Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phạm vi người tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự”- như vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là

Phạm vi người tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự”- như vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mặt khác, quy định có người năng lực hành vi là một trong những điều kiện có

hiệu lực của hợp đồng khơng được hiểu theo nghĩa cứ có năng lực hành vi dân sự

đầy đủ thì có thể tham gia mọi giao dịch mà trên thực tế vẫn có những quy định

mang tính hạn chế người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tham gia vào một số

giao dịch nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người liên quan. Đó là

các trường hợp được quy định tại Điều 144- Bộ luật dân sự 2005 về người đại diện

không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ

ba mà mình cũng là người đại diện của người đó hay các giao dịch dân sự giữa

người giám hộ và người được giám hộ đều vô hiệu chỉ trừ trường hợp giao dịch

được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám

sát việc giám hộ. Hay tại khoản 3, Điều 69- Bộ luật dân sự 2005 quy định: “các

giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tài

sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện

vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám

hộ”.

Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng có thể

tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện theo quy định của

pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó phải tự mình tham gia xác

lập, thực hiện hợp đồng đó.

Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác lập, thực hiện

quyền và nghĩa vụ trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định. Đó

là những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia xác lập, thực hiện

hợp đồng phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Cá nhân từ đủ 6 tuổi

đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực hành vi một phần. Họ có thể bằng

hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia hợp đồng

để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi. Nhưng pháp luật lại

không quy định rõ những giao dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu sinh hoạt

hằng ngày và phù hợp với lứa tuổi” nhưng có thể hiểu rằng đó là các giao dịch

mang các đặc điểm sau :

- Có giá trị nhỏ;

- Mục đích của hợp đồng là phục vụ nhu cầu sinh hoạt, học tập hằng ngày.

Đối với các giao dịch này được coi là những người đại diện của họ cho phép

thực hiện mà không cần sự đồng ý trực tiếp của những người đại diện. Trừ các giao

dịch có tính chất trên, các giao dịch do người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi xác

lập, thực hiện phải được người đại diện đồng ý- đồng ý việc thực hiện giao dịch

3



cũng như nội dung của giao dịch đó. Thời điểm đồng ý khơng có ý nghĩa quyết

định. Nếu người được đại diện đã thực hiện giao dịch khơng có sự đồng ý của

người đại diện thì với tư cách là người đại diện, họ có quyền u cầu Tồ án tun

bố giao dịch vơ hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 2 - Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp người

từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì

có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch mà khơng cần phải có sự đồng ý của

người đại diện theo pháp luật”. Quy định này xuất phát từ thực tế người từ đủ 15

tuổi có quyền giao kết hợp đồng lao động và có thu nhập riêng hợp pháp, tạo điều

kiện cho họ thực sự trở thành chủ thể độc lập trong đời sống kinh tế - xã hội.

Nhưng cũng cần lưu ý pháp luật dân sự quy định một số giao dịch cụ thể chỉ có

thể do người đã thành niên xác lập mới có hiệu lực, đặc biệt là các hợp đồng pháp

luật bắt buộc phải có cơng chứng. Trong trường hợp đó người chưa thành niên dù

có tài sản riêng cũng khơng có năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng.

Đối với người khơng có năng lực hành vi dân sự là người chưa đủ 6 tuổi. Họ

khơng có quyền tham gia bất cứ một giao dịch nào. Mọi giao dịch của những người

này phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Nguyên nhân là do họ

chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và hậu quả của những hành vi

đó.

Đối với người bị mất năng lực hành vi theo Điều 22 - Bộ luật dân sự 2005 là

người “do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ

được hành vi của mình”. Như vậy, người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng

lực hành vi khi có những điều kiện, với trình tự, thủ tục nhất định và trên cơ sở kết

luận của tổ chức giám định có thẩm quyền, Tồ án có thể tun bố một người bị

mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Vì vậy,

với những người bị mất năng lực hành vi khi tham gia xác lập, thực hiện giao dịch

họ đều phải thông qua người đại diện theo pháp luật.

Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 23 Bộ luật dân sự

2005 là người “nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài

sản của gia đình” thì giao dịch dân sự liên qua đến tài sản của người bị hạn chế

năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ

giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Người đại diện theo pháp

luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án

quyết định.

4



Đại diện theo pháp luật của cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần, cá

nhân không có năng lực hành vi dân sự, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự

hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được xác lập theo quy định của pháp luật

hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thẩm quyền đại diện

theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện trong quyết định cử đại diện

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác lập đại diện này thường khơng phụ

thuộc vào ý chí cuả người được đại diện. Người đại diện theo pháp luật có thẩm

quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch vì lợi ích của người được đại diện trừ

trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có

quyết định khác.

Tuy nhiên, trường hợp đại diện người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có

một số nét đặc biệt riêng. Thẩm quyền đại diện đối với người bị hạn chế năng lực

hành vi khác thẩm quyền đại diện đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự

hoặc có năng lực hành vi dân sự một phần. Người đại diện cho người bị hạn chế

năng lực hành vi khơng thể tự mình xác lập giao dịch thay cho người bị hạn chế mà

chỉ có quyền “đồng ý” hay “ khơng đồng ý”. Chính người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nhưng với sự chấp thuận của

người đại diện. Người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý

mà thôi. Nếu giao dịch đó khơng làm ảnh hưởng đến lợi ích của chính người đại

diện của những người thân thích trong gia đình của người bị hạn chế năng lực hành

vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật cho phép người bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự được xác lập, thực hiện giao dịch.

Tuy nhiên, một trường hợp đã được dự liệu trong pháp luật dân sự tại điều 133

là trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự nhưng đã xác lập, thực hiện giao dịch vào đúng thời điểm không

nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì sẽ bị tuyên là vơ hiệu. Đây có thể

được coi là trường hợp ngoại lệ của trường họp người có năng lực hành vi dân sự

đầy đủ không bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự song đã xác lập giao dịch trái với ý chí của họ nên họ có quyền u cầu Tồ án

tuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bởi khi đó đã

vi phạm tính tự nguyện khi tham gia giao dịch.

Như vậy, nếu cá nhân tham gia hợp đồng khơng có năng lực hành vi dân sự thì

hợp đồng sẽ vơ hiệu. Trong trường hợp này hợp đồng vô hiệu tương đối (vô hiệu bị

tuyên) chỉ khi các bên hoặc những người đại diện của họ u cầu Tồ án tun bố

vơ hiệu thì Tồ án mới xem xét và quyết định. Bên u cầu phải có nghĩa vụ chứng

5



minh trước Tồ cơ sở của yêu cầu là do đã tham gia xác lập hợp đồng với người

khơng có năng lực hành vi dân sự. Điều 130- Bộ luật dân sự 2005 quy định hợp

đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn

chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện sẽ vô hiệu. Theo Điều 136- Bộ luật

dân sự 2005 thời hiệu u cầu Tồ án tun bố hợp đồng vơ hiệu trong trường hợp

này là 2 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng. So với quy định tại Điều 145- Bộ luật

dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự thay thế cụm từ “thời hạn” bằng cụm

từ thời hiệu cho chính xác hơn và đã tăng thời hiệu u cầu Tồ án tun bố hợp

đồng vơ hiệu từ 1 năm lên thành 2 năm. Việc quy định thời hiệu 1 năm như trước

đây tương đối ngắn, chưa phù hợp thực tế và không bảo đảm được quyền, lợi ích

hợp pháp của bên khơng có lỗi khi tham gia hợp đồng nên việc tăng thời hạn thành

2 năm là hồn tồn hợp lí. Về ngun tắc, hợp đồng dân sự vô hiệu không phát

sinh quyền, nghiã vụ nhưng không phải lúc nào các bên tham gia hợp đồng cũng

phát hiện ra các vi phạm là điều kiện dẫn đến hợp đồng vơ hiệu. Thơng thường chỉ

có một bên có quyền lợi trong việc huỷ bỏ hợp đồng vô hiệu nên việc giải quyết

hợp đồng vô hiệu thường được thơng qua con đường tố tụng tại Tồ án. Do đó,

việc quy định thời hiệu để các bên yêu cầu Tồ án tun bố một hợp đồng vơ hiệu

có ý nghĩa lớn về lí luận và thực tiễn. Cơ sở lí luận của việc xác định thời hiệu yêu

cầu Tồ án tun hợp đồng vơ hiệu dựa trên:

