Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Cơ sở nghiên cứu

1 Cơ sở nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đơ thị, có tổ hợp kiến trúc

hoặc cơng trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên.

1.1.1.2 Phân loại đô thị



Nước ta, theo Nghị định số 72/2001/ NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của chính

phủ về việc phân loại dơ thi và cấp quản lý đô thị, đô thị được chia thành 6 loại:

Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc trung ương có các quận nội thành, huyện

ngồi thành và các đơ thị trực thuộc. Đơ thị loại đặc biệt đa chức năng, với qui mô dân số

từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15000 người/km2 và tỉ lệ lao

động phi nông nghiệp trên 90% số lao động.

Đô thị loại I là thành phố trực thuộc trung ương có các q̣n nội thành, hun ngồi

thành và các đơ thị trực thuộc với qui mô dân số từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân số

tối thiểu là 12000 người/km2. Đô thị loại I là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội

thành, các xã ngoại thành với qui mô dân số từ 500000 người trở lên, mật độ dân số từ

10000 người/km2 trở lên. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp tại đô thị loại I phải trên 85%.

Đô thị loại II tỉ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên. Nếu là đô thị loại

trực thuộc trung ương thì qui mơ dan số từ 800000 người trở lên, mật độ dân số lên

10000 người/km2. Đơ thị loại II thuộc tỉnh có qui mơ dân số trên 300000 người với mật

độ dân số từ 8000 người/km2.

Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh các các phường xã nội thành, nội

thị, các xã ngoại thành, ngoại thị. Qui mô dân số trên 150000 người, mật độ dân số từ

6000 người/km2 trở lên và tỉ lệ dân số phi nông nghiệp từ 75% trở lên.

Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. Qui mô

dân số từ 50000 người trở lên với mật độ dân số trên 4000 người/km2 và tỉ lệ lao động

phi nông nghiệp tối thiểu là 70%.



Đô thị loại IV, đơ thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập

trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Qui mô dân số phải từ 4000 người trở lên,

mật độ dân số trên 2000 người/km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên.

Theo các tài liệu về đô thị, một số khái niệm có thể hiểu như sau:

Nội thành là nơi đã hồn tồn q trình đơ thị, khơng còn các hoạt động nơng

nghiệp và đang từng bước nâng q trình đơ thị hóa lên chất lượng ngày càng cao.

Ngoại thành là khu vực mà q trình đơ thị hóa có thể đã hình thành phần nào đó

nhưng về có bản, xã hội vẫn còn đậm chất nơng thơn.

Theo cấu trúc lãnh thổ hành chính đơ thị, vùng ven đô thị được hiểu một cách thông

thường nhất là vùng ven khu vực nội thị. Trong qui hoạch xây dựng, so với thực tại phát

triển đô thị, vùng ven đô thị có thể đươc coi là khu vực mở rộng đô thị trong giai đoạn

qui hoạch. Đây là khu vực đóng vai trò là gạch nối giữa nội thành và ngoại thành, là nơi

mà q trình đơ thị hóa diễn ra nhữn chuyển động mạnh mẽ nhất.

1.1.2



Đơ thị hóa



1.1.2.1 Khái niệm



Đơ thị hóa là q trình tập trung dân số vào các đô thị, diễn ra trong các mối quan hệ

chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kĩ thuật, làm thay đổi sự phân bố lực

lượng sản xuất, phân bố dân cư, thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa xã hội, kết cấu giới

tính, lứa tuổi của dân cư và mơi trường sống.

Đơ thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân

số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống,...

Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mĩ hay Úc) thường có mức độ đơ thị hóa cao

(trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (nhưViệt Nam hay Trung Quốc)



(khoảng ~35%). Đô thị các nước phát triển phần lớn đã ổn định nên tốc độ đơ thị hóa

thấp hơn nhiều so với trường hợp các nước đang phát triển.

Sự tăng trưởng của đơ thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đơ thị so với kích

thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đơ thị. Do đó, sự tăng trưởng của đơ thị khác

tốc độ đơ thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1

năm hay 5 năm).



