Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.20 Giá trị trung bình các biến của nhân tố

Bảng 4.20 Giá trị trung bình các biến của nhân tố

Tải bản đầy đủ - 0trang

75



phụ thuộc vào mức độ đáp ứng từ phía Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa và đội

ngũ nhân viên các phòng, ban trong trường.

Qua phân tích, nhân tố Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính có giá trị mean

là 3.5839, điều này cho thấy sinh viên đánh giá tương đối tốt về nhân tố này. Điều

này cũng đúng với thực trạng của trường. Cụ thể, thông qua các buổi sinh hoạt

công dân đầu năm, Ban giám hiệu và Ban chủ nhiệm Khoa trực tiếp gặp gỡ sinh

viên, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của sinh viên, từ đó giải đáp thắc mắc của sinh

viên một cách thỏa đáng. Bên cạnh đó, đầu mỗi học kỳ các Khoa cũng tổ chức buổi

gặp mặt đầu năm để giới thiệu mục tiêu đào tạo, chương trình học… đảm bảo mọi

sinh viên đều được hướng dẫn đầy đủ các thông tin cần thiết khi theo học tại

trường.

Đánh giá về nhân tố Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính, sinh viên hài lòng

nhất về thái độ ln sẵn sàng hỗ trợ của nhân viên các Phòng, Ban, Khoa nói chung

(giá trị mean đạt 3.84). Để có được kết quả này chính là nhờ vào việc trường luôn

xem “đội ngũ sinh viên học sinh là tài sản lớn nhất, quý giá nhất của trường”, và đó

cũng chính là giá trị cốt lõi của trường Văn Lang. Hằng năm nhà trường đều tổ chức

các buổi hội thảo, tập huấn công tác sinh viên và cơng tác giáo vụ qua đó trao đổi

chun mơn nghiệp vụ và học hỏi giữa các Khoa, cải tiến quy trình làm việc để phục

vụ sinh viên tốt hơn… Trung bình mỗi Khoa đều có một cán bộ cơng tác sinh viên và

một công tác giáo vụ, thực tế đây là 2 bộ phân có liên quan thường xuyên và trực

tiếp đến sinh viên là cầu nối trực tiếp giữa sinh viên với nhà trường. Nhân viên

quản lý công tác sinh viên và giáo vụ các Khoa nhìn chung đều có chun mơn

nghiệp vụ và trình độ tin học tốt nên xử lý cơng việc nhanh chóng và hạn chế sai

sót trong cơng việc.

Về cơng tác hành chính cấp các loại giấy tờ cho sinh viên (giấy xác nhận sinh

viên, bảng điểm…), trường cũng đã điện tử hóa các thủ tục một cách có hệ thống

từ Khoa đến các phòng chức năng giúp sinh viên nhanh chóng có các loại giấy tờ



76



cần thiết. Với các thủ tục đơn giản, sinh viên không mất nhiều thời gian và không

phải đi lại nhiều giữa các phòng chức năng để giải quyết về các cơng tác liên quan

đến hành chính. Tuy nhiên, trường chưa đưa ra một sơ đồ, một quy trình cho sinh

viên dễ nắm được các bước thực hiện, sinh viên biết được qua quy trình chỉ từ cán

bộ quản lý sinh viên, hoặc giáo viên chủ nhiệm. Như vậy, sẽ khó khăn cho những

sinh viên nhập học muộn khi muốn tìm hiểu thơng tin.

Ngồi ra, đơi khi do áp lực cơng việc, do sinh viên khơng tìm hiểu kỹ các nội

quy, quy định, thậm chí do bồng bột, vội vàng, không suy nghĩ thấu đáo của nhiều

sinh viên trước khi thắc mắc một vấn đề nào đó, từ đó gây khó chịu cho đội ngũ

nhân viên. Do đó, khó tránh khỏi thái độ cáu gắt, thiếu thân thiện của một số nhân

viên, dẫn đến các yêu cầu của sinh viên khơng được giải quyết một cách nhanh

chóng.

Thái độ phục vụ của nhân viên tài chính khi làm việc với sinh viên (giá trị

mean đạt 3.24) được đánh giá thấp nhất, điều này cũng dễ hiểu khi đâu đó sinh

viên cũng có những phàn nàn về thái độ của nhân viên phòng kế tốn. Có thể do áp

lực của cơng việc và cũng do tính chất nghề nghiệp, những nhân viên phòng kế

tốn ít có những nụ cười đến sinh viên. Nếu điều này được cải thiện chắc chắn sẽ

nâng cao sự hài lòng của sinh viên.

Trong mơ hình hồi quy, so với các nhân tố khác nhân tố này tác động ít nhất

đến sự hài lòng của sinh viên nhưng việc duy trì và làm tốt hơn nhân tố này là điều

cần thiết, vì trong dịch vụ có thể khách hàng ln u cầu phải đạt một phạm vị

nào đó, nếu nhà cung ứng đạt mức cao hơn giới hạn trên cũng khơng làm khách

hàng hài lòng hơn. Ngược lại, nếu dịch vụ đạt thấp hơn giới hạn dưới có thể gây sự

thất vọng rất lớn. Do đó, nếu muốn nhân tố Mức độ đáp ứng cơng tác hành chính

này đạt giá trị trung bình cao hơn thì mỗi bộ phận, mỗi nhân viên phải tự hồn

thiện cơng tác của mình một cách tốt nhất khơng chỉ về chun mơn mà còn cả thái

độ phục vụ.



