Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mức độ thể chế hóa các nguyên tắc trong hệ thống pháp luật thuế

Mức độ thể chế hóa các nguyên tắc trong hệ thống pháp luật thuế

Tải bản đầy đủ - 0trang

thuế là cá nhân cư trú. Có thể hiểu như sau: Hai cá nhân A và B cùng có mức thu

nhập là 200.000.000 đồng/năm từ tiền lương, tiền công và họ phải chịu thuế thu

nhập cá nhân theo quy định. Nhưng nhà nước không thể thu của cả 2 người như

nhau với thuế suất là 15% ( số tiền là 30.000.000 đồng). Bởi anh A khơng có

người phụ thuộc, trong khi anh B lại có 3 người phụ thuộc. Anh B sẽ có mức

giảm trừ gia cảnh là 57.600.0000 đồng cho 3 người phụ thuộc và mức đóng thuế

thu nhập cá nhân của anh còn lại 142.400.000 đồng, mức thuế suất là 15% và số

tiền thuế phải đóng là 21.360.000 đồng.

Nguyên tắc thuế đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp

thuế.

Thuế không thể trở thành gánh nặng hoặc làm cho người nộp thuế lâm vào

cảnh khốn cùng, khơng thể bóp méo sản xuất hoặc làm đảo lộn đời sống của

người dân. Chính vì thế cần một biểu thuế phù hợp cho từng loại thuế, đảm bảo

nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo định hướng phát triển cho các ngành

sản xuất, lại vừa ổn định đời sống nhân dân.

Trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010, Nhà nước đã quy

định về việc các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình khi sử dụng diện tích đất phi nơng

nghiệp thep quy Điều 2 thì phải nộp thuế sử dụng đất phi nơng nghiệp. Nguyên

nhân của quy định này xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân với đất đai mà nhà

nước là đại diện. Đất đai do nhà nước quản lí, các cá nhân, hộ gia đình, các tổ

chức được sử dụng đất do nhà nước giao cho, cho thuê hoặc cấp đất thì phải đóng

tiền thuế sử dụng đất phi nơng nghiệp. ( Diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi

nơng nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp,đất làm mặt bằng sản xây

dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoảng sản, đất sản xuất

vật liệu xây dựng, làm đồ gốm). Việc quy định thuế sử dụng đất nông nghiệp tạo

một nguồn thu đáng kể cho nhà nước, lại đảm bảo chính sách đất đai nhất qn.

Nhà nước có thể hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ đất đai và làm cho thị trường

bất động sản phát triển hơn. Diện tích đất phi nơng nghiệp nằm trong đối tượng

chịu thuế là các diện tích đất kinh doanh, sản xuất nên lợi nhuận chắc chắn cao

hơn sản xuất nơng nghiệp.Chính vì thế nhà nước quy định thuế suất 0,03%/1m 2

với các diện tích trong hạn mức vẫn là hợp lí, đảm bảo thuế sử dụng đất khơng

q nặng nề, lại đảm bảo có một nguồn thu bền vững trong quá trình sử dụng đất

của người sử dụng. Sự bảo đảm quyền lợi cho người sử dụng qua các nghĩa vụ tài

chính mà cụ thể là thuế đã nộp cho nhà nước đó là: Nhà nước đảm bảo cho họ sử

dụng lâu dài, ổn định, không chủ thể nào được phép xâm phạm bất hợp pháp, nếu

có dự án quy hoạch thuộc nhà nước sẽ có đền bù thỏa đáng.

-



Nguyên tắc thuế đảm bảo dễ hiểu và đạt hiệu quả

6



Nguyên tắc này là yêu cầu về cả nội dung và hình thức của một luật thuế để

tất cả các đối tượng nộp thuế hiểu được vì sao mình phải có nghĩa vụ đó, các u

cầu mà nhà nước đặt ra, quyền lợi được hưởng từ việc nộp thuế. Xét cho cùng,

người lao động trong xã hội là người lao động nên cần dễ hiểu để đảm bảo thuế

thu về cho nhà nước, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật thuế.

Trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 nguyên tắc đánh thuế phải đảm

bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả cũng được Luật thuế tiêu thụ đặc biệt thể hiện qua các

quy định rất cụ thể, dễ hiểu, đầy đủ các vấn đề liên quan đến thuế tiêu thụ đặc

biệt đó là; quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp

thuế, căn cứ tính thuế, hồn thuế, khấu trừ thuế và giảm thuế tiêu thụ đặc biệt.