-Thời gian có thể làm cho hợp đồng vi phạm điều kiện mà pháp luật quy định trở

thành hợp đồng có hiệu lực được không;

-Quyền tự định đoạt của các bên trong hợp đồng sau một thời gian nhất định;

-Nhu cầu bảo vệ sự ổn định của hợp đồng nhằm bảo đảm hài hồ giữa lợi ích của

nhà nước và cơng dân.

Từ những cở sở đó, căn cứ vào quyền tự định đoạt của các bên tham gia hợp

đồng thì thời hạn để những người này quyết định việc có yêu cầu Tồ án bảo vệ

hay khơng là 2 năm. Nếu họ khơng khởi kiện trong thời hạn này thì có nghĩa là họ

từ chối quyền yêu cầu được pháp luật bảo vệ. Nhưng thời hiệu 2 năm lại được tính

từ thời điểm hợp đồng được xác lập. Trong khi đó, Bộ luật dân sự Pháp lại quy

định thời hiệu khởi kiện huỷ hợp đồng vô hiệu tương đối là 5 năm- thời hiệu dài

hơn rất nhiều so với quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam và cũng theo nguyên

tắc tính từ ngày hợp đồng được kí kết nhưng lại quy định thêm trường hợp ngoại

lệ: “Đối với hợp đồng được giao kết có chủ thể là người khơng có, bị mất, bị hạn

chế năng lực hành vi dân sự: nếu chủ thể là người chưa thành niên thì thời hiệu

kiện huỷ hợp đồng được tính từ ngày người đó đủ tuổi thành niên. Nếu chủ thể là

6



người đã thành niên bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, thì thời hiệu

khởi kiện được tính từ ngày người đó có đầy đủ năng lực hành vi dân sự”. Theo

em, Bộ luật dân sự Việt Nam nên tiếp cận cách tính thời hiệu như vậy sẽ bảo vệ tối

đa hơn quyền, lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm.

Thực tiễn: Các loại hợp đồng do chủ thể là cá nhân thực hiện rất nhiều, song cũng

có những trường hợp thực hiện không đúng qui định của pháp luật đặc biệt là

trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Họ không biết được pháp luật qui

định chủ thể bị hạn chế năng lực hành vi dân giao kết hợp đồng sẽ bị vô hịêu. Mặt

khác có trường hợp lại lợi dụng những chủ thể như vậy để lừa đảo chiems đoạt tài

sản.

1.2. Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác

pháp nhân theo Điều 84 Bộ luật dân sự là một thực thể độc lập thống nhất, được

thành lập hợp pháp, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình,

nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Năng lực pháp luật của pháp nhân được hiểu là khả năng của pháp nhân có các

quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp mục đích hoạt động của mình. Năng lực pháp

luật của pháp nhân phát sinh từ thời điểm pháp nhân được thành lập và chấm dứt từ

thời điểm chấm dứt pháp nhân.

Hộ gia đình theo quy định tại Điều 106- Bộ luật dân sự 2005 được hình thành

trên cơ sở các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp cơng sức để hoạt động

kinh tế chung trong sản xuất.

Tổ hợp tác theo quy định tại Điều 111- Bộ luật dân sự 2005 “được hình thành

trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị

trấn từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, cơng sức để thực hiện những

công việc nhất định, cùng hưởng hoa lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong

các quan hệ dân sự”.

Với quy định “người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự” chúng ta

có thể hiểu năng lực hành vi của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác được xem xét

thơng qua vai trò của người đại diện. Người đại diện xác lập, thực hiện hợp đồng

nhân danh pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ cho

pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.

Theo quy định của pháp luật, pháp nhân chỉ tham gia hợp đồng phù hợp với

chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân; hộ gia đình chỉ tham gia hợp đồng liên quan

đến quyền sử dụng đất, hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và một số lĩnh

7



vực sản xuất, kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Tổ hợp tác chỉ tham

gia các hợp đồng liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ được xác

định trong hoạt động hợp tác.

