Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c.5) Giữa những người cùng giới tính.

c.5) Giữa những người cùng giới tính.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đây là một hiện tượng không phù hợp với đạo đức của xã hội, thuần phong mỹ

tục và truyền thống gia đình Việt Nam mà còn là hiện tượng phản khoa học do hôn

nhân được xác lập trên cơ sở sự kết hôn giữa những người đồng giới sẽ không bảo

đảm được chức năng của hơn nhân gia đình là tái sản xuất ra con người để duy trì

nòi giống.

II, NHỮNG ĐIỂM BẤT CẬP CẦN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG.

1, điều kiện về tuổi kết hôn.

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hơn nhân và gia đình quy định độ tuổi kết hôn đối

với nam từ hai mươi tuổi trở lên, đối với nữ từ mười tám tuổi trở lên. Như vậy,

theo quy định này thì chỉ cần nam bước sang tuổi hai mươi, nữ bước sang tuổi 18

là đủ tuổi kết hôn. Việc quy định độ tuổi kết hôn trong Luật là chưa thống nhất với

Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người chưa đủ 18 tuổi là người chưa

thành niên. Người từ đủ mười sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực

hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch

nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có

quy định khác. Đồng thời, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự

là người từ đủ mười tám tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân

sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn không những tạo ra sự

thiếu thống nhất, đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp luật mà còn hạn chế một số

quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch, hạn chế quyền u cầu ly hơn (phải

có người đại diện).

Ý kiến cá nhân: nên quy định tuổi tối thiểu kết hôn đối với nam là từ đủ hai

mươi tuổi trở lên, nữ là từ đủ mười tám tuổi trở lên (tuổi tròn).

Page | 9



2, Cấm kết hơn giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể.

Quy định này dựa trên phong tục tập quán và truyền thống đạo đức. Việc quy

định như vậy nhằm làm lành mạnh mối quan hệ trong gia đình, bảo đảm thuần

phong, mỹ tục của dân tộc, bảo đảm các nguyên tắc của cuộc sống, làm ổn định

trật tự giữa các thành viên trong gia đình.

Tuy nhiên, Về cơ sở khoa học, giữa nhưng người này khơng có mối quan hệ về

huyết thống hay họ hàng. Những người này nếu lấy nhau sẽ khơng ảnh hưởng gì

đến giống nòi, thế hệ sau này. Đồng thời, nếu họ muốn lấy nhau vì tình yêu chân

chính, tự nguyện muốn xây dựng gia đình nếu luật cấm như vậy liệu có vi phạm

nguyên tắc tự nguyện. Vấn đề cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân

sự.

Ý kiến cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung: không nên đưa quy định cấm kết hôn

những người này vào trong luật. Nên để cho vấn đề kết hôn giữa những người này

cho phong tục, tập quán, truyền thống đạo đức và dư luận xã hội điều chỉnh thì sẽ

tốt hơn.

3, Cấm kết hơn đối với người mất năng lực hành vi dân sự.

Một người được xem là mất năng lực hành vi dân sự nếu người đó mắc bệnh

tâm thần hoặc bệnh khác mà khơng thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

và tòa án ra quyết định tun bố người đó mất năng lực hành vi dân sự.

Trường hợp người bị bệnh tâm thần phân liệt, tâm thần theo mùa hoặc các bệnh

khác làm cho lúc có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi lúc thì khơng có.

Trường hợp đó cần xử lý như thế nào thì trong luật khơng quy định cụ thể. Nếu khi

người đó đi đăng ký kết hơn là lúc tỉnh táo và hồn tồn bình thường thì cơ quan có

thẩm quyền cũng khơng thể phát hiện và xử lý được. Thời điểm đó, người đó vẫn



Page | 10



có khả năng thể hiện một cách đúng đắn ý chí của mình trong vấn đề kết hơn (điều

kiện tự nguyện kết hôn).

Ý kiến cá nhân về việc sửa đổi, bổ sung: người mắc bệnh tâm không bị cấm

nhưng vẫn có thể khơng được phép kết hơn. Chỉ không được phép kết hôn đối với

người đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác khơng có khả năng nhận thức

hành vi của mình (đang trong tình trạng khơng nhận thức được hành vi của mình).

4, Cấm kết hơn giữa những người cùng giới tính.

Việc kết hơn giữa những người cùng giới tính khơng thể thực hiện mục đích xây

dựng gia đình, khơng phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên, trái với đạo đức

xã hội và thuần phong mỹ tục. Vì thế nhà nước ta quy định cấm kết hơn giữa

những người cùng giới tính.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay,càng ngày càng nhiều người đồng tính muốn

lập gia đình. Hơn nhân cần được xem là quyền tự do chính đáng của mỗi con

người, dù họ thuộc giới tính nào. Nhiều người cho rằng: Thừa nhận sự tồn tại thực

tế của mối quan hệ này và nỗ lực giải quyết các vấn đề thực tế phát sinh chính là

bước đi đầu tiên trong tiến trình bảo vệ quyền bình đẳng của người đồng tính, song

tính và chuyển đổi giới tính. Nếu được pháp luật cơng nhận, người đồng tính sẽ

được đảm bảo về quyền cá nhân, nhất là trong quá trình chung sống với nhau việc

phát sinh quan hệ về nhân thân, tài sản và con cái là có thật nên cần được pháp luật

bảo vệ. Thêm vào đó việc thừa nhận hơn nhân đồng giới với những ràng buộc về

mặt pháp luật có thể hạn chế vấn đề về tệ nạn xã hội, nhất là mại dâm nam dẫn đến

lây truyền HIV.

Ý kiến của cá nhân: bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”.



Page | 11



KẾT LUẬN

Điều kiện kết hơn là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và

gia đình. Điều kiện kêt hơn là chuẩn mực pháp lý để xác lập quan hệ hôn nhân và

xây dựng gia đình theo khn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của nhà

nước và xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định. Vì vậy, xã hội hiện nay- điều kiện

kinh tế,văn hóa, xã hội có những thay đổi nhất định, kỹ năng soạn thảo luật của các

nhà lập pháp ngày càng tiến bộ. Thực tế đã cho thấy, những quy định về điều kiện

kết hôn của luật hơn nhân và gia đình năm 2000 đã có những điểm bất cập cần

được sửa đổi để phù hợp với thực tiễn.



Page | 12



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1, Giáo trình luật hơn nhân và gia đình, NXB lao động, năm 2012

2, Luật hơn nhân và gia đình, NXB chính trị quốc gia, năm 2012

3, Bình luận khoa học luật hơn nhân và gia đình Việt Nam, NXB chính trị quốc gia,

năm 2004.

4, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hơn nhân và gia đình năm 2000, NXB

chính trị quốc gia, năm 2002.

5, Mơ hình Luật hơn nhân và gia đình, NXB tư pháp, năm 2011.

6, Bộ luật dân sự Việt Nam, NXB lao động, năm 2012

7, Weside: www.dantri.com

duthaoonline.quochoi.vn

www.phapluatvn.com



Page | 13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c.5) Giữa những người cùng giới tính.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×