Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phải có sự tập trung, vào cuộc quyết liệt, thống nhất cao, phân công trách nhiệm rõ ràng của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị, từ tỉnh đến cơ sở trong tổ chức thực hiện. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền rất quan trọn

Phải có sự tập trung, vào cuộc quyết liệt, thống nhất cao, phân công trách nhiệm rõ ràng của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị, từ tỉnh đến cơ sở trong tổ chức thực hiện. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền rất quan trọn

Tải bản đầy đủ - 0trang

rất quan trọng nhất là Bí thư chi bộ, Trưởng thơn, thực tế cho thấy ở đâu cấp ủy,

chính quyền quan tâm, người đứng đầu gương mẫu, trách nhiệm, bám sát thực tiễn,

vận dụng sáng tạo phù hợp với đặc điểm của địa phương ở đó thu được kết quả tốt.

Sự đồng thuận của người dân là yếu tố quyết định đến sự thành công của dồn

điền, đổi thửa, tổ chức các mơ hình sản xuất hàng hóa tập trung, do vậy trong thực

hiện cần phát huy vai trò chủ thể của người dân, từng nội dung phải được nhân dân

bàn bạc dân chủ, công khai, minh bạch để tạo ra sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng

lớp nhân dân; công tác tuyên truyền, vận động quần chúng là giải pháp quan trọng

hàng đầu, làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia đóng góp ý

kiến, ngày công, tiền của và chủ động thực hiện các nhiệm vụ của mình phải được

thực hiện thường xuyên, sâu rộng, phong phú.

Cần có cơ chế chính sách, nguồn lực hỗ trợ kịp thời và phù hợp thực tiễn ở cơ

sở; xây dựng chương trình, kế hoạch lộ trình cụ thể, có cách làm phù hợp, vận dụng

sáng tạo vào điều kiện địa phương, tránh bệnh thành tích, nóng vội mất dân chủ.

Dồn điền, đổi thửa phải gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánh

đồng mẫu, cánh đồng cho thu nhập cao, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào

sản xuất, tạo điều kiện khuyến khích doanh nghiệp liên kết trong q trình sản xuất

nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nơng nghiệp để người dân thấy được

hiệu quả, lợi ích công tác dồn điền, đổi thửa.

Quan tâm làm tốt công tác kiểm tra, hướng dẫn, kịp thời tháo gỡ khó khăn

vướng mắc, tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm và động viên, khen thưởng những gương

điển hình tiên tiến để nhân rộng; công tác tuyên truyền phải được thực hiện thường

xuyên, liên tục với nhiều hình thức đa dạng, phong phú.

Thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức

của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về Chỉ thị của Ban thường vụ

Tỉnh ủy bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng; xác định dồn điền, đổi

thửa, tổ chức mơ hình sản xuất hàng hóa tập trung là nhiệm vụ thường xuyên của

các cấp, các ngành, tổ chức đồn thể, phát huy vai trò người đứng đầu và người dân

là chủ thể trực tiếp thực hiện.

1.3. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Kim Văn Chinh (2012) q trình tích tụ tập trung đất đai hướng tới mục tiêu

nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng đất đai nhằm tạo sự ổn định và yên

tâm đầu tư vào đất đai và sản xuất nông nghiệp, chính hỗ trợ đào tạo nghề và

chuyển đổi việc làm cho người nông dân, dần dần rút lao động ra khỏi khu vực

27



nơng nghiệp và cuối cùng là chính sách hỗ trợ kinh tế như chính sách vay vốn,

chính sách đảm bảo đầu ra cho sản phẩm…

Hoàng Thị Thu Huyền (2016) trong luận án “tích tụ ruộng đất trong nơng

nghiệp ở vùng Tây Nam bộ” cho rằng tích tụ ruộng đất có tác động đến đời sống

kinh tế xã hội nơng thơn Tây Nam Bộ ở nhiều khía cạnh. Bên cạnh việc góp phần

nâng cao sản lượng, năng suất cây trồng, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa và

chun mơn hóa sản xuất của cả vùng, tích tụ ruộng đất còn cải thiện thu nhập, đời

sống, thậm chí làm giàu cho hộ gia đình có tích tụ. Tuy nhiên, tích tụ ruộng đất cũng

là một trong các yếu tố góp phần tạo ra chênh lệch giàu nghèo từ việc chênh lệch

ruộng đất. Hơn thế nữa, tích tụ ruộng đất cũng là một trong những nguyên nhân của

hiện tượng nông dân không đất sản xuất, làm mất đi sinh kế truyền thống, tạo ra tâm

lý tiêu cực trong một bộ phận người dân nông thôn. Mặc dù vậy, tích tụ ruộng đất

đã và đang được sự ủng hộ của người dân và vẫn là phương cách phù hợp cho sự

phát triển kinh tế nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ.