 Q trình đơ thị hóa

Khi đánh giá về đơ thị hóa người ta thường sử dụng 2 tiêu chí là mức đơ thị hóa và

tốc độ đơ thị hóa:

mức độ đơ thị hóa = dân số đơ thị/ tổng dân số (%)

tốc độ đơ thị hóa = (dân số đơ thị cuối kì – dân số đơ thị đầu kì)/(Nxdân số đơ thị

đầu kì) (%/năm)

Theo khái niệm của ngành địa lí, đơ thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian

hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời

gian. Các q trình đơ thị hóa có thể bao gồm:





Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có. Thơng thường q trình này khơng phải

là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường

thấp hơn nông thôn.







Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc như là sự nhập cư đến đô

thị







Sự kết hợp của các yếu tố trên.



1.1.3



Những biểu hiện của sự phát triển không gian đô thị



1.1.3.1 Tỉ lệ dân số thành thị cao và tăng nhanh



Đô thị trên thế giới đang tăng nhanh chóng cả về số lượng đô thị, số dân đô thị và tỉ

lệ thị dân. Dân đô thị tại các nước phát triển đạt tỉ lệ cao như Anh 90%, Australia 91%;

Nhật Bản, Hoa Kỳ: 79%, …. Ngược lại, tại các nước đang phát triển, tỉ lệ dân số đô thị

thấp (Trung Quốc 44%; Sudan 41%; Thái Lan 33%; Ấn Độ 28%; Ethiopia 16%...). Một

số nước NICs có tỉ lệ dân số đơ thị rất cao như Singapore đạt 100%; Đài Loan 78%; Hàn

Quốc 82%.

Mức độ đơ thị hóa ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với thế giới: Năm 2007, tỉ lệ dân

số đô thị của Việt Nam chỉ đạt 27%, trong khi tỉ lệ dân số đô thị thế giới là 49%. Các

vùng kinh tế trong nước cũng có mức độ đơ thị hóa khác nhau: cao nhất là Đơng Nam Bộ

với tỉ lệ dân số đô thị là 57,3%; thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc với tỉ lệ là

15,4%.

Dân số đô thị thế giới tăng nhanh cho đến giữa thế kỷ XXI. Tỉ lệ dân số đô thị thế

giới đạt hơn 50% (năm 2008) với khoảng 3,2 tỉ người. Dự báo đến năm 2015 sẽ có 4,1 tỉ

dân đô thị và năm 2050 dân số đô thị sẽ là 6,4 tỉ dân, tương ứng với 55% và 70% dân số

thế giới.

1.1.3.2 Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn



Trong những năm gần đây, dân số đô thị tại các nước đang phát triển tăng nhanh hơn

các nước phát triển, làm cho sự cách biệt dân số đơ thị giữa hai nhóm nước có sự thay đổi

rõ rệt: dân số đơ thị tại các nước đang và kém phát triển chiếm hơn 75% dân số đơ thị

tồn thế giới (năm 2005).

Trong những năm gần đây, xu hướng dân nông thôn đổ xô về các thành phố lớn như

Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cực kì đơng. Theo kết quả điều tra dân số của Tổng cục

dân số giữa kì năm 2007 ở TPHCM cho thấy ở tại đây có khoảng 1 .844.548 người thuộc

diện KT3, KT4 đến từ các tỉnh trong nước chiếm 30,1 % dân số của toàn Thành Phố.



Theo số liệu thống kê năm 2000, số dân thuộc diện này chỉ chiếm 15.2% (730.878

người), và số lượng này đang có xu hướng tăng dần đều.

1.1.3.3 Lãnh thổ đô thị mở rộng



Q trình đơ thị hóa ngày càng phát triển. Hiện nay, đô thị ngày càng phát triển các

tuyến đường giao thông, các khu công nghiệp, khu dân cư, khu thương mại, khu giải

trí...nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao của người dân. Nhu cầu

mở rộng diện tích đất ở, đất khu cơng nghiệp, đất cơng trình cơng cộng tăng cao. Do đó,

diện tích đất đô thị không ngừng mở rộng. Đô thị phát triển phình to ra ngồi ranh giới

hiện có để đáp ứng sự gia tăng dân số và sản xuất của đô thị.

