Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
c. Mô hình của Keynes

c. Mô hình của Keynes

Tải bản đầy đủ - 0trang

12



cần được xem xét đi kèm với tăng trưởng và tạo việc làm. Thực tế ở nhiều

nước cho thấy, tăng trưởng GDP không đi kèm với tăng lao động mà ngược

lại.

d. Mơ hình của Harry T.Oshima

Năm 1989, nhà kinh tế học người Nhật Bản – Harry T,Oshima – trong

tác phẩm “Tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á gió mùa” đưa ra lý thuyết

về tăng trưởng và tạo việc làm ở các nước châu Á với mơ hình phát triển 2

khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp theo 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu: Tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nông

nghiệp để tạo việc làm cho lao động thiếu việc làm ở khu vực nông nghiệp,

cải thiện đời sống nông dân đồng thời để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực

phẩm cho dân số tăng lên và xuất khẩu nơng sản để có ngoại tệ nhập khẩu

máy móc cho phát triển cơng nghiệp. Giai đoạn này kết thúc khi sản xuất

nơng nghiệp hàng hóa phát triển trên quy mô lớn, đặt ra yêu cầu phát triển

mạnh công nghiệp và dịch vụ, trước hết là các ngành công nghiệp, dịch vụ

phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống ở nông thôn như công nghiệp phân

bón, cơng nghiệp chế biến, các dịch vụ ở nơng thơn. Xét theo q trình CNH

– HĐH phát triển một nền kinh tế, giai đoạn này có thể coi là giai đoạn nền

kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp hay nền kinh tế nông nghiệp

với tỷ trọng lao động nơng nghiệp còn khá cao.

- Giai đoạn hai: Đẩy mạnh phát triển đồng thời cả 2 khu vực gồm phi

nông nghiệp và nông nghiệp để tạo việc làm đầy đủ cho lao động ở cả hai khu

vực. Theo Harry T,Oshima, để tạo việc làm đầy đủ cho lao động ở khu vực

nông nghiệp và lao động ở hai khu vực này hay nói cách khác để chuyển dịch

nhanh CCLĐ trong giai đoạn này, cần phát triển các ngành công nghiệp, dịch

vụ theo chiều rộng, sử dụng nhiều lao động để tạo đủ việc làm cho xã hội,

giảm tỷ lệ thất nghiệp. Giai đoạn này kết thúc khi tốc độ gia tăng việc làm lớn



13



hơn tốc độ tăng lao động, nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu thiếu lao động, tiền

lương thực tế tăng nhanh. Đây có thể coi là giai đoạn “cất cánh” của nền kinh

tế từ nông nghiệp sang công nghiệp.

- Giai đoạn ba: Phát triển cả hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp

theo chiều sâu, mở rộng áp dụng KHCN vào sản xuất nhằm nâng cao năng

suất lao động, qua đó giảm cầu lao động và tăng sức cạnh tranh của các ngành

kinh tế. Khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản

phẩm nhập khẩu và hướng vào xuất khẩu đi kèm với chuyển dịch cơ cấu các

ngành công nghiệp theo hướng nâng cao hàm lượng công nghệ của sản phẩm.

Khu vực dịch vụ phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng với hàm lượng

giá trị gia tăng của sản phẩm không ngừng được nâng lên. Giai đoạn này có

thể coi là giai đoạn nền kinh tế phát triển cơ bản dựa vào công nghiệp và dịch

vụ, giai đoạn nền kinh tế công nghiệp và tiếp tục phát triển trở thành nền kinh

tế tri thức.

Mơ hình của Oshima phản ánh khá rõ các giai đoạn phát triển của một

nền kinh tế gắn với tạo việc làm và chuyển dịch CCLĐ đồng thời có tính bền

vững khi xác định tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch CCLĐ cần phải dựa

trên tích lũy và đầu tư của cả hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp,

kết hợp hài hòa phát triển khu vực nơng nghiệp và phi nơng nghiệp trong mối

quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó có ưu tiên phát triển từng khu vực trong

mỗi giai đoạn gắn với tạo việc làm và chuyển dịch CCLĐ. Như vậy, tăng

trưởng kinh tế nhanh và chuyển dịch lao động khơng dẫn đến phân hóa lớn

trong xã hội và bất bình đẳng trong thu nhập.

Thực tế phát triển ở một số nước châu Á cho thấy mơ hình của Harry

T.Oshima khá phù hợp, điển hình trong khu vực có Thái Lan, Malaysia. Đối

với Việt Nam, mơ hình này là một mơ hình hữu ích để nghiên cứu vận dụng

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững.



