Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở vật chất của nhà trường

Cơ sở vật chất của nhà trường

Tải bản đầy đủ - 0trang

78



các phương pháp dạy mới thu hút sinh viên và việc học của sinh viên cũng trở nên

thoải mái, dễ chịu vì ai cũng thích học trong mơi trường hiện đại. Bên cạnh đó,

trang thiết bị tại mỗi phòng học đều được cố định (máy chiếu, máy vi tính…) sẽ

khơng làm mất nhiều thời gian của thầy và trò khi phải chuẩn bị cho một buổi học.

Phòng học rộng rãi, âm thanh, ánh sáng đạt yêu cầu sẽ giúp sinh viên cảm thấy

thoải mái và tiếp thu bài tốt hơn.

Tuy nhiên, đối với hệ thống âm thanh, cụ thể tại giảng đường C001, C007

(cơ sở 2), khi tổ chức các sự kiện của trường hệ thống âm thanh thường gặp sự cố

về mặt kỹ thuật, đặc biệt trong các đợt diễn ra các sự kiện, các hoạt động phong

trào, văn nghệ do Đoàn trường tổ chức, dường như hệ thống âm thanh làm giảm

chất lượng của buổi diễn rất nhiều. Cho dù được sự hỗ trợ rất nhiệt tình từ các

nhân viên kỹ thuật nhưng các sự cố về kỹ thuật vẫn thường xuyên xảy ra. Vậy nên

chăng trường nên đầu tư dàn âm thanh phù hợp với không gian lớn.

Về cơ sở vật chất, khi mới thành lập, trường phải thuê mặt bằng để thực

hiện công tác đào tạo. Năm 1999, trường mua cơ sở 1 – số 45 Nguyễn Khắc Nhu,

Phường Cơ Giang, Quận 1 với diện tích đất 1,226m 2, diện tích sàn xây dựng

10,649m2. Năm 2000, trường mua cơ sở 2 – số 233A Phan Văn Trị, Phường 11,

Quận Bình Thạnh có diện tích đất 4,810m2. Từ tháng 4/2003, trường xây nhà học 7

tầng theo tiêu chuẩn trường đại học. Từ tháng 7/2011 đến tháng 2/2012, trường

thực hiện nâng tầng tòa nhà này, nâng tổng diện tích sàn xây dựng ở cơ sở 2 lên

14,295m2. Có thể thấy, là một trường dân lập, nhưng trường Văn Lang luôn đầu tư

về cơ sở vật chất theo hướng phát triển ổn định, thoát khỏi cảnh phải thuê địa

điểm phục vụ công tác dạy và học. Tuy nhiên hệ thống phòng học tại 2 cơ sở chưa

có sự đồng đều. Cụ thể, với việc mua lại tòa nhà có sẵn làm cơ sở dạy học nên các

phòng học tại cơ sở 1 của trường khơng thống và rộng rãi như cơ sở 2. Điều này

cũng dẫn đến mức độ hài lòng của sinh viên giữa các Khoa là khơng giống nhau.



79



Đối với thư viện (đạt giá trị mean 3.48) và khuôn viên trường (đạt giá trị

mean 3.50) được sinh viên đánh giá gần giống nhau, trên trung bình. Tại hai cơ sở

trường đều có phòng thư viện phục vụ sinh viên, giảng viên nghiên cứu và học tập.

Thư viện trường luôn cập nhật các đầu sách theo yêu cầu của giảng viên. Bên cạnh

đó, với khơng gian nhỏ nhưng nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên cao nên

thư viện cũng chỉ đáp ứng phần nào không gian học tập cho sinh viên. Vì vậy, sinh

viên thường tận dụng hành lang lớp học, cầu thang làm nơi sinh hoạt nhóm và học

tập ngồi giờ học chính.

