Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực tế áp dụng pháp luật và kiến nghị về Các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật cạnh tranh 2004.

Thực tế áp dụng pháp luật và kiến nghị về Các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật cạnh tranh 2004.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài Tập Lớn học kỳ



Môn: Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.



bảo hiểm chỉ nhằm mục đích phục vụ cho việc trả bảo hiểm, bởi giá bảo hiểm quá thấp

sẽ không đủ để chi trả cho những rủi ro lớn. Việc thống nhất này nhằm ổn định thì

trường bảo hiểm, góp phần phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, góp phần phát triển

kinh tế đất nước, vì thế họ phải được hưởng miễn trừ.

Vậy nhưng như đã phân tích ở phần trên, doanh nghiệp thuộc trường hợp miễn

trừ, muốn được hưởng miễn trừ phải lập hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, và chỉ sau khi

có quyết định chấp nhận của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì doanh nghiệp mới được

hưởng miễn trừ, điều này được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 36 Luật Cạnh tranh

2004: “Các bên tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh được hưởng miễn trừ chỉ được

thực hiện thoả thuận hạn chế cạnh tranh sau khi có quyết định cho hưởng miễn trừ của

Bộ trưởng Bộ Thương mại.” Đối chiếu với trường hợp này thỏa thuận của 19 công ty

bảo hiểm được ký trước và sau đó các doanh nghiệp này mới lập luận là thuộc trường

hợp miễn trừ là trái với quy định của pháp luật.

Một ví dụ thực tế nữa là đầu tháng 7/2004 dưới sự chủ trì của Hiệp hội Ngân

hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại nhà nước bao gồm Ngân hàng Ngoại thương,

ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, chiếm

khoảng 70% thị phần huy động vốn ở Việt Nam đã đồng loạt ấn định lãi suất huy động

tiền gửi 6 tháng là 0.5%/tháng, 12 tháng là 0.63%/tháng, còn các kỳ hạn dưới 6 tháng

tuy không ấn định trần lãi suất huy động nhưng các ngân hàng này cũng chỉ đạo các chi

nhánh phải án định theo mức thấp hơn các kỳ hạn liền kề, bên cạnh đó các ngân hàng

này cũng đồng loạt tăng lãi suất cho vay.

Rõ ràng Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể về các

thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vậy mà ngay cả các công ty, ngân hàng nhà nước những doanh nghiệp lớn vẫn ngang nhiên vi phạm. Rõ ràng thực tế là công tác phổ biến

pháp luật trong xã hội chưa mang tính hiệu quả cao, các doanh nghiệp vẫn thiếu hiểu

biết, hoặc chưa hiểu đúng và đầy đủ về pháp luật dẫn đến những sai phạm trong hoạt

động.

3.2. Kiến nghị về Các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị

cấm theo Luật cạnh tranh 2004.

+ Như đã nói khơng phải mọi TTHCCT đều có hại, mà có những thỏa thuận tuy

có hạn chế tự do cạnh tranh nhưng lại có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, tiên bộ kỹ

13



Bài Tập Lớn học kỳ



Môn: Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.



thuật, có lợi cho người tiêu dùng,… Do đó, cần phải xem xét bảo vệ các thỏa thuận này.

Hơn nữa, để bảo đảm thực hiện chủ trương của nhà nước ta trong việc “xây dựng một só

tập đồn doanh nghiệp lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hóa, nâng cao sức cạnh

tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

khi chúng ta tiến hành phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”. Việc quy

định những trường hợp miễn trừ đối với các TTHCCT có lợi cho nền kinh tế quốc dân,

cho người tiêu dùng và cho các doanh nghiệp là hết sức cần thiết.Tuy nhiên hiện nay,

pháp luật Việt Nam còn thiếu quy định về hai điều kiện quan trọng để hưởng miễn trừ,

đó là:

- Việc thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải là cần thiết và không thể

tránh khỏi nhằm đặt được các mục tiêu nói trên;

- Và việc thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh trnah không được tạo cho các doanh

nghiệp tham gia thỏa thuận khả năng loại bỏ đáng kể cạnh tranh đối với hàng hóa và

dịch vụ có liên quan.

