Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

khích hỗ trợ bảo vệ nền sản xuất trong nước việc ban hành, sửa đổi, bổ sung bộ phận

pháp luật này cần thiết phải căn cứ vào thực trạng phát triển của nền sản xuất trong

nước, sức cạnh tranh của hàng hóa nước mình trên thị trường quốc tế. Trong điều

kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế các quốc gia phải câm kết giảm thuế quan

theo lộ trình nhất định. Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải nghiên cứu đánh giá so sánh

trong từng ngành hàng cụ thể để xác định những ngành hàng sản xuất nào cần được

bảo hộ, mức độ bảo hộ và thời hạn bảo hộ.... Đối với những hàng hóa có uy tín trên

thị trường quốc tế có khả năng cạnh tranh cao thì khơng cần sự bảo hộ mà lấy đó

làm cơ sở cho việc đàm phán về thuế quan với các quốc gia khác.... Qua đó có những

cơ sở cho việc đàm phán thương mại và quy định mức thuế đối với từng nhóm hàng

hóa nhập khẩu trong pháp luật thuế nhập khẩu của mình. Từ thực trạng hoạt động

sản xuất, nhập khẩu hàng hóa để phát hiện ra hành vi cạnh tranh không lành mạnh

trong thương mại quốc tế và tác động cụ thể của nó đối với hành vi đối với nền kinh

tế quốc gia mình từ đó ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định thuế nhập khẩu nhằm

bảo vệ lợi ích quốc gia mình trong khn khổ pháp luật cho phép.

Ví dụ: Vào thời điểm khoảng tháng 2 và tháng 3 năm 2004, mặt hàng sắt thép

trên thị trường đột ngột tăng giá. Từ thực trang đó, Nhà nước đã phải điều chỉnh theo

hướng là giảm thuế nhấp khẩu đối với mặt hàng phơi thép và thép thành phẩm nhập

khẩu. Theo đó, Bộ tài chính đã ban hành quyết định số 22/2004/QĐ-BTC ngày 27

tháng 2 năm 2004 về việc quy định mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một

số mặt hàng sát thép.

2.2. Nhu cầu ngân sách nước đối với thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là một nguồn thu quan trọng đối với ngân sách nhà nước. Đối

với những nước đang phát triển như Việt Nam thì thuế xuất khẩu là nguồn thu quan

trọng của ngân sách nhà nước. Những số liệu về tỷ trọng của số thu hải quan so với

tổng thu ngân sách trong những năm qua đã thể hiện rõ điều đó. Nguồn thu ngân

sách nhà nước được cấu thành từ các nguồn chính : thuế, phí và lệ phí. Trong đó,

thuế đóng góp một tỉ trọng lớn, ảnh hưởng đến quy mô ngân sách. Trong cơ cấu

thuế, thuế nhập khẩu chiếm một phần quan trọng. thông qua thuế nhập khẩu, nhà

nước huy động một phần nguồn thu nhập được tạo ra từ hoạt động nhập khẩu hàng

hóa tập trung vào ngân sách. Tùy thuộc vào mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau,

sự phát triển kinh tế đối ngoại, quan điểm sử dụng mà thuế nhập khẩu có vai trò khác

nhau đối với những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu ngân sách nhà

nước. Với các nước phát triển, nguồn thu từ thuế nhập khẩu chiếm một tỷ trọng

không đáng kể trong nguồn thu ngân sách nhà nước (chỉ từ 1- 5%). Tuy nhiên, ở các

8



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

nước đang phát triển, thuế nhập khẩu luôn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu

ngân sách. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, thuế xuất, nhập khẩu (chủ yếu là

thuế nhập khẩu), đóng góp khoảng 25 – 30% tổng thu về thuế.

Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế, và thực hiện các cam

kết cắt giảm thuế: ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, WTO…

nguồn thu về thuế nhập khẩu giảm dần trong tổng thu về thuế. Khi hội nhập kinh tế

quốc tế, Việt Nam ký kết và thực hiện các cam kết về thương mại quốc tế, trong đó

có những cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu dẫn đến hàng hóa nhập khẩu tăng cạnh

tranh với các sản phẩm hàng hóa trong nước. Kết quả là kích thích tiêu dung, từ đó

thu được nhiều loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,

thuế tiêu thụ đặc biệt… Các nước thành viên khác cũng phải cắt giảm thuế quan từ

đó dẫn đến việc kích thích các nước khác tăng hàng xuất khẩu dẫn đến tăng thu ngân

sách nhà nước từ các hàng xuất khẩu sang các nước thành viên đó. Như vậy, việc cắt

giảm thuế nhập khẩu vừa làm tăng thu ngân sách vừa làm giảm thu ngân sách do đó

phải có sự tính tốn kỹ lưỡng.

2.3. Ý thức của chủ thể nộp thuế trong lĩnh vực thuế nhập khẩu

Khi nói về việc thực thi bất kỳ một đạo luật nào trong cuộc sống khơng thể

khơng nói tới ý thức pháp luật của người dân khi tham gia vào các quan hệ xã hội do

đạo luật đó điều chỉnh. Cụ thể đối với các quy định của luật nhập khẩu, một trong số

những chủ thể tham gia vào phải kể đến các nhà nhập khẩu. Tuy nhiên ý thức pháp

luật của những chủ thể này lại đặc biệt yếu kém. Mỗi khi cơ quan nhà nước có chính

sách mới về xuất nhập khẩu là ngay lập tức các chủ thể đó cũng nghiên cứu tìm ra

phương pháp đối phó với chính sách mới đó. Đây là một yếu tố quan trọng ảnh

hưởng đến việc thực thi Luật thuế nhập khẩu. Hiện nay có những gian lận chủ yếu

sau trong việc nộp thuế của các chủ thể nộp thuế.

• Về giá tính thuế nhập khẩu.

Một số thủ đoạn gian lận giá có tính chất phổ biến và điển hình trong q trình áp

dụng về giá tính thuế nhập khẩu có thể kể đến như:

Thứ nhất, thủ đoạn khai báo giá không trung thực: Với cách này, bên nhập khẩu

sẽ thông đồng với nhà sản xuất để khai báo trị giá hàng hóa nhập khẩu thấp hơn so

với trị giá hàng hóa trong thực tế. Đa số nhà xuất khẩu khi đã có quan hệ giao dịch

với nhà nhập khẩu thì họ đều bảo vệ khách hàng của mình vì điều này có lợi cho nhà

xuất khẩu tiêu thụ được sản phẩm. Do đó giao dịch dễ dàng được thực hiện theo hai

hay nhiều hợp đồng để đối phó với cơ quan hải quan. Điển hình trong trường hợp

này là vụ khai báo sai trị giá hàng hóa là điện thoại di động của cơng ty Đơng

9



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

Nam. Giám đốc của cơng ty này là Nguyễn Gia Thiều đã móc nối với công ty

Đông Nam Hồng Kông mua trên 40.000 điện thoại di động, khai giá thấp hơn so

với giá thực tế thanh toán từ 75USD đến 375USD/chiếc trốn thuế nhập khẩu

trên 100 tỷ đồng.

Thứ hai, thủ đoạn khai thấp về chất lượng hàng hóa: Doanh nghiệp sẽ khai

báo hàng hóa của họ là hàng thứ phẩm, hàng tồn kho, hàng vỡ vụ nhiều…do

vậy sẽ được giảm thuế suất so với hàng hóa cùng loại thơng thường.