Trong nhân tố cơ sở vật chất 2 biến Sân bãi thể dục thể thao (đạt giá trị

mean 2.82), Dịch vụ giữ xe của trường (đạt giá trị mean 3.25) được đánh giá thấp

nhất, điều này cũng đúng với thực tế. Cơ sở 1 của trường là một tòa nhà 9 tầng tại

Quận 1, khơng có sân trường và bãi để xe. Sinh viên phải gửi xe tại nhà dân hoặc

các địa điểm giữ xe xung quanh trường. Cơ sở 2 thơng thống hơn, có sân trường

khá rộng, nhưng nó được tận dụng vừa là bãi giữ xe, vừa là sân thể thao cho việc

giảng dạy môn giáo dục thể chất nên cũng khơng giải quyết được tồn bộ số lượng

xe của sinh viên thuộc các Khoa học tại cơ sở này. Thật sự, một sinh viên khó có thể

hài lòng cao khi đi học đến cổng trường và thấy tấm biển “hết chỗ” khi muốn gửi

xe để vào học. Nhìn chung, diện tích của trường nhỏ, chủ yếu tập trung xây dựng

và nâng cấp phòng học, vậy nên trường gần như có rất ít cây xanh và khu bãi thể

thao của trường chưa đáp ứng được nhu cầu vui chơi thể thao của sinh viên.

Trong các nhân tố thì đây là nhân tố được đánh giá thấp nhất. Do đó, đây là

nhân tố mà trường cần ưu tiên cải thiện.



80



4.7.3 Nhân tố Mơi trường học tập

Bảng 4.22 Giá trị trung bình các biến của nhân tố Môi trường học tập

Các phát biểu

REL5 _Công tác tổ chức thi cử chặt chẽ, đảm bảo nghiêm túc,

khách quan.

REL4 _Nội dung sinh hoạt tuần lễ công dân do trường tổ chức đầu

mỗi năm học giúp sinh viên hiểu rõ các quy đinh, quy chế và giải

đáp được các thắc mắc của sinh viên.

ASS1 _Giảng viên gần gũi, nhiệt tình giải đáp thắc mắc của sinh

viên.

RES7 _Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu

giải trí đồng thời tác động đến học tập của sinh viên.

REL8_ Giảng viên đánh giá kết quả học tập chính xác, cơng bằng.

EMP1_ Nhà trường tạo mơi trường giáo dục đại học thân thiện

(gắn kết giảng viên và sinh viên, sinh viên với Đồn, Hội…)



Giá trị trung

bình

4.25

4.08

4.01

3.88

3.66

3.92

3.9675



Nhân tố Mơi trường học tập được hình thành từ 6 biến quan sát gồm (1)

Công tác tổ chức thi cử chặt chẽ, đảm bảo nghiêm túc, khách quan, (2) Nội dung

sinh hoạt tuần lễ công dân, (3) Giảng viên gần gũi, nhiệt tình giải đáp thắc mắc của

sinh viên, (4) hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu giải trí của

sinh viên, (5) Giảng viên đánh giá kết quả học tập chính xác, cơng bằng, (6) Nhà

trường tạo môi trường giáo dục đại học thân thiện.

Theo kết quả đánh giá trên, ta thấy sinh viên có mức độ hài lòng cao về

nhân tố mơi trường học tập (giá trị mean đạt 3.9675). Đánh giá này phù hợp với

thực trạng của nhà trường. Đặc biệt Công tác tổ chức thi cử được sinh viên đánh

giá rất cao (giá trị trung bình bằng 4.25), cho thấy việc tổ chức thi cử được nhà

trường tổ chức rất nghiêm túc, đúng quy chế, ít có trường hợp vi phạm trong lúc

thi. Cán bộ coi thi được hướng dẫn cụ thể quy chế trước mỗi kỳ thi, trong thời gian

thi có chng báo hiệu giờ thi, tránh trường hợp thu bài thi khơng đồng bộ giữa



81



các phòng thi. Các kết quả thi cũng được nhà trường công bố trên website của

trường, trên lớp…, sinh viên có quyền phúc khảo nếu thấy kết quả thi khơng phù

hợp, qua đó đảm bảo tính khách quan và công bằng, điều này làm cho sinh viên

cảm thấy hài lòng khi được đánh giá đúng năng lực của mình.

Về cơng tác rèn luyện chính trị tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học:

Nhà trường chọn lọc chương trình sinh hoạt chính trị đầu khóa cho sinh viên, nội

dung sinh hoạt phù hợp, cập nhật tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước.

Bên cạnh đó, còn phổ biến những quy định mới của trường và những trọng tâm

của năm học. Trong buổi sinh hoạt này, Hiệu trưởng và Ban chủ nhiệm các Khoa

trực tiếp trao đổi và đối thoại với sinh viên, từ đó giải đáp được các thắc mắc của

sinh viên một cách thấu đáo. Ngoài ra, nội dung sinh hoạt cũng định hướng cho

sinh viên tích cực, chủ động trong nghiên cứu, học tập, nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ngoài lịch sinh hoạt chung của trường, các

Khoa còn phối hợp với phòng Đào tạo sắp xếp lịch sinh hoạt riêng trong Tuần sinh

hoạt công dân – HSSV. Trong buổi gặp mặt, với những nội dung thiết thực, cụ thể

của từng Khoa đã khích lệ sinh viên phấn đấu cho năm học mới.