14



1.2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch CCLĐ

a. Về tốc độ chuyển dịch

Quy mô và tốc độ gia tăng lao động trong các ngành: Chỉ tiêu về quy

mô lao động cho biết số lượng lao động trong các ngành của một địa phương,

một vùng hay cả nước tại từng thời điểm cụ thể. Thơng qua đây có thể xác

định được tốc độ gia tăng qua từng năm. Từ hai chỉ tiêu này có thể thấy được

sự biến đổi số lượng và tỷ trọng lao động của các ngành thay đổi như thế nào

qua từng thời kỳ.

b. Về tính phù hợp

CCLĐ theo ngành: Chỉ tiêu này cho biết số lượng lao động của từng

ngành chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số lao động một địa phương,

một vùng hay cả nước tại một thời điểm cụ thể.

Cơ cấu kinh tế theo ngành (theo GDP): Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng

đóng góp của từng ngành trong GDP của một địa phương, một vùng hay cả

nước trong một khoảng thời gian cụ thể.

Qua hai chỉ tiêu trên có thể đánh giá được sự phù hợp của chuyển dịch

CCLĐ so với cơ cấu kinh tế.

c. Về tính hiệu quả

Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển dịch CCLĐ là

các chỉ tiêu về năng suất, tăng thu nhập và cải thiện mức sống của dân cư,

tình hình giải quyết vấn đề về môi trường…

Năng suất lao động theo ngành: Chỉ tiêu này cho biết giá trị sản xuất do

mỗi người lao động tạo ra trong một ngành nhất định. Nó cho ta biết hiệu quả

hoạt động của ngành đó. Nếu CCLĐ được chuyển dịch theo đúng hướng thì

năng suất lao động sẽ tăng.

GDP/lao động: Cho thấy sự đóng góp của một lao động vào trong GDP.

Một sự chuyển dịch CCLĐ hợp lý tất yếu sẽ dẫn đến sự cải thiện đời sống của

người lao động, thể hiện gián tiếp qua sự gia tăng của GDP/lao động.



15



GDP/người: Một lao động ngồi việc ni sống bản thân còn phải ni

sống cả gia đình mình (cha mẹ, con cái, vợ chồng…). Do đó, hiệu quả của

chuyển dịch CCLĐ khơng thể chỉ xét đến thu nhập của lao động đó mà còn

phải quan tâm đến thu nhập đầu người có được cải thiện hay khơng.

1.2.3.4. Chuyển dịch CCLĐ tích cực

Chuyển dịch CCLĐ có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, tuy

nhiên nếu căn cứ vào không gian di chuyển của CCLĐ thì chuyển dịch CCLĐ

có thể theo hai phương thức:

Một là: Chuyển dịch CCLĐ tại chỗ, đây là sự chuyển dịch của lao

động nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác ngay trong địa bàn nông

thôn. Đặc điểm cơ bản của sự dịch chuyển này là khơng có sự di chuyển nơi

sinh sống, nên không làm thay đổi cơ cấu, cũng như mật độ dân cư sinh

sống ở nông thôn, nhưng CCLĐ ở đây lại có sự thay đổi rõ rệt. Đây chính là

phương thức chuyển dịch CCLĐ tích cực nhất, đảm bảo được mục tiêu “Ly

nông bất ly hương'' mà nhiều quốc gia đang phát triển đã đặt ra.

Hai là: Chuyển dịch CCLĐ kèm theo sự di cư, đây là sự chuyển dịch

lao động về mặt không gian. Hậu quả là tạo ra các dòng di chuyển dân cư và

lao động từ nông thôn ra thành thị, nông thôn - nông thôn, từ vùng này, nơi

này qua vùng khác, nơi khác hoặc từ quốc gia này sang quốc gia khác. Đặc

điểm của sự dịch chuyển này là sẽ làm giảm quy mô cũng như làm thay đổi

cơ cấu của nguồn lao động nơi ra đi, nhưng lại làm tăng quy mô và thay đổi

cơ cấu của nguồn lao động nơi đến. Để lý giải cho quá trình chuyển dịch

phức tạp này, các nhà kinh tế đã đưa ra lý thuyết về ''lực hút và lực đẩy”, đối

với lao động.

Theo lý thuyết trên, một trong những yếu tố cơ bản tạo ra lực hút đối

với lao động nơi ra đi chính là do mức thu nhập dự kiến ở khu vực họ sẽ

chuyển đến. Vì vậy, để giảm bớt áp lực về đời sống, việc làm do hậu quả



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

c. Mô hình của Keynes

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×