ThS. Phạm Thanh Quế (2011) khi nghiên cứu ảnh hưởng của q trình tích tụ và

tập trung đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyên Phú XuyênThành phố Hà Nội. Tác giả nhận thấy kết quả công tác chuyển đổi ruộng đất huyện

Phú Xun đã làm tăng đáng kể quy mơ diện tích thửa và giảm số thửa/hộ. Diện tích

bình qn/thửa tăng từ 4 lần đến 5 lần. Số thửa đất bình quân/hộ giảm từ 4 lần đến 5

lần. Số thửa bình quân trên hộ trước chuyển đổi là 6,44 thửa/hộ thì sau chuyển đổi bình

qn chỉ còn 2,21 thửa/hộ. Giá trị ngày công lao động sau chuyển đổi cũng cao hơn

nhiều so với trước. Trước chuyển đổi GTGT/công/ha thấp nhất đạt 27 nghìn

đồng/cơng, cao nhất đạt 147 nghìn đồng/cơng thì sau chuyển đổi GTGT/cơng/ha thấp

nhất cũng đã đạt 47 nghìn đồng/cơng và cao nhất đã đạt đến 950 nghìn đồng/cơng.

Năm 2014 tác giả nghiên cứu điền đổi thửa tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cho

thấy sau dồn điền đổi thửa số thửa/hộ giảm từ 4,5 thửa/hộ xuống 1,4 thửa/hộ, diện

tích/thửa tăng từ 463m2 lên 1.650m2.

Chu Mạnh Tuấn (2007) nghiên cứu dồn điền đổi thửa tại Hà Tây cho thấy thực

trạng manh mún đất đai trước dồn điền đổi thửa xã Liên Bạt là 11,2 thửa/hộ, sau

dồn điền đổi thửa giảm xuống còn 3,2. Xã Vạn Thái là 8.7 thửa/hộ. thửa/hộ sau dồn

điền đổi thửa giảm xuống còn 2,8.

Huỳnh Văn Chương (2013) nghiên cứu thực tiễn công tác dồn điền đổi thửa

tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả chính sách dồn điền đổi thửa

trong gần 10 năm qua đã làm giảm đáng kể số thửa đất canh tác bình qn của hộ,

28



trung bình chỉ còn 2,26 thửa/ hộ, diện tích của mỗi thửa đất cũng được tăng 747,51

m2 so với trước. Đến năm 2011 huyện đã cấp được GCNQSDĐ cho 8.970 hộ, số

GCNQSDĐ đã cấp là 20.855 giấy; Diện tích đất các loại đất ln biến động trong

những năm qua. Tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến việc phát triển nông

nghiệp và nông thôn tại các xã của huyện là khá rõ, hiệu quả sử dụng đất tăng tác

động tích cực đến kinh tế hộ nơng nghiệp và góp phần phát triển nơng nghiệp và

nơng thơn mới thông qua quy hoạch sản xuất, xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ

lợi. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện các cơng trình giao thơng, thủy lợi, cấp lại

GCNQSDĐ, mức độ cơ giới hóa vẫn còn chậm.

Trần Việt Dũng (2014) nhờ có định hướng đúng, các địa phương đã chủ động

trong việc dồn điền, đổi thửa, quy hoạch lại hệ thống thủy lợi nội đồng nhằm mục

tiêu cơ giới hóa nông nghiệp. Thực tế chuyển đổi ở nhiều nơi cho thấy, do chưa có

chính sách chung, nhất qn nên tình trạng chuyển đổi còn chưa thực hiện được

triệt để. Do vậy, nhiều nơi vẫn chưa phát huy được hiệu quả sản xuất nhằm nâng

cao năng suất đất và nước. Hệ thống thủy lợi nội đồng ở nước ta vẫn còn manh

mún, xuống cấp, nhiều nơi còn thiếu, chưa được quan tâm đầu tư, nâng cấp gây lãng