Đặc biệt, quy định về thuế suất trong biểu thuế tiêu thụ đặc biệt tại Điều 7 khá chi

tiết nhưng vẫn rất dễ hiểu, đó là có sự phân biệt loại hàng trong cung một nhóm

hàng. Ví dụ cùng là rượu, tùy theo nồng độ cồn và công dụng của rượu mà thuế

suất được quy định thành bốn bậc khác nhau: thuế suất cao nhất là 45% đánh vào

rượu mạnh từ 40 độ trở lên và thấp nhất là 15% đánh vào rượu, thuốc lá...Ngoài

ra, thuế suất của một số mặt hàng như rượu, bia còn được quy định theo thời gian

nên đảm bảo được tính ổn định và thể hiện được định hướng của nhà nước.

Nguyên tắc thuế tránh đánh hai lần cùng một loại thuế đối với một đối

tượng chịu thuế.

Nguyên tắc này nhằm đảm cho thuế không đánh trùng lên thuế với một đối

tượng, không phải là trường hợp đánh nhiều loại thuế lên một đối tượng mà là

một loại thuế đánh hai lần.

Trước khi Luật thuế giá trị gia tăng ra đời năm 1990, ở Việt Nam vẫn đánh

thuế doanh thu. Căn cứ tính thuế doanh thu là doanh thu tính thuế và thuế suất.

Theo đó, doanh thu tính thuế là tồn bộ doanh thu phát sinh của mỗi khâu sản

xuất lưu thơng, như vậy hàng hóa càng qua nhiều khâu lưu thơng thì số tiền thuế

càng nhiều và giá cả càng lớn. Hiện tượng thuế đánh chồng lên thuế được coi là

hạn chế cơ bản vì đánh thuế dựa trên tồn bộ giá trị hàng hóa. Thuế giá trị gia

tăng ra đời chính thức năm 1997 và áp dụng từ 1999, đã khắc phục những hạn

chế trên. Thuế giá trị gia tăng chỉ đánh thuế vào phần tăng thêm của hàng hóa qua

q trình sản xuất, lưu thơng chứ khơng đánh vào toàn bộ.

Hoặc đối với thuế thu nhập cá nhân, vấn đề thu thuế thu nhập cá nhân đối

với khoản thu mà cơng dân Việt Nam có được trên lãnh thổ nước ngoài, cần dựa

vào các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia hữu quan để hạn chế tình

trạng thuế thu nhập cá nhân phải nộp ở cả Việt Nam và nước ngoài.



7



4.



-



Hạn chế trong việc thể chế hóa các nguyên tắc đánh thuế

Thuế chưa đảm bảo cân bằng về lợi ích của nhà nước và người nộp thuế.



Trong nguồn thu ngân sách nhà nước, thuế là nguồn thu quan trọng nhất

vì nó thể hiện nội lực kinh tế của quốc gia, chúng ta không thể trông chờ vào viện

trợ hay vay nợ, còn phí và lệ phí khơng thể đóng góp nhiều cho ngân sách. Tuy

nhiên, nguồn thu từ thuế vẫn chưa thể hiện được vai trò chủ đạo trong nguồn thu

ngân sách.

Thuế suất ở Việt Nam so với các quốc gia trong khu vực về thuế giá trị

gia tăng hay thuế sử dụng đất phi nông nghiệp vẫn là quá thấp. Thuế giá trị giá trị

gia tăng ở Việt Nam là 10%, trong khi ở Đức lên đến 23% và còn tiếp tục tăng

cao. Thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam đánh vào các đối tượng ở mọi công đoạn,

nhưng tỉ suất không cao và khơng đóng góp được nhiều cho ngân sách.

Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy: Thuế được nộp cho ngân sách nhà nước,

thì người nộp thuế muốn nhận được quyền lợi tương xứng với số thuế mà mình

đã nộp. Nhưng trên thực tế, những gì mà người nộp thuế nhận lại được từ nhà

nước thông qua phúc lợi xã hội là còn q ít, gần như là khơng có. Người nộp

thuế chưa nhận được những quyền lợi trực tiếp mà nhà nước bảo đảm cho họ qua

việc nghĩa vụ thuế được hồn thành. Ví dụ như ở Mĩ, một người nếu được xác

nhận là hoàn thành tất cả các nghĩa vụ thuế thì khi có các hoạt động như mua nhà,

họ sẽ được ngân hàng cho vay tiền chả trậm, hoặc mua nhà trả dần…Nhưng ở

Việt Nam điều đó gần như là khơng có. Tiền thuế được sử dụng cho các mục đích

đầu tư phát triển nhưng lại khơng được quản lí tốt dẫn đến thất thốt ngân sách.