77



4.7.2 Nhân tố Cơ sở vật chất của nhà trường

Bảng 4.21 Giá trị trung bình các biến của nhân tố

Cơ sở vật chất của nhà trường

Các phát biểu



Giá trị trung

bình



TAN2_ Thư viện đảm bảo khơng gian, đáp ứng đủ chỗ ngồi

phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên.

TAN1_ Khuôn viên trường khang trang, rộng rãi, thống mát,

tạo ấn tượng đẹp khi đến trường.

TAN3_ Phòng học của trường đảm bảo âm thanh, ánh sáng,

rộng rãi, đạt yêu cầu về chỗ ngồi.

TAN7_ Sân bãi thể dục thể thao đáp ứng được nhu cầu rèn

luyện thể thao của sinh viên.

ASS9_ Dịch vụ giữ xe của trường an tồn và thuận tiện cho sinh

viên.

TAN4_ Phòng học được trang bị đầy đủ thiết bị phục vụ học

tập, giảng dạy.



3.48

3.50

3.60

2.82

3.25

3.80

3.4067



Nhân tố Cơ sở vật chất của nhà trường được hình thành từ 6 biến quan sát

là (1) thư viện, (2) khn viên trường, (3) phòng học, (4) Sân bãi thể dục thể thao,

dịch vụ giữ xe, (5) trang thiết bị trong phòng học.

Đánh giá của sinh viên về Nhân tố Cơ sở vật chất của nhà trường có giá trị

mean là 3.4067, điều này cho thấy sinh viên đánh giá nhân tố này chỉ trên mức

trung bình, điều này phù hợp với thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường.

Cảm nhận về cơ sở vật chất, sinh viên hài lòng cao về Phòng học được trang

bị đầy đủ thiết bị phục vụ học tập, giảng dạy (đạt giá trị mean 3.80) và Phòng học

của trường đảm bảo âm thanh, ánh sáng, rộng rãi, đạt yêu cầu về chỗ ngồi (đạt giá

trị mean 3.60). Thực tế cho thấy trang thiết bị học tập đóng vai trò vơ cùng quan

trọng trong hoạt động đào tạo của nhà trường. Phòng học với đầy đủ các trang

thiết bị sẽ giúp cho việc giảng dạy của giảng viên trở nên sinh động, có thể áp dụng



78



các phương pháp dạy mới thu hút sinh viên và việc học của sinh viên cũng trở nên

thoải mái, dễ chịu vì ai cũng thích học trong mơi trường hiện đại. Bên cạnh đó,

trang thiết bị tại mỗi phòng học đều được cố định (máy chiếu, máy vi tính…) sẽ

khơng làm mất nhiều thời gian của thầy và trò khi phải chuẩn bị cho một buổi học.

Phòng học rộng rãi, âm thanh, ánh sáng đạt yêu cầu sẽ giúp sinh viên cảm thấy

thoải mái và tiếp thu bài tốt hơn.

Tuy nhiên, đối với hệ thống âm thanh, cụ thể tại giảng đường C001, C007

(cơ sở 2), khi tổ chức các sự kiện của trường hệ thống âm thanh thường gặp sự cố

về mặt kỹ thuật, đặc biệt trong các đợt diễn ra các sự kiện, các hoạt động phong

trào, văn nghệ do Đoàn trường tổ chức, dường như hệ thống âm thanh làm giảm

chất lượng của buổi diễn rất nhiều. Cho dù được sự hỗ trợ rất nhiệt tình từ các

nhân viên kỹ thuật nhưng các sự cố về kỹ thuật vẫn thường xuyên xảy ra. Vậy nên

chăng trường nên đầu tư dàn âm thanh phù hợp với không gian lớn.

Về cơ sở vật chất, khi mới thành lập, trường phải thuê mặt bằng để thực

hiện công tác đào tạo. Năm 1999, trường mua cơ sở 1 – số 45 Nguyễn Khắc Nhu,

Phường Cô Giang, Quận 1 với diện tích đất 1,226m 2, diện tích sàn xây dựng

10,649m2. Năm 2000, trường mua cơ sở 2 – số 233A Phan Văn Trị, Phường 11,

Quận Bình Thạnh có diện tích đất 4,810m2. Từ tháng 4/2003, trường xây nhà học 7

tầng theo tiêu chuẩn trường đại học. Từ tháng 7/2011 đến tháng 2/2012, trường

thực hiện nâng tầng tòa nhà này, nâng tổng diện tích sàn xây dựng ở cơ sở 2 lên

14,295m2. Có thể thấy, là một trường dân lập, nhưng trường Văn Lang luôn đầu tư

về cơ sở vật chất theo hướng phát triển ổn định, thoát khỏi cảnh phải thuê địa

điểm phục vụ công tác dạy và học. Tuy nhiên hệ thống phòng học tại 2 cơ sở chưa

có sự đồng đều. Cụ thể, với việc mua lại tòa nhà có sẵn làm cơ sở dạy học nên các

phòng học tại cơ sở 1 của trường khơng thống và rộng rãi như cơ sở 2. Điều này

cũng dẫn đến mức độ hài lòng của sinh viên giữa các Khoa là không giống nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.20 Giá trị trung bình các biến của nhân tố

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×