Người đại diện cho các chủ thể này có thể thực hiện thơng qua 2 cơ chế đại

diện. Đó là:

- Đại diện theo pháp luật: Trường hợp người đại diện cho pháp nhân là người đứng

đầu pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định

thành lập pháp nhân; trường hợp người đại diện cho hộ gia đình là chủ hộ trong đó

cha hoặc mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Đối với

người đại diện cho tổ hợp tác đại diện theo pháp luật là tổ trưởng do các tổ viên cử

ra. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện sẽ khơng

làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được đại diện là pháp nhân, hộ gia đình,

tổ hợp tác trừ trường hợp ngươi đại diện cho pháp nhân, họ gia đình, tổ hợp tác đó

đồng ý.

- Đại diện theo uỷ quyền: đối với hình thức này ngưòi đại diện có thể là bất cứ ai

và phải dựa trên hợp đồng uỷ quyền. Trường hợp này, người đại diện chỉ được xác

lập, thực hiện những hợp đồng trong phạm vi đại diện. Nếu người đại diện theo uỷ

quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện những hợp đồng

vượt quá phạm vi đại diện hoặc không nằm trong phạm vi đại diện không làm phát

sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đối với phần giao dịch

được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện hoặc không nằm trong phạm vi đại diện.

Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện

hoặc huỷ bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ

giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trong trường hợp này, nếu người đại diện cho pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp

tác khi tham gia xác lập hợp đồng khơng có năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng

bị vơ hiệu tương đối và thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu cũng

là 2 năm kể từ ngày xác lập hợp đồng.

Thực tiễn: Hiện nay do tình hình kinh tế phát triển nên có nhiều hợp đồng được

thực hiện bởi những chủ thể này, tuy nhiên đây không phải là đại diện cho cá nhân

mà đại diện cho tập thể nên trong thực tế có hợp đồng được ký không đúng thẩm

quyền làm cho hợp đồng bị vô hiệu, gây thiệt hại cho một trong các bên tham gia.

Vì thế khi ký kết với các chủ thể này cần xác định đúng người có thẩm quyền ký

kết.

8



2. Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng

Bộ luật dân sự quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là: “mục đích, nội

dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã

hội”. Theo Điều 123 Bộ luật dân sự 2005: “Mục đích của hợp đồng là lợi ích hợp

pháp mà các bên mong muốn đạt được”. Lợi ích hợp pháp là các hành vi mà các

bên trong hợp đồng sẽ thực hiện để đem lại một kết quả nhất định. Hợp đồng lại là

căn cứ phát sinh nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ chính là tài sản, cơng việc

phải thực hiện hoặc khơng được thực hiện. Vì vậy, lợi ích hợp pháp đó có thể là

vật, cơng việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện. Không thể có hành vi

mang tính ý chí khi các chủ thể tham gia vào việc xác lập, thực hiện hợp đồng lại

khơng nhằm vào một mục đích nhất định. Mục đích của hợp đồng là yếu tố khơng

thể thiếu trong hợp đồng, là cơ sở xác định việc xác lập, thực hiện hợp đồng đó có

hiệu lực pháp lí hay khơng.

Mục đích của hợp đồng khác với động cơ xác lập hợp đồng. Động cơ của hợp

đồng là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia hợp đồng không được coi là yếu tố

đương nhiên phải có trong hợp đồng. Nếu động cơ không đạt được không làm ảnh

hưởng đến hiệu lực của hợp đồng nhưng hợp đồng khơng có mục đích hoặc mục

đích khơng đạt được sẽ làm hợp đồng vơ hiệu. Mục đích ln ln được xác định

cụ thể còn động cơ có thể được xác định hoặc khơng. Ví dụ như trong hợp đồng

mua bán nhà mục đích của hợp đồng là mua nhà để có quyền sở hữu nhà nhưng

động cơ có thể để ở, cho thuê hay bán lại cho người khác. Động cơ của hợp đồng

có thể được các bên thoả thuận trở thành một điều khoản của hợp đồng, một bộ

phận cấu thành của hợp đồng.