Cho dù năm nào Dự toán ngân sách cũng đặt mục tiêu là tập trung đầu tư cho

phát triển con người nhưng hiệu quả lại chưa thật sự cao.

-



Nguyên tắc thuế dễ hiểu và hiệu quả chưa thật sự được thực hiện đúng.

+ Bởi ngay trong bản thân Luật thuế thu nhập cá nhân, các quy định về giảm

trừ gia cảnh cho người nộp thuế gặp phải nhiều bất cập trong thực tiễn, nhiều

người lao động đủ điều kiện nộp thuế không biết mình phải chịu thuế bao nhiêu,

cho các khoản thu nhập nào. Đến năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị định số

101/2011 ban hành bổ sung nhằm tháo gỡ các khó khăn của doanh nghiệp, cá

nhân, theo đó, điều 4 quy định về miễn giảm thuế thu nhập cá nhân. “Miễn thuế

thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 đến hết ngày 31 tháng 12 năm

2012 đối với cổ tức được chia cho cá nhân từ hoạt động đầu tư vào thị trường

chứng khốn, góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp từ cổ tức được chia từ các

ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức tín dụng.

8



2. Giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 đến hết

ngày 31 tháng 12 năm 2012 đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng chứng

khoán của cá nhân.

3. Miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01 tháng 8 năm 2011 đến hết ngày 31

tháng 12 năm 2011 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công

và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế

lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Thu nhập tính thuế làm căn cứ xác định việc miễn thuế quy định tại khoản này là

thu nhập tính thuế bình qn của cá nhân thực nhận trong năm 2011.” Trong

khoảng thời gian 4 tháng thực hiện điều kiện miễn giảm thuế thu nhập cá nhân

theo Nghị định 101/2010, từ 1/1/2012 lại trở lại điều chỉnh bằng Luật thuế thu

nhập cá nhân gây nên nhiều tranh cãi về sự khơng ổn định của các chính sách

pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đến năm 2012 đã có

dự thảo sửa đổi bổ sung và vẫn chưa được thống nhất khi không đồng nhất trong

mức thu nhập đánh thuế. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản hướng dẫn nhiều Nghị

định liên quan khiến cho người nộp thuế khó xác định được các quy định chi tiết

nào cần áp dụng.

+ Luật thuế bảo vệ mơi trường năm 2010 có quy định về việc đánh thuế

đối với túi nilong tại khoản 4 Điều 3. Túi nilong thuộc diện chịu thuế có mức

thuế suất cụ thể là 30.000-50.000 đồng/kg. Đồng thời trong Nghị định 67/2011

hướng dẫn chi tiết thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường có hướng dẫn về túi

nilong khơng thuộc diện chịu thuế đó là các bao bì đóng gói sẵn và theo đúng tiêu

chuẩn thân thiện với môi trường của Bộ Tài nguyên và môi trường. Nhưng vấn

đề đặt ra là: Bộ Tài nguyên và môi trường chưa đưa ra một tiêu chuẩn cụ thể về

bao bì thân thiện với mơi trường để các doanh nghiệp có thể chuyển sang sản

xuất các loại túi nilong thân thiện với mơi trường. Ngồi ra, các sản phẩm nhựa

gia dụng và hàng hóa trên thị trường đều có đến 90% đóng gói nilong và việc quy

định thuế suất cao như vậy sẽ khiến giá cả hàng hóa tăng lên. Tuy việc sử dụng

túi nilong gây hại cho môi trường, nhưng biện pháp đánh thuế cao để hạn chế sử

dụng không phải là cách tốt nhất.

Nguyên tắc tránh đánh hai lần thuế trên một đối tượng chưa được thực

hiện nghiêm chỉnh. Các tình trạng nói trên chủ yếu tồn tại trong trường hợp có

liên quan đến quốc gia khác về thu nhập cá nhân khi công dân Việt Nam hưởng

thu nhập hợp pháp từ quốc gia đó.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mức độ thể chế hóa các nguyên tắc trong hệ thống pháp luật thuế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×