Thứ ba, thủ đoạn khai báo hàng khơng thanh tốn, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo:

Theo công văn hướng dẫn của ngành hải quan, nếu doanh nghiệp nhập hàng hóa

có kèm hàng hóa khuyến mại thì sẽ được miễn thuế đối với hàng hóa đi kèm. Lợi

dụng điều này, nhiều cơng ty đã nhập số lượng hàng hóa khuyến mại gấp nhiều lần

hàng hóa nhập khẩu chính. Ví dụ: cơng ty An Nam nhập khẩu 104 chai nước làm

mềm da có khuyến mãi 96 chai. Tồn bộ lơ hàng sau mỗi mục đều có số lượng hàng

siêu F.O.C (hàng mua một tặng nhiều hơn một). Cơng ty này đã bị Phòng trị giá tính

thuế bác bỏ trị giá giao dịch.

Thứ tư, thủ đoạn đánh đồng tên hàng nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại

cao hơn. Ví dụ doanh nghiệp khai báo đồng hồ treo tường, nếu không để ý rõ, không

yêu cầu doanh nghiệp xuất trình mẫu hàng hoặc ra bãi xem cụ thể thì cán bộ Hải

quan dễ bị nhầm lẫn vì đồng hồ treo tường có hàng trăm loại khác nhau với giá cả rất

chênh lệch.

Với các thủ đoạn tinh vi như trên khiến cho công tác xác định giá gặp nhiều khó

khăn, khó xác định được chính xác giá tính thuế nhập khẩu, từ đó sẽ xác định sai

mức thuế mà doanh nghiệp phải nộp. Điều này đã khiến công tác thực thi pháp luật

thuế nhập khẩu gặp nhiều khó khăn, khơng đạt được hiệu quả như mong muốn.

• Thuế suất thuế nhập khẩu.

Các nhà nhập khẩu có vơ vàn cách biến hóa nhằm trốn thuế hoặc hưởng thuế suất

thấp hơn để thoát khỏi hoặc giảm bớt một phần nghĩa vụ thuế đối với nhà nước như:

Thứ nhất, thủ đoạn gian lận giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) để

hưởng thuế suất ưu đãi. Ví dụ : 15 doanh nghiệp nhập khẩu tổng cộng gần 42.000

tấn thép tấm lá cán nguội (CRC) từ Phillipine vào Việt Nam với mức giá thấp hơn cả

mức giá nội địa của sản phẩm tại Phillipine nhằm trốn thuế thông qua việc sử dụng

C/O có lai lịch bất minh: Nội dung C/O From D có thay đổi (dao động từ 400 – 600

USD/tấn) nhưng hàm lượng ASEAN không thay đổi (cùng là 40%); hình thức của

C/O From D có một số điểm khơng phù hợp với quy định như: lẽ ra số tham chiếu

trên C/O phải có số thứ tự để thể hiện nguồn gốc chính xác của văn bản nhưng hầu

10



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

hết các số tham chiếu trên C/O lại trùng nhau (nội dung khác nhau nhưng lại có cùng

một số tham chiếu); con dấu cách sao theo quy định của ASEAN chỉ được đóng lên

C/O trong trường hợp hải quan cấp C/O không trùng với ngày xếp hàng lên tàu. Với

những nghi vấn trên, Cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh đã dừng ngay việc áp

dụng thuế suất ưu đãi 0% (theo quy chế dùng cho hiệp định CEFI) đối với các lô

hàng là theo CRC. Theo cam kết, mức thuế MFN dành cho mặt hàng này là 7%.

Trong năm 2006, 15 doanh nghiệp đã lập về Việt Nam tổng cộng 42.000 tấn thép

CRC, tính ra số tiền nhà nước bị thất thu thuế lên đến khoảng 28,5 tỷ đồng.

Thứ hai, thủ đoạn khai sai nguồn gốc xuất xứ hàng hóa nhằm hưởng lợi từ việc

ưu đãi về thuế đối với các nước mà Việt Nam có cam kết giảm thuế. Điển hình là

trường hợp Vũng Tàu Sinhanco khai sai xuất xứ hàng hóa bột ngọt để trốn

thuế nhập khẩu.