phí nước, tưới tiêu không chủ động, hiệu quả sử dụng nước thấp. Để có thể thực

hiện chuyển đổi và áp dụng phương pháp canh tác tốt, canh tác tiên tiến với việc

đưa mực nước thấp vào ruộng và có thời gian để lộ ruộng thì cần phải quy hoạch

thành những vùng chuyên canh, dồn điền, đổi thửa, quy hoạch vùng và đặc biệt quy

hoạch hệ thống thủy lợi nội đồng hoàn chỉnh. Quy hoạch hệ thống thủy lợi nội đồng

cần được thực hiện song song với dồn điền đổi thửa. Theo đó kết cấu đồng ruộng

bao gồm các thửa ruộng có diện tích 0,3-1,0 ha có nguồn tưới tiêu chủ động và hệ

thống đường nội đồng đảm bảo cơ giới hoá các khâu trong sản xuất; cơng trình mặt

ruộng phải tạo điều kiện chủ động trong tưới tiêu và thuận lợi trong canh tác. Tức là

chủ ruộng thực hiện việc canh tác trên thửa ruộng của họ mà không làm cản trở việc

canh tác trên các thửa ruộng liền kề.

Huỳnh Văn Chương (2013) kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự manh mún

đất đai của huyện với bình quân 3,91 thửa/hộ đã làm cản trở và làm tăng chi phí sản

xuất của hộ gia đình cũng như cả cộng đồng lên rất nhiều. Công tác dồn điền đổi

thửa đã giảm số thửa xuống còn 2,26 thửa/hộ và diện tích của mỗi thửa đất cũng

được tăng 747,51m2 so với trước là rất có ý nghĩa đem lại những hiệu quả thiết thực

và làm tăng lợi ích cho cả hộ gia đình và cộng đồng.

Trần Thanh Đức (2017) kết quả nghiên cứu cho thấy dồn điền đổi thửa đã làm

tăng đáng kể quy mô diện tích thửa từ 593 m 2 lên 1.102 m2 và giảm số thửa trên hộ từ

29



7,2 thửa xuống còn 4,1 thửa. Dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất giao thơng và

thủy lợi nội đồng; góp phần tăng diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây trồng

chính. Đa số người dân được phỏng vấn đều đồng ý với chính sách dồn điền đổi thửa

và cho rằng sau dồn điền đổi thửa, giao thông, thủy lợi nội đồng và áp dụng cơ giới vào

sản xuất nông nghiệp thuận lợi hơn, giảm thời gian và công sức của người dân trong

quá trình sản xuất so với trước dồn điền đổi thửa.

Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) cho rằng việc thực hiện công tác dồn diền đổi

thửa đã một phần khắc phục được tình trạng manh mún đất nông nghiệp đang diễn ra

tại các địa phương trên cả nước, đem lại hiệu quả cho người sử dụng đất. Nam Định

là tỉnh có 3/9 huyện hồn thành cơng tác dồn điền đổi thửa, nhưng vẫn còn 6/9 huyện

đang gặp khó khăn ở một số bước trong quy trình dồn điền đổi thửa, do vậy nghiên

cứu kết quả công tác dồn điền đổi thửa của tỉnh nhằm đưa ra giải pháp hồn thiện

cơng tác dồn điền đổi thửa của tỉnh là có cơ sở thực tiễn cao. Kết quả điều tra cho

thấy sau dồn điền đổi thửa, số thửa/hộ giảm nhiều (số thửa bình qn trên tồn tỉnh là

2) và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng đất.

Mặc dù chương trình dồn điền đổi thửa đã diễn ra ở nhiều địa phương trong cả

nước. Tuy nhiên, đến nay vấn đề manh mún đất đai vẫn chưa được giải quyết triệt

để. Nhiều địa phương vẫn chưa tham gia dồn điền đổi thửa.

Ở huyện Việt Yên đã có một số đề tài nghiên cứu về manh mún đất đai và dồn

điền đổi thửa khoảng những năm 2010 khi đó huyện Việt n đang thực hiện

chương trình nơng thơn mới và dồn điền đổi thửa. Trong bối cảnh đó, chưa có nhiều

xã về đích chương trình dồn điền đổi thửa, như vậy việc đánh giá lợi ích kinh tế của

DĐĐT có thể chưa thực sự khách quan, hơn nữa mỗi một giai đoạn thực hiện lại

xảy ra những bất cập riêng cần được nghiên cứu rút kinh nghiệm. Đặc biệt, những

xã mà tác giả chọn nghiên cứu trong giai đoạn năm 2017 chưa có tác giả nào nghiên

cứu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu DĐĐT ở Việt Yên Trong giai đoạn hiện nay là

điều cần thiết.



