đó là trường hợp hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của

hợp đồng. Sự thống nhất ý chí của các bên chưa đủ để hợp đồng có hiệu lực pháp

luật mà hợp đồng phải tuân thủ theo một hình thức nhất định theo quy định cuả

pháp luật. Nếu các bên không tuân theo thì theo u cầu của một hoặc các bên, Tồ

án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy

định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà khơng thực

hiện thì giao dịch vơ hiệu (điều 134- Bộ luật dân sự). Như vậy, trong trường hợp

hợp đồng vi phạm hình thức , Tồ án sẽ khơng mặc nhiên tuyên bố ngay hợp đồng

vô hiệu, mà theo yêu cầu của một hoặc các bên Toà án sẽ định cho các bên một

thời hạn hợp lí (theo NQ 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của HĐTP Toà án

nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp

dân sự, hơn nhân và gia đình thì thời hạn này là một tháng, kể từ ngày Toà án ra

quyết định). Trong thời hạn đó nếu các yêu cầu về hình thức được thực hiẹn đầu

đủ, hợp đồng giao kết sẽ có hiệu lực pháp luật. Quá thời hạn trên mà các bên khơng

17



đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các yêu cầu về hình thức thì

Tồ án tun bố hợp đồng vơ hiệu kể từ thời điểm xác lập. Điều này dẫn đến một

thực tế đó là: Điều 134 khơng xác định rõ bên nào là bên có quyền u cầu Tồ án

tun bố hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức mà chỉ quy

định một cách chung chung là “theo yêu cầu của một hoặc các bên”. Từ quy định

này có thể hiểu là bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về

hình thức cũng có quyền u cầu Tồ án tun bố hợp đồng vơ hiệu. Lẽ ra bên có

lỗi phải hồn tất thủ tục về hình thức thì lại có quyền u cầu Tồ án tun bố hợp

đồng vơ hiệu do lỗi của chính bản thân mình. Trong khi đó, theo nguyên tắc chung,

đối với các hợp đồng vô hiệu tương đối chỉ bên bị xâm phạm mới có quyền u

cầu Tồ án tun bố hợp đồng vơ hiệu mà thôi. Điểm mâu thuẫn này sẽ dẫn đến hệ

quả là bên có lỗi làm cho hợp đồng vơ hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức nếu

thấy có lợi thì thực hiện hợp đồng nếu thấy bất lợi thì đưa ra lí do hợp đồng khơng

tn thủ hình thức để trốn tránh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.

Điều kiện về hình thức chỉ áp dụng đối với một số hợp đồng cụ thể như: hợp

đồng mua bán bất động sản; hợp đồng thuê nhà; các hợp đồng liên quan đến quyền

sử dụng đất; hợp đồng thế chấp;… Một hợp đồng khi khơng tn thủ một trong các

điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì coi như hợp đồng đó chưa được xác lập,

khơng phát sinh hệ quả pháp lí và do đó khơng làm phát sinh, thay đổi hay chấm

dứt quyền,nghĩa vụ dân sự. Khi không đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực

của hợp đồng thì theo quy định của pháp luật sẽ khơng làm phát sinh hiệu lực với

các bên và theo yêu cầu sẽ bị Tồ án tun vơ hiệu. Mặc dù sự vô hiệu là do vi

phạm điều kiện về chủ thể; điều kiện về nội dung, mục đích của hợp đồng; điều

kiện về sự tự nguyện hay điều kiện về hình thức của hợp đồng và sự vơ hiệu đó là

tuyệt đối hay vô hiệu tương đối đều dẫn đến hậu quả pháp lí như nhau. Khi nói

rằng hợp đồng đó vơ hiệu tuyệt đối hay tương đối khơng có nghĩa là hợp đồng ấy

bất hợp pháp nhiều hay ít mà chỉ có ý nghĩa xác định các quyền lợi của một nhóm

người hay quyền lợi của một người và đều phải chịu một hậu quả pháp lí chung



KẾT LUẬN

Hợp đồng là một trong những chế định pháp lí quan trọng nhất của Luật dân sự

và nếu như coi sự thống nhất ý chí của các bên là điều kiện cần để hình thành hợp

đồng thì việc quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chính là điều kiện

18



đủ để hợp đồng có hiệu lực ràng buộc các bên giao kết, là căn cứ để tuyên hợp

đồng vô hiệu hay không. Mặc dù chế định hợp đồng ở Việt Nam còn mới mẻ so

với các nước khác trên thế giới nhưng việc ra đời Bộ luật dân sự 1995 và được sửa

đổi, bổ sung trong Bộ luật dân sự 2005 thì chế định hợp đồng đang dần được pháp

điển hố và ngày càng được hồn thiện hơn.



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện về hình thức của hợp đồng.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×