Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân tích làm rõ điều kiện tuyên bố cá nhân đã chết:

Phân tích làm rõ điều kiện tuyên bố cá nhân đã chết:

Tải bản đầy đủ - 0trang

điểm biệt tích là ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó, nếu khơng xác định được

ngày có tin tức cuối cùng thì thời điểm biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của tháng có

tin tức cuối cùng, nếu khơng xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời điểm

biệt tích được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo có tin tức cuối cùng. Như vậy, tính

từ thời điểm biệt tích, phải sau năm năm thì các cá nhân liên quan mới có quyền u cầu

tòa án ra quyết định tun bố chết với một người và thỏa mãn thời hạn đó thì Tồn án mới

có thể ra quyết định tun bố cá nhân chết.

Về mặt không gian:

Bộ luật Dân sự Việt Nam khơng quy định về phạm vi nơi có tin tức cuối cùng. Tuy

nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối

cao để xác định khơng gian của nơi có tin tức cuối cùng là nơi cứ trú cuối cùng của người

đó: “ Nơi cư trú cuối cùng” của người biệt tích là nơi cuối cùng mà nguyên đơn, người

yêu cầu biết được người đã biệt tích thường xun sinh sống tại đó trước khi họ biệt tích.

Xác định nơi cư trú cuối cùng của cá nhân biệt tích bị tuyên bố chết là cơ sở để tính

thời hạn năm năm cho việc tòa án ra quyết định tuyên bố. Trong trường hợp người khơng

có tin tức sống tại nơi cư trú cuối cùng của họ đã quá năm năm, nhưng nếu có căn cứ

chính xác về việc người đó đã xuất hiện ở địa phương khác thì ngày mà họ xuất hiện ở địa

phương đó được coi là thời điểm để bắt đầu tính thời hạn.

Thứ hai phải thơng qua thủ tục tìm kiếm:

Trước khi các cá nhân liên quan yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố đã chết đối

với một người nào đó thì họ có thể u cầu Tòa án ra thơng báo tìm kiếm người vắng mặt

tại nơi cư trú ( nếu cá nhân biệt tích sáu tháng liền) theo quy định của pháp luật tố tụng

dân sự. Xuất phát từ ý nghĩa của việc thông báo tìm kiếm là tìm kiếm nhằm xác định lại

lần cuối về tin tức người biệt tích trước khi Tòa án ra quyết định về số phận pháp lí của họ

đồng thời nâng cao tính xác thực, khách quan, chính xác trong quyết định của Tòa án nên

đó là thủ tục bắt buộc khi Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích.Vì vậy,

khi giải quyết u cầu tuyên bố một người đã chết mà chưa thông qua thủ tục tuyên bố

mất tích ( đối với các trường hợp quy định tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 71

5



BLDS năm 2015) thì thơng báo tìm kiếm cũng là thủ tục bắt buộc. Đối với trường hợp

người đã bị tuyên bố mất tích nhưng sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích

của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn khơng có tin tức gì để xác định người đó còn

sống và có u cầu tun bố người đó đã chết thì vẫn phải tiến hành thơng báo thủ tục tìm

kiếm. Vì có thể có trường hợp, trong khoảng thời gian ba năm đó rất có thể người bị Tòa

án tun bố mất tích xuất hiện nhưng vì lí do nào đó mà họ và những người liên quan

khơng u cầu Tòa án hủy tun bố mất tích ( Ví dụ như trường hợp cá nhân liên quan

biết người bị tuyên bố mất tích xuất hiện nhưng giấu diếm , để khi tun bố chết khơng

phải ính lại thời hạn khi người đó xuất hiện nhằm mục đích hưởng thừa kế. Việc thông

báo phải diễn ra công khai trên các phương tiện thơng tin đại chúng, báo đài…

Tóm lại có thể thấy được việc thơng báo tìm kiếm là thủ tục bắt buộc nếu muốn

tuyên bố một cá nhân chết khi chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích là bắt buộc. Đối với

người đã tuyên bố mất tích, sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa

án có hiệu lực pháp luật mà vẫn khơng có tin tức còn sống thì BLDS khơng quy định có

bắt buộc phải thơng qua thủ tục thơng báo tìm kiếm hay khơng. Tuy nhiên để đảm bảo cho

sự khách quan, chính xác thì theo quan điểm của cá nhân em, việc thơng báo tìm kiếm rất

cần thiết và nên tiến hành để tránh một số trường hợp đã nêu ở trên.

Thứ ba phải có yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan:

Tại khoản 1, Điều 71 BLDS 2015 đã quy định về việc tuyên bố một người đã chết,

trong đó có điều kiện về việc phải có người có quyền, lợi ích liên quan u cầu và phải

thỏa mãn các điều kiện nhất định thì Tòa án mới có thể ra quyết định tun bố mất tích : “

Người có quyền, lợi ích liên quan có thể u cầu Tòa án ra quyết định tun bố một người

đã chết trong các trường hợp sau đây :…” Tính tới thời điểm hiện tại, Bộ luật Dân sự chưa

có giải thích cụ thể thế nào là người có quyền, lợi ích liên quan. Tuy nhiên, chúng ta có

thể hiểu : Người có quyền, lợi ích liên quan là người có mối quan hệ nào đó với người bị

yêu cầu tuyên bố đã chết hoặc mất tích (quan hệ dân sự, quan hệ lao động, quan hệ hôn

nhân gia đình, và lợi ích của họ trực tiếp bị ảnh hưởng trong trường hợp cá nhân vắng

mặt. Như chúng ta đã biết, khi một cá nhân bị tuyên bố chết thì đồng nghĩa với việc đó tư

cách chủ thể của họ bị chấm dứt hồn tồn. Việc đó sẽ tác động trực tiếp đến những người

6



có liên quan với họ về quyền lợi, về nhân thân. Việc một người vắng mặt q lâu cũng có

ảnh hưởng khơng nhỏ đến những người đó.

