Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10:

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10:

Tải bản đầy đủ - 0trang

3. Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi

ba đời;

4. Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố

chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con

riêng của chồng;

5. Giữa những người cùng giới tính.”



a, Trường hợp cấm thứ nhất: Cấm người đang có vợ hoặc có chồng kết hơn với

người khác:

Qui định này là sự kế thừa và cụ thể hóa ngun tắc cơ bản của luật hơn nhân và

gia đình-ngun tắc hơn nhân một vợ, một chồng. Đó là qui định hết sức cần thiết đảm

bảo thực hiện nhiệm vụ của luật hơn nhân gia đình là xóa bỏ chế độ hơn nhân gia đình

phong kiến, xóa bỏ sự đối xử bất bình đẳng đối với người phụ nữ, xây dựng hôn nhân

tiến bộ xã hội chủ nghĩa.

Pháp luật phong kiến Việt Nam qui định người đàn ông có quyền lấy nhiều vợ

(Điều 79,80 Bộ dân luật Bắc Kì). Pháp luật của Nhà nước tư sản cũng qui định hôn nhân

theo nguyên tắc một vợ-một chồng nhưng trên thực tế nguyên tắc đó đã bị phá bỏ do tệ

nạn ngoại tình và mại dâm cơng khai. Theo pháp luật Việt Nam, chỉ những người chưa

kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng vợ, chồng đã chết hoặc hai người đã li hơn thì mới có

quyền kết hơn với người khác. Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp người bị Tòa án tuyên

bố là đã chết. Theo Điều 91 Bộ luật dân sự, một người nếu có sau ba năm kể từ ngày

tun bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, mất tích trong chiến tranh, bị tai

nạn, thiên tai thảm họa….mà sau một thời gian luật định vẫn khơng có tin tức gì để biết

người đó là còn sống thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền u cầu tòa

án tun bố người đó là đã chết. Sau khi tuyên bố của Tóa án có hiệu lực thì vợ hoặc

chồng của đó có quyền kết hơn với người khác. Trong trường hợp đó việc kết hơn là

4



hồn tồn hợp pháp. Ngồi ra, còn một số trường hợp khác được qui định cụ thể trong

các Nghị định, thông tư.

b. Trường hợp cấm thứ hai: Cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn:

Theo điều 24, Bộ luật dân sự và mục 1 điểm c.2 nghị quyết số 02/2002/NQHĐTP thì người mất năng lực hành vi dân sự là người “ do bị bệnh tâm thần hoặc mắc

các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”, mất khả năng

bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Qui định cấm những

người mất năng lực hành vi dân sự kết hơn là hồn tồn đúng đắn và cần thiết. Bởi vì,

người khơng có khả năng nhận thức được hành vi thì khơng có khả năng thể hiện một

cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề kết hơn, cũng khơng thể nhận thức và thực

hiện được trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong đời sống gia đình.

Nếu họ kết hôn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi, sức khỏe của vợ, chồng, con cái họ. Mặt

khác, theo điều 24, Bộ luật dân sự : “Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành

vi dân sự đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”. Nhưng quyền kết

hôn là quyền nhân thân của mỗi người nên khơng thể để cho người đại diện thực hiện.

Vì thế, về nguyên tắc người mất hành vi dân sự không thể kết hôn. Vậy điều kiện để kết

hôn là người đó phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

c. Trường hợp cấm thứ 3: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực

hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời:

Khoản 12,13 Điều 8 luật hơn nhân và gia đình năm 2000 qui định: “những người

cùng dòng máu về trực hệ là cha, mẹ đối với con; ông bà đối với cháu nội và cháu

ngoại”, “những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra:

cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha

là đời thứ hai; anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ 3”. Qui

định cấm kết hơn giữa những người này là hồn tồn phù hợp với khoa học và phong

tục tập quán của nước ta. Việc cấm những người này kết hôn với nhau là để đảm bảo thế

5



hệ tiếp theo khỏe mạnh, duy trì nòi giống khơng mang bệnh tật bẩm sinh, theo nghiên

cứu của các nhà khoa học thì con sinh ra do quan hệ giữa những người có họ hàng trong

phạm vi ba đời thường có những biến chứng như quái thai, thối hóa, dị dạng do cấu

trúc gen di truyền của họ, Về mặt xã hội và truyền thống dân tộc thì việc kết hơn giữa

những người này sẽ phá vỡ tôn ti trật tự trong họ hàng , cách xưng hô, những chuẩn

mực đạo đức bị xâm phạm, suy đồi,...

d. Trường hợp cấm thứ tư: Cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha mẹ

nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ vợ với

con rể, giữa người đã từng là bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng

của chồng.