Thực tế, khi các đô thị phát triển, khả năng thu hút các điểm dân cư nông nghiệp và

các đô thị nhỏ xung quanh càng cao. Tập hợp các vùng ảnh hưởng này làm cho đơ thị có

vùng ngoại ơ ngày càng lớn hơn. Quá trình mở rộng lãnh thổ đơ thị cũng chính là q

trình chuyển đất nơng nghiệp thành đất đơ thị (có khi là sự lấn chiếm đất nông nghiệp để

xây dựng đô thị, các cơ sở công nghiệp dân dụng…).

Hiện nay, nhu cầu sử dụng đất của dân cư thành thị những năm gần đây đã tăng lên

hơn hai lần so với đầu thế kỷ XX. Đó là do nhu cầu về diện tích nhà ở, cây xanh, công

viên, câu lạc bộ…ngày càng phát triển khi chất lượng cuộc sống của người dân đô thị

tăng lên. Như vậy, chỉ tiêu sử dụng đất và gia tăng diện tích đất đơ thị chỉ là chỉ tiêu gián

tiếp, biểu hiện nét đặc trưng của q trình đơ thị hóa. Theo dự đốn, diện tích đất đơ thị

sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong khoảng 150 năm tới. Tất nhiên, sự lấn chiếm đất đai mới

của các đô thị cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực: giảm diện tích gieo trồng, làm suy

thối mơi trường,…

1.1.4



Áp dụng viễn thám và GIS vào nghiên cứu đô thị



Đối với nghiên cứu đô thị, Viễn thám và GIS là một công cụ có sức tiềm tàng. Việc

sử dụng các hệ thống thơng tin địa lý và công nghệ thông tin không gian trong việc quy

hoạch đã ngày càng trở nên quan trọng, đặt biệt có giá trị đối với cơng nghệ phân tích



khơng gian và trình bày các kết quả trên bản đồ. Các công nghệ Viễn thám và GIS cho

phép phân tích, dự báo sử dụng đất thích hợp và thiết lập các dạng mơ hình phát triển

khác nhau. Khi áp dụng vào các kế hoạch và các chính sách, Viễn thám và GIScũng có

thể sử dụng để kiểm nghiệm các kịch bản và dự báo các tác động tích luỹ của phát triển.

Cụ thể như chồng ghép các lớp thông tin bản đồ hiện trạng sử dụng đất với các bản đồ

thổ nhưỡng, thuỷ văn, địa hình, giao thơng, dân cư để tạo ra một lớp bản đồ nghiên cứu

đô thị, q trình chồng ghép các lớp thơng tin bản đồ dựa trên các phép toán số học, các

thong tin chiết xuất được thiết lập trên mỗi giá trị của các lớp dữ liệu và vị trí tương ứng

từ các lớp dữ liệu khác ( Aronoff, 1989). Nghiên cứu đô thị có thể dựa trên những yếu tố

tác động đến các loại hình sử dụng đất như:

Điều kiện tự nhiên.

Điều kiện kinh tế - xã hội.

Chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.

Cơ sở hạ tầng giao thông( đường bộ, đường thuỷ).













Định hướng nghiên cứu đô thị, sự thay đổi không gian, bản chất của các đối tượng sử

dụng đất được xem xét và phân tích dựa trên mối quan hệ giữa các yếu tố trên( C.D.

Tomlin, K.M. Jonston 1988)

Nghiên cứu không gian đô thị đánh giá lớp phủ mặt đất thông qua các kĩ thuật xử lý

ảnh và kiến thức tách lớp đô thị.

Lớp phủ mặt đất ( Lớp thực phủ - Land cover)

Lớp phủ mặt đất là lớp phủ vật chất quan sát được khi nhìn từ mặt đất hoặc thơng

qua vệ tinh viễn thám, bao gồm thực vật (mọc tự nhiên hoặc tự trồng cấy) và các cơ sở

xây dựng của con người (nhà cửa, đường sá,…) bao phủ bề mặt đất. Nước, băng, đá lộ

hay các dải cát cũng được coi là lớp phủ mặt đất. (The FAO AFRICOVER Progamme,

1998).