Ngồi ra còn có một số thủ đoạn gian lận khác mà nhà nhập khẩu có thể sử dụng,

ví dụ như khai báo gian dối về tên hàng hóa nhập khẩu để được áp mã và hưởng thuế

suất thấp hơn. Minh chứng cho việc gian lận thuế suất này có thể lấy công ty cổ phần

xuất nhập khẩu Y tế TP.HCM (Yteco) là ví dụ. Khi Yteco nhập khẩu các

loại thuốc như Nimfast, Rofegessic, Ikomin,… là các loại thuốc giảm đau có

thuế suất 10% (mã 3004959), Yteco đã tự sửa toa thuốc, bỏ cụm từ “giảm đau” để

áp mã số thuế 30049099 có thuế suất bằng 0%. Bằng cách này, công ty đã liên tục

nhập khẩu thuốc về Việt Nam mà khơng tốn một xu tiền thuế nào.

• Khơng kê khai trung thực thuế nhập khẩu.

Theo quy định hiện hành của pháp luật thuế nhập khẩu, việc kê khai thuế nhập

khẩu là do chủ thể tiến hành hoạt động nhập khẩu tự thực hiện, điều này đòi hỏi nhà

nhập khẩu phải thực hiện tự giác, trung thực, nghiêm chỉnh.

Nội dung kê khai trong các tờ khai hải quan bao gồm kê khai về mặt hàng nhập

khẩu, số lượng hàng nhập khẩu và trị giá hải quan. Cả ba nội dung này trên thực tế

đều không được kê khai một cách trung thực và khó có thể dựa vào ý thức “tự giác”

của nhà nhập khẩu. Về vấn đề hàng hóa, rất khó có thể phân biệt và mã hóa loại hàng

hóa nhập khẩu một cách chính xác, bởi lẽ hàng hóa nhập khẩu là vơ cùng đa dạng về

chủng loại. Về số lượng, nếu cán bộ hải quan không ra tận bãi kiểm tra một cách trực

tiếp thì khơng thể hoàn toàn tin tưởng vào số lượng mà nhà nhập khẩu khai báo.

Phần lớn các lô hàng nhập khẩu đều có số lượng thừa rất nhiều so với số lượng khai

báo, đặc biệt là đối với nguyên liệu dệt may, rất khó có thể kiểm tra được chính xác

số lượng mà doanh nghiệp khai báo và kèm theo trong lô hàng đó có hàng lậu hay

khơng. Về trị giá hải quan, như đã phân tích ở trên, nhà nhập khẩu có vơ vàn màn ảo

11



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

thuật về giá và giá mà nhà nhập khẩu đưa ra bao giờ cũng là giá thấp nhất so với

thực tế. Công tác xác định trị giá hải quan hàng nhập khẩu hiện nay vẫn còn rất

nhiều khó khăn và chưa thể giải quyết dứt điểm tình trạng này.

2.4. Yếu tố nước ngồi

2.4.1. Xu hướng hội nhập và chính sách thương mại quốc gia

Chính sách thương mại là một hệ thống các quan điểm, giải pháp liên quan

đến thuế quan, bảo hộ, các quy chế thương mại, thơng qua đó Chính phủ có thể thực

hiện sự phân bổ nguồn lực theo những định hướng nhất định. Chính sách thương mại

liên quan chặt chẽ đến chính sách đầu tư, chính sách tài chính tiền tệ, và nói chung

được quy định bởi đường lối phát triển của quốc gia.

Pháp luật thuế nhập khẩu thể hiện chính sách thương mại quốc tế của quốc

gia. Chính sách thương mại gồm hai dạng điển hình là chính sách tự do hóa thương

mại và chính sách bảo hộ mậu dịch. Hai xu hướng này tuy về mặt lý thuyết chúng

trái ngược nhau nhưng trên thực tế chúng lại tồn tại song song với nhau:

Chính sách tự do hóa thương mại nhằm thúc đẩy khả năng cạnh tranh bình đẳng

giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa ngoại nhập thơng qua việc cắt giảm thuế xuất

khẩu hoặc các biện pháp khuyến khích khác để thúc đẩy xuất khẩu, xóa bỏ hoặc cắt

giảm thuế nhập khẩu để hàng hóa nước ngồi tràn vào nhằm mở rộng thị trường nội

địa, đặc biệt là hàng hóa nước mình sẩn xuất với chi phí cao. Đây là quá trình giảm

bớt sự can thiệp tình chất bảo hộ của nhà nước vào hoạt động thương mại, theo đó

vai trò của nhà nước chỉ nên giớ hạn ở việc tạo ra môi trường phù hợp cho các quan

hệ thương mại.