Xét về quan hệ thực tế, giữa những người này khơng có quan hệ huyết thống, tuy

nhiên, trước đây giữa họ đã có mối quan hệ cha mẹ-con và có quan hệ chăm sóc, ni

dưỡng. Do vậy, việc pháp luât qui định những người này cấm kết hôn với nhau là hồn

tồn đúng đắn, bảo đảm giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, bảo đảm thực hiện các

nguyên tắc của cuộc sống, nhằm ổn định mới quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi,

phù hợp với đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam, ngăn chặn hiện tượng cưỡng ép kết

hôn do mối quan hệ phụ thuộc giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

e. Trường hợp cấm thứ 5: Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Cấm kết hơn giữa những cùng giới tính là qui định mới của Luật hơn nhân và gia

đình năm 2000. Trước đây, luật hơn nhân và gia đình năm 1959 và 1986 chưa dự liệu

được trường hợp hai người có cùng giới tính kết hơn với nhau. Pháp luật Việt Nam

không cho phép những người đồng giới kết hơn với nhau vì điều đó khơng phù hợp với

đạo đức, tập quán và qui luật sinh học.

Nhìn chung, phạm vi cấm kết hôn của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 so với

với luật hơn nhân và gia đình trước đó là rộng rãi và cụ thể, đầy đủ hơn, phù hợp hơn

với xã hội hiện tại. nhằm đảm bảo mục tiêu cao nhất là sự yên bình ấm và hạnh phúc

của mỗi gia đình.

6



4. Điều kiện về đăng kí kết hơn:

Vấn đề đăng kí kết hơn được qui định tại Điều 11, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:

“1. Việc kết hơn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sau đây gọi

là cơ quan đăng ký kết hôn) thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.

Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều khơng có giá

trị pháp lý

Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì khơng được

pháp luật công nhận là vợ chồng.

Vợ chồng đã ly hôn muốn kết hôn lại với nhau cũng phải đăng ký kết hơn.

2. Chính phủ quy định việc đăng ký kết hơn ở vùng sâu, vùng xa.”

Đăng kí kết hơn là thủ tục do Nhà nước qui định-như một điều kiện về hình thứcnhằm cơng nhận việc xác lập quan hệ hơn nhân giữa hai bên nam nữ là hợp pháp. Việc

pháp luật qui định sự kiện kết hôn phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng

nhận là sự ràng buộc pháp lí, là cơ sở để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ

chồng. Đăng kí kết hơn là biện pháp để cơ quan Nhà nước có thể kiểm tra và kịp thời

ngăn chặn các hiện tượng vi phạm điều kiện kết hôn của nam nữ và tuyên truyền, giải

thích pháp luật cho họ hiểu. Qui định này phù hợp với khoản 2 Điều 16 Công ước

Cedaw- Cơng ước xóa bỏ mợi sự phân biệt, đối xử với người phụ nữ, đó là hơn nhân :

“bắt buộc phải có đăng kí kết hơn trong hồ sơ chính thức của Nhà nước”.

Khoản 1, điều 11, luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã qui định “ nam, nữ

khơng đăng kí kết hơn mà sống với nhau như vợ chồng thì khơng được pháp luật cơng

nhận là vợ chồng”. Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 khơng thừa nhận hôn nhân thực

tế, thể hiện rõ thái độ nghiêm khắc của Nhà nước đối với những trường hợp kết hôn

7



không tuân thủ qui định của pháp luật. Ngoải ra, có những hồn cảnh đặc biệt như đời

sống còn nhiều khó khăn của đồng bào vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn,

nên phải tạo thuận lợi cho nhân dân bằng cách tổ chức đăng kí kết hơn lưu động. Chính

quyền địa phương cần bố trí cán bộ có thẩm quyền cùng với cán bộ hộ tịch tư pháp hàng

tháng tăng cường xuống cơ sở để nắm tình hình và tổ chức đăng kí kết hơn ngay tại nơi

cư trú và tích cực phổ biến luật nói chung, luật hơn nhân và gia đình nói riêng đến đồng

bào các vùng xa xôi, hẻo lánh.