Tuy nhiên, hội trường C001, nơi tổ chức học tuần lễ sinh hoạt công dân, là

hội trường lớn, nơi mà âm thanh vang rất khó nghe rõ lời nói. Nội dung sinh hoạt

có lúc kéo dài đến 12g30 trưa nên làm sinh viên mệt và không tiếp thu được kiến

thức cần truyền đạt.

Các Khoa ln tạo điều kiện, khuyến khích sinh viên trau dồi bản thân để có

thể đạt được sinh viên 5 tốt cấp trường. Sinh viên có thể tham gia hoạt động

phong trào Đoàn – Hội trong suốt thời gian học tại trường. Các phong trào ở

trường được chia thành 2 đợt hoạt động chính: đợt 20/11 và đợt 26/3. Qua đó,

sinh viên vừa có thể học tốt vừa có thể tham gia các hoạt động để trở thành nguồn

nhân lực có hiểu biết về chính trị, có đạo đức, có năng lực chuyên môn. Tuy nhiên,

các hoạt động phong trào của Đoàn trường, đoàn Khoa nhiều, phong phú nhưng



82



cần xem xét về nội dung và chất lượng của các hoạt động để tránh tình trạng sinh

viên hoạt động phong trào mang tính hình thức hoặc mải mê tham gia phong trào

mà việc học trở nên sa sút.

Kết quả trong bảng 4.22 cho thấy sinh viên đánh giá cao về sự tận tâm của

giảng viên (trung bình = 4.01). Để có được kết quả này chính là nhờ nhà trường

ln xem giáo viên là lực lượng nòng cốt trong việc duy trì và phát triển nhà

trường, là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Do

đó, việc xây dựng đội ngũ giảng viên theo hướng đảm bảo chất lượng luôn được

nhà trường coi trọng. Bên cạnh trình độ chun mơn cao, am hiểu sâu rộng lĩnh

vực mình giảng dạy thì người giảng viên cần có sự tận tâm với nghề, nhiệt tình

giảng giải cho sinh viên, định hướng nghiên cứu cho sinh viên. Sinh viên ln mong

muốn người giảng viên của mình phải là người đáng kính, đáng tơn trọng vì giảng

viên là một tấm gương cả về đạo đức lẫn nhân cách để cho sinh viên học tập noi

theo. Lực lượng giảng viên trẻ được trường tuyển dụng có chun mơn cao, năng

động, nhiệt tình với sinh viên, sẵn sàng giúp đỡ và giải đáp thắc mắc cho sinh viên.

Tuy nhiên, do đặc tính của một số ngành học còn mang nặng tính lý thuyết cho nên

mặc dù có ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong giảng dạy nhưng việc giảng dạy vẫn

mang tính thuyết trình, lớp học thiếu sinh động. Bên cạnh đó, có thể do áp lực

cơng tác giảng dạy nên giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho việc đánh giá kết

quả học tập của sinh viên nên biến quan sát Giảng viên đánh giá kết quả học tập

chính xác, cơng bằng chưa thực sự được đánh giá cao (trung bình 3.66).

Ngồi ra, việc đánh giá kết quả học tập chính xác vơ cùng quan trọng vì nó sẽ

ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của sinh viên và thương hiệu của nhà trường.

Thực tế cho thấy nếu việc đánh giá kết quả học tập không công bằng sẽ gây chán

nản cho sinh viên. Kết quả học tập đánh giá quá trình nỗ lực phấn đấu của sinh

viên, vậy nên việc đánh giá đúng kết quả là điều vô cùng quan trọng.



83



Nhà trường luôn tạo môi trường giáo dục thân thiện, từ đó gắn kết giảng

viên và sinh viên, giữa sinh viên với Đoàn, Hội. Sinh viên xem Khoa như là ngơi nhà

thứ 2 của mình. Một số Khoa còn tổ chức ngày gặp gỡ cựu sinh viên, tạo mối liên

hệ hợp tác giữa cựu sinh viên và Khoa. Qua đó có thể thấy, trường học khơng chỉ là

nơi đơn thuần đào tạo mà nó còn như là một ngơi nhà của sinh viên, là nơi mà sinh

viên luôn nhớ và quay về giúp thế hệ đàn em.

