Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những quy định chung của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Những quy định chung của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Tải bản đầy đủ - 0trang

khác có liên quan quy định. Việc mở rộng hơn các chủ thể có quyền u cầu tồ án áp

dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS sẽ góp phần bảo vệ kịp thời, đầy đủ

hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

1.2. Về thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp

dụng trong suốt q trình tồ án giải quyết vụ việc dân sự. Điều này có nghĩa tồ án có

thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời điểm nào trước và trong khi xét

xử. Thậm chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp,

cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ

quan, tổ chức có quyền u cầu tồ án áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời vào

cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện

1.3. Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

Buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện

nghĩa vụ bảo đảm là một trong những quy định rất mới của BLTTDS (Điều 120). Tương

ứng với quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu

phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm mà cụ thể là họ phải gửi một khoản tiền, kim khí q, đá

q hoặc giấy tờ có giá do tồ án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có

nghĩa vụ phải thực hiện. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27

tháng 4 năm 2005 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì “nghĩa vụ tài sản”

là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm

thời khơng đúng. Còn “người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng

biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời là người đại diện theo ủy quyền của đương sự thì người có nghĩa

vụ phải thực hiện là đương sự. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng

biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa tình trạng người có quyền

yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời lạm dụng quyền này. Tuy nhiên

không phải người nào đưa ra yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải

thực hiện biện pháp bảo đảm. Điều 120 BLTTDS đã quy định rõ những trường hợp người

đưa ra yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như kê biên tài sản đang tranh chấp;

cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng

tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác;

phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài

sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

1.4. Về áp dụng BPKCTT tại phiên tòa

Theo quy định tại điều 117 BLTTDS, BPKCTT Đối với yêu cầu áp dụng

BPKCCTT tại phiên tòa, thì hội đồng xét xử xem xét ra quyết định ngay sau khi nhận

4



được đơn yêu cầu nếu người đó không phải thực hiện biện pháp đảm bảo hoặc sau khi

người yêu cầu thực hiện xong biện pháp đảm bảo.

1.5. Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 117 BLTTDS quy định người đưa ra yêu cầu tồ án áp dụng biện pháp khẩn

cấp tạm thời khơng chỉ phải nộp đơn gửi đến tồ án có thẩm quyền mà đơn đó phải thể

hiện được các nội dung theo luật định. Tùy từng trường hợp, kèm theo đơn, người đưa ra

yêu cầu phải cung cấp cho toà án những chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chính quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra u

cầu khơng có căn cứ từ phía những người có quyền u cầu áp dụng các biện pháp khẩn

cấp tạm thời. Đồng thời quy định này cũng giúp tồ án có cơ sở rõ ràng để nhanh chóng

ra được quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thông thường khi thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhận được đơn yêu

cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thời hạn để họ ra quyết định áp dụng các

biện pháp khẩn cấp tạm thời là 3 ngày kể từ ngày nhận đơn nếu người đưa ra yêu cầu

không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp

bảo đảm. Nếu khơng chấp nhận u cầu thì thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và

nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng các biện pháp

khẩn cấp tạm thời được đưa ra tại phiên tồ thì hội đồng xét xử sẽ xem xét để ra quyết

định ngay sau khi người đưa ra yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm.

Đối với những tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu

quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì chánh án phải chỉ định ngay một thẩm phán giải quyết

và thời hạn để ra quyết định là 48 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu và các chứng cứ kèm

theo. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì thẩm phán đó cũng phải thơng báo bằng văn bản

và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng là

phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài

sản ở nơi gửi giữ hoặc phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì tồ án chỉ được phong

tỏa tài khoản, tài sản tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

1.6. Về trách nhiệm bồi thường do áp dụng BPKCTT không đúng.

Theo Điều 101, người yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải

chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Vì vậy, nếu yêu cầu của họ không

đúng, gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì theo quy định của pháp

luật, họ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này buộc người có quyền u

cầu tồ án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải suy nghĩ chín chắn trước khi đưa ra

yêu cầu, buộc họ phải có trách nhiệm với hành vi của mình.

