Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

II. Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

Tải bản đầy đủ - 0trang

quy định kết hôn của nữ bước sang 18 tuổi được coi là hợp pháp, tuy nhiên pháp luật lại

không quy định cụ thể họ có quyền tham gia tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản

trong hôn nhân. Theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch (giao dịch về bất động sản,

tín dụng…) đòi hỏi chủ thể của giao dịch phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Theo quy định của

pháp luật về tố tụng dân sự, cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên mới có thể tự mình là chủ

thể của quan hệ tố tụng. Trong khi đó, theo Luật Hơn nhân và gia đình, nữ bước sang

tuổi 18 kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền

tự do ly hôn của họ không thể thực hiện nếu sau khi kết hơn đến thời điểm có yêu cầu ly

hôn họ chưa đủ 18 tuổi.

Một số chuyên gia cho rằng, độ tuổi kết hôn nên quy định là đủ 18 tuổi đối với nữ để

khi giải quyết ly hơn tòa có cơ sở để thụ lý. Thực tế hiện nay, có những vụ án ly hơn mà

tính đến thời điểm đương sự nộp đơn xin ly hôn, đương sự lại chưa đủ 18 tuổi. Do đó,

tòa khơng có căn cứ để thụ lý, đơi khi phải “chờ” đủ tuổi mới thụ lý vụ án. Đây là một

bất cập mà khi tiến hành sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình tới đây cần phải tính đến.

Để bảo đảm quyền lợi của đương sự cũng như bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với

quy định của các văn bản pháp luật khác, Luật Hơn nhân và gia đình sửa đổi tới đây cần

quy định độ tuổi kết hôn của nam, nữ phải đủ 18 tuổi trở lên.

Bên cạnh quy định độ tuổi kết hôn, hiện nay Luật Hôn nhân và gia đình đang tồn tại một

vướng mắc đó là việc quy định hậu quả pháp lý của các trường hợp không tuân thủ điều

kiện kết hôn theo luật định. Điều 15 Luật Hơn nhân và gia đình quy định: bên bị cưỡng

ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình

u cầu tòa án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 điều 9 của luật này. Như vậy, Luật Hơn

nhân và gia đình mới chỉ quy định việc kết hôn không tuân thủ điều kiện kết hôn là trái

pháp luật và có thể bị tòa án xem xét, quyết định hủy việc kết hơn đó. Tuy nhiên, Luật

chưa quy định cụ thể các trường hợp kết hôn trái pháp luật cần thiết phải xử hủy và



9



những trường hợp kết hôn trái pháp luật không cần thiết phải xử mà cần công nhận hôn

nhân cho các bên đương sự.

Tại điểm d, mục 2, Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP(23/12/2000) của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án Nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hơn

nhân và gia đình năm 2000 quy định: đối với những trường hợp kết hôn khi một bên bị

ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm 2

Điều 9, tuỳ từng trường hợp mà mà tòa án quyết định như sau: nếu sau khi bị ép buộc,

bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống khơng có hạnh phúc, khơng có tình

cảm vợ chồng, thì quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Nếu sau khi bị ép buộc, bị

lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà bên bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép đã biết,

nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hồ thuận thì khơng quyết định huỷ việc kết

hôn trái pháp luật. Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có u cầu Tồ án giải quyết việc ly

hơn, thì Tồ án thụ lý vụ án để giải quyết ly hôn theo thủ tục chung.

Như vậy, khi giải quyết hủy việc kết hơn trái pháp luật, Tòa án cần chú ý đến từng

trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hay công nhận hôn

nhân của các đương sự. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được các quyền,

lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, điều này lại khơng được cụ thể hóa trong luật

nên gây vướng mắc trong giải quyết về vấn đề này. Từ thực tiễn thi hành luật cho thấy

đã đến lúc cần phải tiến hành sửa đổi quy định về độ tuổi kết hôn và hậu quả pháp lý

của các trường hợp kết hôn không tuân thủ theo luật định là điều hết sức cần thiết, nhằm

bảo đảm quyền lợi của đương sự, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với các quy định của

pháp luật liên quan, đồng thời tạo được sự thuận tiện cho việc thực thi trong quá trình

giải quyết vụ án về ly hơn.



10



C. KẾT LUẬN

Từ phần phân tích phía trên, ta có thể hiểu rõ hơn các qui định về điều kiện kết

hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Từ đó thấy được những điểm còn hạn

chế, cần được sửa đổi, bổ sung để giúp Luật hơn nhân và gia đình có ích nhiều hơn cho

cuộc sống thực tiễn, tạo điều kiện pháp lí cho các gia đình có một cuộc sống ấm no,

hạnh phúc.



11



12



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1. Giáo trình Luật hơn nhân và gia đình Việt Nam, ĐH Luật Hà Nội.

2. Luật hơn nhân và gia đình năm 2000.

3. Bình luận khoa học Luật hơn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Bộ Tư Pháp-Viện

khoa học pháp lí, Đinh Thị Mai Phương.

4. Tạp chí luật học số 5 năm 1998.



13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×