4.7.4 Nhân tố Công tác định hướng học tập.

Bảng 4.23 Giá trị trung bình các biến của nhân tố

Công tác định hướng học tập

Các phát biểu

EMP7_ Nhà trường, Khoa tổ chức các buổi tư vấn về phương pháp

học tập giúp sinh viên định hướng rõ ngành học.

EMP8_ Nhà trường, Khoa tổ chức các buổi hội thảo hướng nghiệp,

tư vấn việc làm, giao lưu với doanh nghiệp nhằm phát triển cho sinh

viên các kỹ năng mềm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xin việc, bí quyết

hòa nhập mơi trường cơng sở, cách thuyết phục nhà tuyển dụng...

EMP6_ Nhà trường có các chính sách hỗ trợ, động viên, khuyến khích

sinh viên vượt khó học tập.



Giá trị trung

bình

3.60



3.70



3.92

3.7442



Nhân tố Cơng tác định hướng học tập được hình thành từ 3 biến (1) Nhà

trường, Khoa tổ chức các buổi tư vấn về phương pháp học tập, (2) Nhà trường,

Khoa tổ chức các buổi hội thảo hướng nghiệp, tư vấn việc làm, giao lưu với doanh

nghiệp, (3) Nhà trường có các chính sách hỗ trợ, động viên, khuyến khích sinh viên

vượt khó học tập.

Sinh viên đánh giá nhân tố này khá cao (giá trị trung bình = 3.7442). Điều

này phù hợp với thực tế của nhà trường. Khi học sinh vừa kết thúc học phổ thông



84



bước chân vào một trường đại học, chắc chắn rằng học sinh sẽ khá bỡ ngỡ với một

phương pháp học mới, không giống như học phổ thơng. Bên cạnh đó, khi bắt đầu

vào đại học, điều đầu tiên mà sinh viên mong muốn đó là được tiếp cận với một

môi trường học tập mới, tự do hơn, khoa học hơn và có cơ hội tìm hiểu sâu hơn

một mơn khoa học mà họ u thích. Do đó, các Khoa tại trường Văn Lang đã tổ

chức các buổi gặp mặt tân sinh viên hướng dẫn sinh viên các phương pháp học tập,

tự nghiên cứu, kinh nghiệm học tập, giới thiệu mục tiêu đào tạo, chương trình học

rõ ràng. Thơng qua các buổi hướng dẫn đó, sinh viên sẽ được giải đáp các thắc mắc

ban đầu như “Ngành đó sẽ học ra sao?, Người làm nghề đó cần tố chất gì? Trong 4

đến 5 năm đại học mình sẽ được học gì? Cơ hội việc làm khi tốt nghiệp?”. Qua đó,

giúp sinh viên giúp sinh viên định hướng cách học, tiếp thu các vấn đề khoa học

một cách logic, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Trong nhân tố này vấn đề

“tổ chức các buổi tư vấn về phương pháp học tập giúp sinh viên định hướng rõ

ngành học” là vấn đề mà sinh viên đánh giá thấp nhất. Điều này cũng có thể cho

thấy tuy nhà trường và Khoa có tổ chức các buổi gặp mặt như thế nhưng vẫn còn ít

và chủ yếu diễn ra vào đầu năm học, nhiều sinh viên lại không tham gia nên khi vào

học không tránh khỏi bỡ ngỡ và cảm thấy khó khăn trong việc thích nghi với cách

học mới ở bậc đại học.

Bên cạnh việc định hướng về ngành học cho các em, nhà trường còn chủ

động tổ chức các buổi hội thảo hướng nghiệp, việc làm được tổ chức từ cấp Khoa

tới cấp trường. Tại đây, sinh viên được gặp gỡ nhà tuyển dụng, học hỏi kinh nghiệm

về các kỹ năng xin việc và hình dung được cơng việc của nghề mà mình đã chọn.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay các trường đại học chưa chú trọng đến đào

tạo các kỹ năng mềm cho người học và Văn Lang cũng không nằm ngồi ngoại lệ

đó. Cụ thể là các buổi tổ chức còn hạn hẹp ở các Khoa, chưa có sự phối hợp với

Đoàn – Hội.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở vật chất của nhà trường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×