Mục đích của hợp đồng và nội dung của hợp đồng có mối liên hệ chặt chẽ với

nhau. Con người xác lập, thực hiện hợp đồng luôn nhằm một mục đích nhất định.

Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về các điều khoản trong

hợp đồng hay chính là nội dung của hợp đồng. Nội dung của hợp đồng là tổng hợp

các điều khoản mà các bên đã cam kết, thoả thuận trong hợp đồng. Các điều khoản

đó sẽ xác định quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nội dung của hợp đồng

được quy định cụ thể ở điều 402- Bộ luật dân sự theo đó nội dung của hợp đồng

gồm các điều khoản về đối tượng của hợp đồng; giá cả, phương thức thanh toán; số

lượng, chất lượng, thời hạn, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền và nghĩa vụ

của các bên trong hợp đồng… Nhưng để hợp đồng có thể phát sinh hiệu lực pháp

luật thì mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật,

9



khơng trái đạo đức xã hội có nghĩa là mục đích và nội dung của hợp đồng khơng

được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nuớc, lợi ích cơng cộng, lợi ích hợp pháp của

nguời khác đã được khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân

sự.

So với Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự sửa đổi cho chính

xác hơn khi sử dụng cụm từ “điều cấm của pháp luật” thay cho cụm từ “ không trái

pháp luật”- một cụm từ mang tính chung chung. Điều cấm của pháp luật là những

quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời

sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tơn trọng. Đạo đức xã hội có phạm vi

rộng, có vai trò chi phối hành vi và ý thức của con người, góp phần làm hài hồ lợi

ích của cá nhân, tập thể và xã hội. Đạo đức xã hội là một dạng của quy phạm xã

hội, cùng với quy phạm pháp luật -mang tính bắt buộc chung, được đảm bảo thực

hiện bằng cưỡng chế Nhà nước thì đạo đức xã hội góp phần điều chỉnh hành vi của

con người theo đúng chuẩn mực xã hội. Điều 1123- Bộ luật dân sự Pháp 1804 cũng

đã ghi nhận

“nghĩa vụ khơng có mục đích, hoặc dựa trên một mục đích bị làm

sai lệch hoặc mục đích trái pháp luật thì sẽ khơng có hiệu lực”. Hay tại Điều 138Bộ luật dân sự Đức cũng quy định hợp đồng trái với quy tắc đạo đức sẽ bị vô hiệu

và hợp đồng vô hiệu nếu một bên tham gia hợp đồng giữ vị trí ưu thế về kinh tế đã

lạm dụng vị thế của mình để áp đặt những điều khoản quá bất lợi cho bên kia.

Ngoài ra hợp đồng sẽ vô hiệu nếu vi phạm các quyền cơ bản được quy định trong

Hiến pháp như quyền tự do đi lại, tự do kinh doanh của cơng Đức… Một hình thức

vi phạm đạo đức xã hội nữa làm vô hiệu hợp đồng là việc một người lạm dụng vị

trí ưu thế của mình về thứ bậc hay vị trí yếu thế của người khác để áp đặt cho

người đó những điều kiện bất lợi (khoản 2- Điều 138 - Bộ luật dân sự Đức) 1. Như

vậy, để hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch

không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Nội dung

của hợp đồng, các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng phải hợp pháp, có thể

thực hiện được và khơng được phép xác lập, thực hiện những hợp đồng mà pháp

luật cấm hoặc trái đạo đức xã hội (mua bán vũ khí, súng đạn..). Đối tượng của hợp

đồng phải là vật, quyền tài sản được phép giao dịch, phải tuân thủ những điều kiện,

trình tự, thủ tục, nội dung của từng loại hợp đồng cụ thể. Nếu pháp luật không quy

định cụ thể thì các bên có quyền xác lập, thực hiện những hợp đồng không trái với

những nguyên tắc cơ bản của luật dân sự. Các hợp đồng có mục đích, nội dung

1



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phạm vi người tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Điều kiện để hợp đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự”- như vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×