Chính sách bảo hộ mậu dịch lại bảo hộ nền sản xuất trước sự cạnh tranh của hàng

hóa nước ngồi bằng cách áp dụng thuế nhập khẩu cao đối với mặt hàng nhập khẩu.

Pháp luật thuế nhập khẩu có chức năng đặc thù là bảo hộ nền sản xuất trong nước

chống lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa

nước ngoài. Nhưng trong điều kiện hội nhập quốc tế, xu hướng tự do thương mại

ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trên thế giới thì pháp luật thuế nhập khẩu cũng

phải theo xu hướng giảm dần mức thuế suất.

Như vậy, pháp luật thuế nhập khẩu luôn luôn bị ảnh hưởng của chính sách thương

mại quốc tế trong q trình hội nhập.

Ví dụ: Trong tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động, tiềm ẩn nhiều

cơ hội và thách thức đan xen nhau, Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ IX của Đảng đã nêu rõ chủ trương và phương châm cuả ta là: “chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm độc lập và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi

12



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ mơi

trường”. Theo đó, thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam gia nhập

nhiều tổ chức Quốc tế, tiến hành mở cửa nền kinh tế. Do đó, pháp luật về thuế nhập

khẩu cũng có sự thay đổi. Theo đó, đối với mặt hàng ơ tơ nhập khẩu từ ASEAN đến

năm 2015 sẽ giảm xuống còn 0-5%.

2.4.2. Các cam kết quốc tế liên quan đến thuế nhập khẩu (AFTA, APEC, WTO)

• Trong khn khổ AFTA:

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu

của ASEAN Free Trade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương

giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế

quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm

hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước.

Điểm mấu chốt của AFTA là các nước ASEAN cam kết giảm thuế quan cho

hàng nhập khẩu của các nước thành viên theo biểu thuế quan ưu đãi có hiệu lực

chung (CEPT). Theo CEPT, một kế hoạch giảm thuế cho hàng nhập khẩu trong

phạm vi các nước ASEAN như sau: a) Chương trình giảm thuế ngay ; b) Chương

trình giảm thuế thông thường ; c) Những sản phẩm tạm thời khơng nằm trong

chương trình giảm thuế; d) Những sản phẩm nằm trong danh mục hàng nhạy cảm ;

e) Những sản phẩm hồn tồn khơng bao giờ giảm thuế.

Việt Nam đã là một thành viên của AFTA kể từ khi chúng ta gia nhập ASEAN

vào tháng 7 năm 1995. Điều này nghĩa là, Việt Nam chịu sự ảnh hưởng, ràng buộc

bởi các mục tiêu, kế hoạch của AFTA về việc cắt giảm thuế quan cho hàng nhập

khẩu trong phạm vi các nước ASEAN. Bắt đầu từ năm 1996, Việt Nam đã công bố

danh sách một số lượng lớn các loại hàng hố của ta nằm trong chương trình giảm

thuế ngay. Đồng thời, chúng ta đã bắt đầu cắt giảm thuế cho 875 mặt hàng, trong đó

57% lượng mặt hàng trên đã có mức thuế từ 0-5% rồi, số mặt hàng đang có mức thuế

20% chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ khoảng từ 17 - 21%.

• Trong khn khổ WTO:

Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization - WTO)

là tổ chức quốc tế có trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định

thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt

động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để

tiến tới tự do thương mại.