30



CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Giang, có phạm vi

ranh giới như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Tân Yên.

+ Phía Nam giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ.

+ Phía Đơng giáp huyện Yên Dũng và thành phố Bắc Giang.

+ Phía Tây giáp huyện n Phong và huyện Hiệp Hồ.

Huyện có toạ độ địa lý:

+ 21011’29’’ đến 21020’26’’ vĩ độ Bắc.

+ 10600’08’’ đến 10609’57’’ kinh độ Đơng.

Việt n có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội:

là đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 37, Tỉnh lộ 298, nối

vùng đồng bằng tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và Bắc của

tỉnh và các tỉnh lân cận; có các tuyến giao thơng huyết mạch xun Việt như quốc lộ

1A, đường sắt Bắc Nam và giao thông đường thuỷ trên sông Cầu; Nằm tương đối

gần với thủ đô Hà Nội (cách 42km) và một số trung tâm kinh tế - văn hoá - du lịch

như thành phố Bắc Giang, thành phố Bắc Ninh,… . Với vị trí của mình Việt n có

điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát

triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và tồn tỉnh Bắc Giang nói chung.

2.1.1.2. Địa hình

Địa hình huyện Việt n có thể chia thành 3 dạng chính:

- Địa hình đồi núi thấp: dạng địa hình này được phân bố rải rác ở các xã: Việt

Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung ở phía Bắc và Trung Sơn, Tiên Sơn,

Ninh Sơn, Vân Trung ở phía Nam huyện. Đỉnh cao nhất là đỉnh Mỏ Thổ 161m.

Những đồi núi thấp này đa phần có độ dốc bình qn 15 0 (chỉ khoảng 20% diện tích

có độ dốc bình qn dưới 150).



31



- Địa hình gò thấp: dạng địa hình này được phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc

huyện và 3 xã Ninh Sơn, Trung Sơn, Tiên Sơn. Độ cao trung bình từ 15 - 25 m so

với mặt biển. Hầu hết diện tích này đều đã được đưa vào sử dụng làm đất ở.

- Dạng địa hình vùng đồng bằng có lượn sóng: dạng địa hình này tập trung ở

các xã phía Đơng đường Quốc lộ 1A (Quang Châu, Vân Trung, Hoàng Ninh,…) và

một số xã vùng giữa huyện (Hương Mai, Tự Lạn, Bích Sơn, Hồng Thái). Độ cao

bình quân so với mặt biển từ 2,5 - 5 m. Độ nghiêng của địa hình theo hướng Bắc

xuống Nam và Tây Tây Bắc sang Đơng Đơng Nam.

2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết

Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùa

nóng, ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô, lạnh (từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau). Những đặc điểm chung của khí hậu thời tiết như sau:

- Chế độ nhiệt: Các chỉ tiêu chủ yếu về chế độ nhiệt của huyện được tổng hợp

trong bảng 2.1.

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu chế độ nhiệt trong năm

Chỉ tiêu

Nhiệt độ bình quân

Trung bình tối cao

Trung bình tối thấp

Biên độ nhiệt ngày đêm



Đơn vị

tính

O

C

O

C

O

C

O

C



Cả

năm

23,4

26,9

20,5

6,4



Mùa nóng

(tháng 5-10)

24,5 - 27,3

28,7 - 31,1

21,0 - 24,3

6,8 - 7,3



Mùa lạnh

(tháng 11-4)

15,9 - 23,6

19,5 - 26,6

13,1 - 21,2

5,0 - 7,8



Từ bảng trên cho ta thấy chế độ nhiệt của vùng phân hoá theo mùa rõ rệt, trong

năm có 4 tháng nhiệt độ bình qn nhỏ hơn 20 OC. Đây là yếu tố rất thích hợp cho

việc bố trí cơ cấu cây trồng ngắn ngày tương đối đa dạng, đặc biệt đối với một số loại

rau thực phẩm ưa nền nhiệt thấp. Với nhiệt độ bình quân cả năm cao, nên tổng tích ơn

đạt trên 8.500OC cho phép phát triển nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm.

- Chế độ mưa và bốc hơi, độ ẩm khơng khí

Việt n có lượng mưa bình qn năm 1.581 mm nhưng phân bố khơng đều.