 Phân loại lớp phủ mặt đất



Sokal (1974) đã định nghĩa phân loại là việc sắp xếp các đối tượng theo các nhóm

hoặc các tập hợp khác nhau dựa trên mối quan hệ giữa chúng. Một hệ thống phân loại

miêu tả tên của các lớp và tiêu chuẩn phân biệt chúng. Các hệ thống phân loại có hai định

dạng cơ bản, đó là phân cấp và không phân cấp. Một hệ thống phân cấp thường linh hoạt

hơn và có khả năng kết hợp nhiều lớp thông tin, bắt đầu từ các lớp ở quy mô lớn rồi phân

chia thành các phụ lớp cấp thấp hơn nhưng thông tin chi tiết hơn. (The FAO

AFRICOVER Progamme, 1998).

Bảng 1. 1 Hệ thống phân loại lớp phủ mặt đất để sử dụng với dữ liệu viễn thám

(Nguyễn Ngọc Thạch, 2005)

Cấp 1



Cấp 2

11 Khu dân cư 16 Cơng trình phúc lợi

12 Khu thương mại và dịch vụ

13 Nhà máy công nghiệp



1 Đô thị hoặc thành phố



14 Giao thông

15 Công trình cơng cộng

17 Khu giải trí thể thao

18 Khu hỗn hợp

19 Đất trống và các đất khác

21 Mùa màng và đồng cỏ



2 Lúa - hoa màu



22 Cây ăn quả

23 Chuồng trại gia súc

24 Nông nghiệp khác

31 Đất đồng cỏ



3 Đất bỏ hoang



32 Đất cây bụi

33 Đất hỗn tạp



41 Rừng thường xanh cây

42 Rừng rụng lá

4 Đất rừng



43 Rừng hỗn giao

44 Rừng chặt trụi

45 Vùng rừng bị cháy

51 Suối và kênh

52 Hồ và hố nước



5 Mặt nước



53 Bồn thu nước

54 Vịnh và cửa sơng

55 Nước biển

61 Đất ướt có thực vật tạo rừng



6 Đất ướt



62 Đất ướt có thực vật khơng tạo rừng

63 Đất ướt khơng có thực vật



7 Đất hoang



71 Hồ bị khô

72 Bãi biển



1.2 Khu vực nghiên cứu

Thành phố Mỹ Tho có lịch sử hình thành khá sớm, hơn 330 năm hình thành và phát

triển. Từ năm 1623 - Một bộ phận người Việt từ Miền Bắc và Miền Trung vào lập nghiệp

ở vùng tả ngạn sông Bảo Định (Phường 2, 3, 8 và xã Mỹ Phong, Đạo Thạnh, Tân Mỹ

Chánh, hiện nay còn di tích lưu lại), chủ yếu sống bằng nghề nông và buôn bán.

Thành phố Mỹ Tho hiện là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Tiền Giang (được Thủ

tướng Chính phủ cơng nhận theo Quyết định số 248/2005/QĐ-TTg ngày 07 tháng 10 năm

2005 của Thủ tướng Chính phủ là đơ thị loại II ) là đô thị tỉnh lỵ



Hiện nay thành phố Mỹ Tho 11 phường nội thị và 6 xã Mỹ Phong, Đạo Thạnh,

Trung An, Tân Mỹ Chánh, Thới Sơn và Phước Thạnh.

1.2.1



Vị trí địa lý



Thành phố Mỹ Tho nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Hồ

Chí Minh 73 km, trung tâm thành phố Cần Thơ 97 km, thành phố Bên Tre 13 km, thành

phố Tân An 26 km, thành phố Cao Lãnh 94 km và thành phố Vĩnh Long 65 km, là đô thị

loại II trực thuộc tỉnh (theo Quyết định số 248/2005/QĐ-TTG ngày 07/10/2005 của thủ

tướng Chính phủ) và được điều chỉnh mở rộng theo Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày

29/6/2009 của Chính phủ. Tổng diện tích tự nhiên của địa bàn là 81,5 km2, chiếm 3,2 %

diện tích tự nhiên 12,8% dân số tồn tỉnh. Tồn địa bàn có 17 đơn vị hành chính trực

thuộc bao gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, phường Tân Long và các xã: Tân

Mỹ Chánh, Đạo Thạnh, Trung An, Mỹ Phong, Phước Thạnh, Thới Sơn.