Việt Nam đã chính thức trở thành viên của tổ chức kinh tế này từ năm 2007,

do vậy, Việt Nam cần phải có sự điều chỉnh mức thuế quan cho phù hợp với mục

13



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

đích chung của tổ chức.Theo đó, trong khn khổ WTO Việt Nam đã cam kết thực

hiện điều chỉnh thuế quan của Việt Nam trong WTO thông qua Biểu cam kết về

Hàng hoá của Việt nam:

+ Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành

gồm 10.600 dòng thuế.

+ Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình qn giảm đi 23% so với mức

thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống

còn 13,4%). Thời gian thực hiện sau 5- 7 năm.

+ Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam cắt giảm thuế với khoảng 3.800

dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế);

• Trong khn khổ APEC:

APEC là diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ra đời năm

1989, sự ra đời của APEC đã thúc đẩy quá trình hợp tác kinh tế CA-TBD lên một

bước mới. Nó ủng hộ hệ thống thương mại đa phương bằng cách khuyến khích tất cả

các nước thành viên của mình giảm hàng rào thuế quan đối với thương mại và đầu tư

không những cho các nước thành viên mà còn cho những nước ngồi APEC. Chính

phủ các nước này luôn luôn cố gắng tránh tất cả các thoả thuận mang tính phân biệt

dối xử với các nước khơng phải thành viên của APEC. Phần lớn các nước thành viên

Châu Á của APEC đều nhấn mạnh đến tính chất tư vấn của nhóm với nghĩa là Hiệp

hội kinh tế mở hay chủ nghĩa khu vực mở.

Là một thành viên của APEC, Việt Nam có nghĩa vụ phải điều chỉnh, cắt giảm

dần mức thuế quan đối với thương mại và đầu tư sao cho phù hợp với mục tiêu phát

triển của diễn đàn. Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn APEC

năm 1998, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC như

Báo cáo về Chương trình Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chương trình

Hành động tập thể, các kế hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầu tư...

Nhanh chóng hội nhập vào các tổ chức kinh tế: WTO, APEC, AFTA là yêu cầu

cấp thiết của nước ta, và là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy cơng

nghiệp hố đất nước ta một cách nhanh chóng, tránh được nguy cơ tụt hậu theo như

Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã vạch ra. Bởi vậy, xu thế tự

do hoá mậu dịch theo yêu cầu của AFTA, APEC, WTO là cần thiết, muốn thực hiện

được,ta buộc phải thiết lập một biểu thuế nhập khẩu hợp lý, do đó, sẽ khuyến khích

các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động nhập khẩu theo đúng luật pháp quy định

mà vẫn có lãi còn hơn là buộc phải chấp nhận rủi ro buôn lậu hoặc thực hiện các biện

pháp gian dối khác mà theo đó phải kéo theo các chi phí phụ để giảm thuế hoặc trốn

14



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

thuế.

3. Ý kiến pháp lí của nhóm nhằm phát huy hiệu quả của các yếu tố chi

phối luật thuế nhập khẩu

Thơng qua việc tìm hiểu những yếu tố chi phối pháp luật thuế nhập khẩu,

đồng thời trước thực tế thực hiện pháp luật thuế nhập khẩu ở nước ta hiện nay, nhóm

nhận thấy những mặt hạn chế của các yếu tố chi phối pháp luật thuế nhập khẩu. Do

vậy, việc hoàn thiện pháp luật thuế nhập khẩu là một u cầu cấp thiết. Vì vậy, nhóm

xin đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của các yếu tố chi phối luật thuế

nhập khẩu.

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp thực tế

Cần ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cho phù hợp với

cam kết quốc tế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện hệ

thống pháp luật sẽ tạo ra hành lang pháp lí đầy đủ và thống nhất cho hoạt động nhập

khẩu. Hoàn thiện các quy định về thuế nhập khẩu, thuế chống bán phá giá, thuế

chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử để đảm bảo lợi ích của Việt Nam khi hội

nhập kinh tế quốc tế.