II. Một số điểm cần sửa đổi bổ sung với điều kiện kết hôn trong luật hơn nhân và

gia đình năm 2000:

Luật Hơn nhân và gia đình là một trong các văn bản pháp lý quan trọng nhất của Nhà

nước ta trong xây dựng, hồn thiện và bảo vệ chế độ hơn nhân và gia đình Việt Nam với

mục tiêu gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững… Tuy nhiên, thực

tiễn thi hành cho thấy, Luật Hôn nhân và gia đình đang tồn tại một số bất cập cần phải

sửa đổi, trong đó, có quy định về độ tuổi kết hôn và hậu quả pháp lý của các trường hợp

kết hôn không tuân thủ điều kiện theo luật định.

Về điều kiện kết hôn, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hơn với

nhau phải tn thủ các điều kiện sau: nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi

trở lên. Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc,

lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở. Tuy nhiên, chiếu theo quy định

của một số pháp luật liên quan thì quy định này chưa có sự thống nhất. Điều 17 của Bộ

luật Dân sự hiện hành quy định: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của

cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Điều 18,

Điều 19 Bộ luật này cũng quy định: người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên và

người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ…

Trở lại với quy định của Luật Hơn nhân và gia đình thì quy định độ tuổi kết hôn của

nam và nữ tương đương từ 20 và 18 tuổi, chứ không phải là từ đủ 18 tuổi trở lên. Việc



8



quy định kết hôn của nữ bước sang 18 tuổi được coi là hợp pháp, tuy nhiên pháp luật lại

không quy định cụ thể họ có quyền tham gia tất cả các giao dịch liên quan đến tài sản

trong hôn nhân. Theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch (giao dịch về bất động sản,

tín dụng…) đòi hỏi chủ thể của giao dịch phải từ đủ 18 tuổi trở lên. Theo quy định của

pháp luật về tố tụng dân sự, cá nhân phải đủ 18 tuổi trở lên mới có thể tự mình là chủ

thể của quan hệ tố tụng. Trong khi đó, theo Luật Hơn nhân và gia đình, nữ bước sang

tuổi 18 kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền

tự do ly hôn của họ không thể thực hiện nếu sau khi kết hơn đến thời điểm có u cầu ly

hơn họ chưa đủ 18 tuổi.

Một số chuyên gia cho rằng, độ tuổi kết hôn nên quy định là đủ 18 tuổi đối với nữ để

khi giải quyết ly hơn tòa có cơ sở để thụ lý. Thực tế hiện nay, có những vụ án ly hơn mà

tính đến thời điểm đương sự nộp đơn xin ly hôn, đương sự lại chưa đủ 18 tuổi. Do đó,

tòa khơng có căn cứ để thụ lý, đôi khi phải “chờ” đủ tuổi mới thụ lý vụ án. Đây là một

bất cập mà khi tiến hành sửa đổi Luật Hơn nhân và gia đình tới đây cần phải tính đến.

Để bảo đảm quyền lợi của đương sự cũng như bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với

quy định của các văn bản pháp luật khác, Luật Hơn nhân và gia đình sửa đổi tới đây cần

quy định độ tuổi kết hôn của nam, nữ phải đủ 18 tuổi trở lên.

Bên cạnh quy định độ tuổi kết hơn, hiện nay Luật Hơn nhân và gia đình đang tồn tại một

vướng mắc đó là việc quy định hậu quả pháp lý của các trường hợp không tuân thủ điều

kiện kết hôn theo luật định. Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: bên bị cưỡng

ép, bị lừa dối kết hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình

u cầu tòa án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu tòa án hủy việc kết hơn trái pháp luật

do việc kết hôn vi phạm quy định tại khoản 2 điều 9 của luật này. Như vậy, Luật Hôn

nhân và gia đình mới chỉ quy định việc kết hơn khơng tn thủ điều kiện kết hơn là trái

pháp luật và có thể bị tòa án xem xét, quyết định hủy việc kết hơn đó. Tuy nhiên, Luật

chưa quy định cụ thể các trường hợp kết hôn trái pháp luật cần thiết phải xử hủy và



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn qui định tại Điều 10:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×