Lượng mưa trong mùa nóng (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm đến 85,4% tổng lượng

mưa cả năm. Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 và tháng 8. Trong hai tháng

này thường có những cơn mưa với cường độ lớn gây xói mòn rửa trơi đất và ảnh

hưởng lớn đến cây trồng nơng nghiệp. Ngồi ra một số xã có địa hình trũng thấp

thường hay bị úng ngập. Mùa khơ lượng mưa bình qn 22 mm/tháng.

Lượng bốc hơi bình quân của vùng là 1.012 mm/năm. Các tháng trong mùa

32



khô hanh (tháng 11, 12, 1, 2, 3) lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa từ 2,3 - 4,8 lần

gây khó khăn cho sản xuất nơng nghiệp trong vụ Đơng xn.

Độ ẩm bình qn cả năm 81%. Thời kỳ độ ẩm thấp tập trung vào mùa khô

hanh nhưng khơng thấp hơn chỉ số trung bình là mấy (3-4%).

- Gió bão

Hướng gió chủ đạo của vùng là Đơng Bắc. Tốc độ gió trung bình trong năm là

1,9 m/s, tháng có tốc độ gió cao nhất trung bình là tháng 8 (2,7 m/s). Mỗi năm

thường có 2-3 cơn bão đổ vào kéo theo mưa lớn từ 200 - 300 mm gây ngập úng,

thiệt hại cho vụ mùa.

Từ những số liệu khí hậu thời tiết nêu trên cho ta thấy vùng có tổng tích ơn

khá lớn, độ ẩm trung bình các tháng đều trên 76% cho phép gieo trồng nhiều vụ cây

hàng năm trong năm.

Nền nhiệt và lượng mưa phân hố theo mùa thích hợp để phát triển một cơ cấu

cây trồng đa dạng. Bên cạnh đó có những hạn chế thời tiết như hạn hán (tháng 12

và tháng 1) và mưa bão (tháng 7, tháng 8) gây ngập úng cho hơn 2.000 ha đất

trũng.

2.1.1.4. Thuỷ văn, nguồn nước

- Nguồn nước mặt

Sông Cầu chảy qua địa phận Việt Yên bao bọc phía Nam huyện. Với chiều dài

khoảng 22 km, bề rộng trung bình 150 - 200 m. Lưu lượng mùa lũ Q L từ 1.400 1.600 m3/s. Đây là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của dân

cư các xã phía Nam huyện và là ranh giới hành chính giữa Việt Yên với huyện Yên

Phong, Quế Võ và thành phố Bắc Ninh. Sông Cầu cho phép các loại xà lan, canô

loại vừa và nhỏ tới các xã Tiên Sơn, Vân Hà, Ninh Sơn, Quang Châu và Vân Trung.

Ngòi Cầu Sim nằm ở phía Bắc huyện, chảy qua các xã Thượng Lan, Việt Tiến,

Minh Đức, Tự Lạn, Bích Sơn, Hồng Thái, Nghĩa Trung,… đổ ra sơng Thương. Chiều dài

chảy qua địa phận huyện khoảng 19 km, độ dốc lớn, sinh thuỷ chủ yếu về mùa mưa.

Ngoài sơng Cầu và ngòi Cầu Sim trên địa bàn huyện còn có những vùng trũng

cục bộ nhỏ, ngắn, dốc chỉ có nước trong mùa mưa và trên 450 ha mặt nước ao hồ.

- Nguồn nước ngầm

Chưa có tài liệu nào điều tra về trữ lượng nguồn nước ngầm ở Việt Yên.

Nhưng qua thực tế các giếng khoan ở độ sâu 35 - 50 m cho thấy lưu lượng khoảng

60 - 70 l/s. Chất lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất.



33



2.1.1.5. Các nguồn tài nguyên

a. Tài nguyên đất

Việt n có tổng diện tích tự nhiên 171,4 km². Theo kết quả điều tra thổ

nhưỡng năm 1997 cho thấy đặc điểm thổ nhưỡng của Việt Yên như sau:

Căn cứ nguồn gốc phát sinh huyện Việt Yên có 2 nhóm đất chính:

+ Nhóm phát sinh tại chỗ do q trình phong hố hình thành đất.

+ Nhóm bồi tích trong q trình bồi tụ của phù sa hình thành.