3.



Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố cá nhân chết:

Khi quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó



xem như đã chết. Lúc này, kéo theo việc “ chết về mặt pháp lí” của cá nhân là hàng loạt

các vấn đề khác, liên quan đến tư cách chủ thể của người bị tuyên bố chết, liên quan đến

các vấn đề xung quanh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người đó…Cụ thể là :

Về tư cách chủ thể:

Trong trường hợp quyết định tuyên bố chết của Tòa án đối với một cá nhân có hiệu

lực thì thì tư cách chủ thể của cá nhân đó chấm dứt hồn tồn. Điều này có nghĩa là, tính

từ thời điểm quyết định của Tòa án có hiệu lực thì cá nhân đó khơng thể tham gia vào bất

cừ quan hệ dân sự nào với tư cách là một chủ thể của quan hệ đó, từ quan hệ tài sản, quan

hệ nhân thân, các giao dịch dân sự,…Đây là điểm khác so với tuyên bố mất tích: nếu một

người bị tun bố mất tích thì tư cách chủ thể của họ không bị chấm dứt mà chỉ bị tạm

dừng.

Về quan hệ nhân thân:

Quan hệ hơn nhân, gia đình và các quan hệ khác về nhân thân của người đó được giải

quyết như đối với người đã chết và theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và

gia đình. Trong trường hợp này, quan hệ hơn nhân của cá nhân bị tuyên bố chết chấm dứt.

Các quan hệ nhân thân khác cũng chấm dứt tương tự. Nếu vợ hoặc chồng của cá nhân bị

tuyên bố chết kết hơn với người khác thì việc kiết hơn đó vẫn có hiệu lực pháp luật.Các

quan hệ nhân thân khác như các quan hệ về tên gọi, danh dự, nhân phẩm của cá nhân hay

các quan hệ nhân thân gắn với tài sản như quyền tác giả về tá phẩm văn học nghệ thuật,

quyền tác giả về phát minh sáng chế…cũng được giải quyết như đối với người đã chết,

tức là chấm dứt các quan hệ đó.

Về quan hệ tài sản :



7



Cũng được và tuyên bố như đối với người đã chết được giải quyết theo quy định của

pháp luật về thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự, Luật hơn nhân và gia đình. Tức là,

khi quyết định tuyên bố chết đối với một cá nhân của Tòa án có hiệu lực, thì thời điểm đó

cũng là thời điểm mở thừa kế.Khoản 1, Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định : “

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên

bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều

71 của Bộ luật này”.Đồng thời với việc này, cũng là thời điểm phát sinh các quyền và

nghĩa vụ của người thừa kế. Như vậy, nếu như người bị tuyên bố chết có di chúc hợp

pháp, thì tài sản họ để lại được chia theo di chúc. Trường hợp khơng có di chúc hoặc rơi

vào một số trường hợp đặc biệt của Điều 650 của Bộ luật Dân sự thì di sản người chêt để

lại được chia theo pháp luật. Đồng thời, đây cũng là thời điểm mà những người thừa kế

thực hiện nghĩa vụ của mình nếu người chết yêu cầu. Trong trường hợp người bị tuyên bố

chết chưa giải quyết xong nghĩa vụ tài sản với chủ thể nào đó, thì những người thừa kế

phải thực hiện nghĩa vụ đó trong phạm vi tài sản của người bị tuyên bố chết để lại.

Như vậy, ta có thể thấy được, khi một cá nhân bị tuyên bố chết, sẽ dẫn đến rất nhiều

hậu quả pháp lí khác nhau, liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhiều chủ thể khác. Chính vì

vậy, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một cá nhân chết, thì phải xem xét trên nhiều khía

cạnh, các điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể loại trừ trường hợp vì

nhầm lẫn sai sót hay vì một nguyên nhân khách quan nào đó mà sau khi quyết định của

Tòa án có hiệu lực, thì người bị tun bố chết quay trở về.Thực tế nhiều vụ việc đã xảy ra

như vậy và trong trường hợp này, mọi điều sẽ trở nên vơ cùng phức tạp.Dự đốn trước

được điều đó, các nhà làm luật đã quy định trong Bộ luật Dân sự về cách thức giải quyết

vấn đề trên.

4.



Hủy bỏ quyết định tuyên bố chết và hậu quả pháp lý theo quy định của



BLDS 2015:

Bộ luật Dân sự đã dự định trước cách giải quyết các vấn đề khi người bị tuyên bố

chết trở về. Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết với cá nhân thì cái chết đó chỉ là cái

chết mang tính ‘‘suy đốn pháp lý’’. Do đó, sự suy đốn này có thể chính xác, có thể



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân tích làm rõ điều kiện tuyên bố cá nhân đã chết:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×