Ngồi quy định trách nhiệm bồi thường của đương sự và những chủ thể có quyền

u cầu tồ án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS còn quy định trách nhiệm

5



bồi thường của toà án nếu quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà gây

thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 101

BLTTDS, toà án sẽ phải bồi thường khi áp dụng các BPKCTT không đúng mà gây thiệt

hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba trong trường hợp sau: tồ án tự

mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

khác với biện pháp mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có u cầu; tồ án áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ

quan, tổ chức.

2. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp.

2.1. Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp (Điều 108, BLTTDS):

Theo quy định tại Điều 108, BLTTDS thì biện pháp này được áp dụng khi Tòa án

thấy có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài

sản. Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT này khi giải quyết vụ án theo yêu cầu của cá

nhân, cơ quan, tổ chức có quyền u cầu Tòa án áp dụng BPKCTT. Tài sản bị kê biên có

thể thu giữ, bảo quản tại cơ quan thi hành án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương

sự hoặc người thứ ba quản lí cho đến khi có quyết định của Tòa án. Ngồi ra, đây là

BPKCTT đòi hỏi phải có biện pháp đảm bảo, tức là khi yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp

này thì người yêu cầu phải thực hiện pháp bảo đảm quy định tại điều 120, BLTTDS.

2.2. Biện pháp “ Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh

chấp” (Điều 109, BLTTDS):

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp là việc không

cho thay đổi về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Theo quy định tại Điều 109,

BLTTDS thì BPKCTT này được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án khi có

căn cứ cho thấy người chiếm giữ hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển

dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác nhằm trốn tránh

nghĩa vụ của họ. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng BPKCTT cấm chuyển dịch quyền tài

sản đối với tài sản đang tranh chấp thì mọi sự chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản

đang tranh chấp đều vơ hiệu. Tòa án áp dụng BPKCTT này theo yêu cầu của cá nhân, cơ

quan, tổ chức có quyền u cầu Tòa án áp dụng BPKCTT, và biện pháp này cũng đòi hỏi

người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 120, BLTTDS, hướng

dẫn tại Mục 8, Nghị quyết số 02/ 2005/ NQ – HĐTPTANDTC ngày 27/04/2005.

2.3. Biện pháp “ Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” (Điều 110,

BLTTDS

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là việc không cho phép thay đổi

hiện trạng tài sản. Theo quy định tại điều 110 BLTTDS thì biện pháp khẩn cấp tạm thời

cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang được tranh chấp được Tòa án quyết định áp dụng

trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu

6



hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có

hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó. Khi tòa án đã quyết định áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp thì người đang

chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được giao bảo quản tài sản có nghĩa vụ bảo quản tài sản,

giữ nguyên hiện trạng tài sản; các hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm và các hành

vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết vụ án dân sự

theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời.

2.4. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác(Điều 111

BLTTDS)

Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa là việc cho thu, bán

những sản phẩm về nông nghiệp hoặc những sản phẩm, hàng hóa khác. Theo quy định tại

điều 111 BLTTDS thì biện pháp khẩn cấp tạm thời cho thu hoạch, bán hoa màu hoặc sản

phẩm hàng hóa khác được Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự nếu tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp là hoa màu hoặc sản phẩm,

hàng hóa khác. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi giải quyết

vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền u cầu Tòa án áp

dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy vậy, Tòa án chỉ quyết định áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời này nếu tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp trong vụ

án tòa án đang giải quyết là hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác ở thời kỳ thu hoạch

hoặc không thể bảo quản được lâu dài. Các tài sản do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm

thời thu được phải được bảo quản hoặc bán theo các phương thức do pháp luật quy định

(theo phương thức án tài sản kê biên để thi hành án).

2.5. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà

nước (Điều 112 BLTTDS)

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước là việc

cô lập, không cho chuyển dịch tài sản ở tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác,

kho bạc nhà nước. Theo quy định tại Điều 112 BLTTDS thì biện pháp khẩn cấp tạm thời

phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước được Tòa án

quyết định áp dụng nếu trong q trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có

nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước và việc áp

dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho

việc thi hành án. Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này theo yêu

cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp

tạm thời. Khi Tòa án đã quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này mọi giao

dịch thực hiện đối với tài sản của tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những quy định chung của pháp luật về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×