• Về thuế suất: Hiện nay thuế suất của nước ta còn nhiều khung so với các mức thuế

suất khác nhau. Do đó, kiến nghị nên có những quy định giảm bớt sự chênh lệch

giữa các mức thuế suất, xây dựng lộ trình giảm thuế nhập khẩu hợp lí. Đặc biệt, cần

sửa đổi các quy định về tỷ lệ thuế suất thông thường so với thuế suất ưu đãi để tránh

hiểu lầm trong q trình thực hiện thu và nộp thuế nhập khẩu.

• Về thuế suất tuyệt đối : Trong nhập khẩu hàng hóa nên hạn chế áp dụng và cần quy

định rõ trong luật thuế nhập khẩu danh mục những mặt hàng có thể đưa vào áp dụng

loại thuế suất này.

• Về miễn giảm thuế nhập khẩu: Cần rà sốt lại tồn bộ các trường hợp miễn giảm

thuế nhập khẩu trong luật thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn. Đối với các loại

phí và lệ phí liên quan đến nhập khẩu cũng cần được rà soát, điều chỉnh lại cho phù

hợp với các cam kết số phí, lệ phí thực thu khơng vượt q chi phí của dịch vụ cung

ứng, khơng nhằm mục đích thu ngân sách, khơng có phân biệt đối với hàng nhập

khẩu hay hàng xuất khẩu, không có ngoại lệ dựa trên xuất xử của nước xuất hàng

hoặc đích đến …

• Về việc truy thu thuế: Cũng có những quy định của luật tạo ra nhiều kẽ hở để chủ thể

nộp thuế trốn tránh hoặc gian lận thuế. Pháp luật cần có quy định để tạo ra cơ chế

giám sát phù hợp quá trình chuyển nhượng tài sản của đối tượng bị truy thu thuế

nhưng đã thực hiện việc chuyển nhượng cho các đối tượng thuộc diện miễn thuế, xét

giảm thuế …

15



Bài tập nhóm tháng 2 Mơn Luật Tài chính

Nhóm 2 Lớp N08 – TL2

3.2. Giải pháp cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, hợp lí

Về vấn đề đơn giản hóa thủ tục hải quan, tổng cục hải quan phải kết hợp với

Bộ tài chính cải cách và phổ biến cách thức quản lí mới. Cần đơn giản hóa bộ hồ sơ

hải quan, cụ thể nên bỏ bớt một số giấy tờ như giấy giói thiệu, tờ khai trị giá, bộ hồ

sơ coppy, hợp đồng thương mại. Đặc biệt với nhóm hành gia cơng yêu cầu nộp bảng

khai nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự cung ứng trong nước là không thực tế.

Đồng thời, cần cải cách khung pháp lí về quản lí hàng nhập khẩu theo hướng

đơn giản, công khai, minh bạch đồng thời tăng cường hiện đại hóa ngành hải quan

thơng qua việc áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hải quan.

3.3. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành

của chủ thể nộp thuế

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn và chỉ đạo chính sách thuế

nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong và ngồi nước có tham gia vào quan hệ thuế

nhập khẩu để nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế nhập

khẩu của các doanh nghiệp. Từ đó sẽ đảm bảo cho hoạt động thu, nộp thuế nhập

khẩu được tiến hành dễ dàng và hiệu quả.

Bên cạnh đó, cần cải thiện chế tài xử phạt vi phạm với các hành vi trốn thuế

và hành vi chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Cần thiết phải xử phạt nặng những cá

nhân trốn thuế để răn đe các chủ thể khác, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.



C. KẾT LUẬN

Pháp luật thuế Việt Nam nói chung và pháp luật thuế nói riêng được ban hành

trên cơ sở yêu cầu thực tiễn đòi hỏi, tiếp thu tinh hoa hệ thống pháp luật đã và đang

áp dụng ở các quốc gia điển hình. Các yếu tố chi phối đã phân tích ở trên, nếu Nhà

nước biết phát huy một cách hiệu quả sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

nước ta trong bối cảnh hiện nay.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×