Về tọa độ địa lý

 Kinh độ Đông

 Vĩ độ Bắc



: 105032’20” - 105039’43”



: 10019’25” - 10024’34”



Về ranh giới địa lý hành chính,

 Phía Đơng giáp huyện Chợ Gạo;

 Phía Tây giáp huyện Châu Thành;

 Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre (qua sơng Tiền)

 Phía Bắc giáp huyện Châu Thành và Chợ Gạo.



1.2.2



Điều kiện tự nhiên



1.2.2.1 Khí hậu, thời tiết

Điều kiện khí hậu, thời tiết của TP Mỹ Tho mang các đặc điểm chung: nền nhiệt

cao, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt (mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam và mùa khơ từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

trùng với mùa gió Đơng Bắc). Các chỉ số chung như sau:

Nhiệt độ khơng khí trung bình năm 27,9 oC, nhiệt độ khơng khí trung bình cao nhất

29,5oC , nhiệt độ khơng khí trung bình thấp nhất là 26oC. Tổng tích ơn trong năm 9.700oC

- 9.900oC.

Lượng mưa thuộc vào loại trung bình thấp (1.400-1.500 mm/năm, năm mưa nhiều

nhất 1.922 mm, năm mưa ít nhất 867 mm), ẩm độ khơng khí bình qn 79,2% và thay đổi

theo mùa (70-88%), lượng bốc hơi trung bình 3,3mm/ngày (biến thiên theo mùa từ 2,44,5mm/ngày).

Số giờ nắng cao (2.300-2.500 giờ) và phân hóa theo mùa.

Vào mùa mưa, gió mùa Tây Nam mang theo nhiều hơi nước với hướng gió thịnh

hành là Nam, Tây Nam (tháng V-IX, tốc độ trung bình 1-5m/s) và Tây (tháng VIII, tốc độ

trung bình (5-6 m/s); vào mùa khơ, hướng gió thịnh hành là Đơng Nam và Đơng, tốc độ

gió trung bình 1 -4 m/s.

1.2.2.2 Chế độ thủy văn

Thành phố Mỹ Tho có mật độ dòng chảy khá dày với tổng chiều dài 150 km, mật độ

3,09 km/km2, trong đó, các kênh rạch chính (sơng Tiền, sơng Bảo định, rạch Xồi Hột,

rạch Kỳ Hơn...) có tổng chiều dài 73 km, mật độ 1,50 km/km2.



Sơng Tiền là dòng chảy chính bao ranh giới phía Nam của Thành phố với chiều dài

7,6 km, chiều rộng đến cù lao Tân Long khoảng 270 m, đến cù lao Thới Sơn khoảng 550

m, đến bờ Bến Tre là 2.300 m, tiết diện ướt vào khoảng 12.000-17.000 m2

Các kênh rạch nội đồng được chia ra làm 2 hệ thống:





Sông Bảo định đi qua 4 km trung tâm Thành phố và nối liền TP Mỹ Tho với

TX Tân An







Rạch Kỳ Hôn phân bố tại khu vực phía Tây, chủ yếu tác động đến lưu vực

phía Nam Tân Mỹ Chánh.



Khu vực cù lao Tân Long hiện bị sạt lở cả về thượng lưu lẫn hạ lưu

1.2.2.3 Địa mạo, địa hình, địa chất

Về địa chất, địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển

và phù sa của sơng Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 m có 2 loại trầm tích: Holocene

(phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ).

Về địa mạo, TP Mỹ Tho nằm trong vùng đồng bằng Bắc sơng Tiền, địa hình bằng

phẳng xen lẫn với một ít giồng cát, mật độ sơng rạch khá dày với trục sơng chính là sơng

Bảo định.

Định hình tương đối bằng phẳng và nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Cao trình khu

vực nội thành phổ biến từ 1,5-2,0 m, tại khu vực ngoại thành, cao trình biến thiên trong

khoảng 1,0-1,5 m.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Cơ sở nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×