Theo kinh nghiệm của nhiều nước thì một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh dù có

thể được coi là đem lại hiệu quả kinh tế vẫn không được hưởng miễn trừ, trừ phi thỏa

thuận đó là cần thiết và không thể tránh khỏi, nghĩa là nếu như không có thỏa thuận hạn

chế cạnh tranh thì sự hợp tác giữa các doanh nghiệp sẽ không mang lại hiệu quả như

mong muốn (ví dụ, các thỏa thuận sản xuất chung có thể đi kèm với thỏa thuận bán

chung, thỏa thuận này sẽ là hiệu quả nếu như khơng có thỏa thuận này các doanh nghiệp

sẽ không hợp tác đầu tư sản xuất do chi phí hoặc rủi ro quá lớn). Ngoài ra, một thỏa

thuận hạn chế cạnh tranh được cho là đem lại hiệu quả kinh tế cũng sẽ không được

hưởng miễn trừ nếu thỏa thuận đó dẫn đến việc loại bỏ đáng kể cạnh tranh trên thị

trường dựa trên việc đánh giá tính cạnh tranh trên thị trường trước và sau khi thỏa thuận

được thực hiện ( chẳng hạn khi tình hình cạnh tranh trên thị trường đối với một sản

phảm vốn dĩ đã yếu thì việc cho phép thực hiện một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong

trường hợp này là hồn tồn khơng nên).

+ Để giảm thiểu những hậu quả do quá trình chuyển đổi nền kinh tế gây ra, chính

phủ có thể phải ban hành một số những biện pháp cần thiết, đặc biệt là những biện pháp

bảo hộ sản xuất trong nước. Trong số những biện pháp này có những biện pháp cho

phép những DN được liên kết, thỏa thuận với nhau, song những biện pháp này cần được

suy xét thận trọng nhằm phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với khung pháp lý của

14



Bài Tập Lớn học kỳ



Môn: Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.



các tổ chức quốc tế mà chúng ta là thành viên, đặc biệt là pháp luật của WTO. Đồng

thời cũng đảm bảo lợi ích lâu dài cho Việt Nam, thiết nghĩ pháp luật cạnh tranh Việt

Nam nên bổ xung thêm 2 trường hợp miễn trừ trong Điều 10 Luật Cạnh tranh 2004 như

sau: “Thỏa thuận giữa các doanh nghiệp trong hồn cảnh khó khăn chung của cả

ngành hay của nền kinh tế nếu các thỏa thuận đó nằm trong chủ trương chung của Nhà

nước và cần thiết để vượt qua khó khăn.”

+ Để đảm bảo thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật cạnh tranh

về các trường hợp miễn trừ đối với TTHCCT bị cấm thì cơng tác tun truyền phổ biến

pháp luật cần phải được tiến hành một cách bài bản và có hiệu quả. Việc thực hiện pháp

luật có hiệu quả hay không phần lớn phụ thuộc vào ý thức của người chấp hành pháp

luật, vì thế quy định của pháp luật đưa ra cần phải đến tay người dân, để họ hiểu và có ý

thức chấp hành pháp luật. Những vụ việc, sai phạm như trên chỉ có thể biến mất khi các

doanh nghiệp, người dân hiểu và nắm vững pháp luật để tránh những trường hợp ngang

nhiên vi phạm pháp luật một cách trắng trợn nhưng lại không biết rằng minh đang vi

phạm pháp luật chỉ vì do chưa hiểu biết rõ về pháp luật.

III.



KẾT LUẬN



Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như phân tích trong bài xét dưới một góc độ nhất

định, với một mức độ nhất định và đặt lên bàn cân kinh tế thì nó có những tác động tích

cực đến nền kinh tế quốc dân, góp phần ổn định phát triển thị trường. Tuy nhiên việc

chấp nhận các trường hợp miễn trừ của những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm cần

phải được xem xét một cách thận trọng nếu khơng sẽ có thể gây những hậu quả tiêu cực

cho người tiêu dùng cũng như cho cả nền kinh tế, bởi chỉ khi thị trường nội địa được

bảo đảm lành mạnh thì mới thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước phục vụ

cho q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.



~DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO~

---o0o--1. Luạt Cạnh tranh năm 2004.



15



Bài Tập Lớn học kỳ



Môn: Luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.



2. Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Cạnh tranh.

3. Tập bài giảng Luật Cạnh tranh, Trường đại học Luật Hà Nội, TS. Nguyễn

Thị Vân Anh chủ biên, Hà Nội – 2011.

4. Giáo trình Luạt Cạnh tranh, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí

Minh,, PGS.TS. Lê Danh Vĩnh chủ biên, TP. Hồ Chí Minh – 2010.

5. Phạm Hoàng Giang, Xây dựng pháp luật cạnh tranh ở việ nam – một số

vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội – Năm 2001.

6. Hoàng Thị An Khánh, Cơ quan quản lý cạnh tranh trong xử lý vụ việc liên

quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Năm 2008.

7. Đồng Ngọc Dám, Kiểm soát thỏa thuận hạn chế cạnh tranh - những vấn

đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội – 2007.

8. Trần Thị Thu Thủy, Thực trạng pháp luật về cạnh tranh và phương hướng

xây dựng luật cạnh tranh ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học. Hà Nội

– 2008.

9. Websile tham khảo:

http://google.com.vn

http://danluat.thuvienphapluat.vn



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực tế áp dụng pháp luật và kiến nghị về Các trường hợp miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật cạnh tranh 2004.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×