(1)- Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 1997 của Viện Quy hoạch và Thiết

kế nơng nghiệp, tồn huyện có 4 nhóm đất: phù sa, xám bạc màu, đỏ vàng, xói mòn

trơ sỏi đá với diện tích 15.820,74 ha và phân thành 9 loại đất chính, quy mơ và cơ

cấu các loại đất được tổng hợp ở bảng 2.2:

Bảng 2.2. Diện tích các loại đất

Loại đất



Ký hiệu



1. Đất phù sa được bồi hàng năm

2. Đất phù sa không được bồi (PSKĐB)

3. Đất PSKĐB có tầng đất loang lổ

4. Đất phù sa úng nước

5. Đất xám, bạc màu

6. Đất vàng nhạt trên đá cát

7. Đất nâu vàng trên phù sa cổ

8. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa

9. Đất xói mòn trơ sỏi đá

Tổng cổng



Pb

P

Pf

Pj

B

Fq

Fp

Fl

E



Diện tích

(ha)

210,0

473,5

798,0

4.355

7.930,3

769,66

219,0

33,0

1.032,28

15.820,74



Cơ cấu

(%)

1,33

2,99

5,04

27,53

50,13

4,86

1,38

0,21

6,52

100,00



Một số loại đất chính sau:

- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P), chiếm diện tích nhỏ, đất có thành

phần cơ giới trung bình đến thịt nhẹ, tỷ lệ sét cao, chặt bí. Qua số liệu phân tích

tầng mặt cho thấy hàm lượng mùn từ 1,28 - 2,28%, đậm tổng số từ 0,07 - 0,22%,

lân 0,04 - 0,08%. Đất có phản ứng trung tính (pH KCL=6 - 6,3). Loại đất này thích

hợp cho trồng màu và cây công nghiệp hàng năm.

- Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ (Pf): Đây là loại đất có tuổi già nhất

trong nhóm đất phù sa. Phẫu diện đất đã phát triển đủ mạnh để hình thành rõ tầng tích

tụ B, thành phần cơ giới là thịt trung bình, hàm lượng mùn trung bình 1,8 - 2,6%, đạm

tổng số trung bình 0,16 - 2%, lân tổng số nghèo 0,06 - 0,09%, kali tổng số và dễ tiêu

nghèo 0,04 - 0,05% và 9 - 11mg/100g đất. Đất có phản ứng chua đến ít chua,

34



pHKCL=4,5 - 5,5. Loại đất này thích hợp để chuyên trồng lúa nước, ở những diện tích

đất chân vàm cao thích hợp với trồng màu.

- Đất bạc màu trên phù sa cổ (B): Đất được hình thành trên mẫu chất phù sa

cổ ở địa hình cao, thốt nước. Đất có phản ứng chua (pH KCL= 4,5 - 5), lân tổng số

và lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo, kali tổng số khá, thành phần cơ giới cát pha thịt

nhẹ. Loại đất này hầu hết nằm trên chân vàn. Tuy nghèo lân, mùn, đạm song khá

giàu Kali, tơi, xốp, thốt nước tốt thích hợp với các loại cây có củ như khoai lang,

khoai tây, lạc…

Nhìn chung, đất đai của xã có độ phì cao, thích hợp với nhiều loại cây

trồng như cây lương thực, cây rau màu và cây lâu năm, cây ăn quả và có thể

ứng dụng nhiều mơ hình nơng nghiệp đạt hiệu quả kinh tế cao.

b. Tài nguyên rừng

Theo số liệu thống kê, Việt n khơng có rừng tự nhiên. Hiện nay tồn huyện

có 814,04 ha rừng trồng.

c. Tài ngun khống sản và vật liệu xây dựng

Trên địa bàn huyện đến nay chưa phát hiện các mỏ khoáng sản kim loại nào.

Nguồn vật liệu xây dựng như đất sét để làm gạch ngói (trữ lượng khoảng gần

100 triệu tấn) và cát, sỏi nhưng trữ lượng không lớn.

d. Tài nguyên nhân văn

Việt Yên là huyện có truyền thống văn hố phát triển lâu đời. Đây là quê hương

của rượu Làng Vân nổi tiếng, có làng quan họ và nhiều di tích lịch sử văn hố như: di

tích n Viên (Vân Hà), chùa Bồ Đà (Tiên Sơn), chùa Thổ Hà (Vân Hà), Đình Đơng

(Bích Động),… Tổng số có 35 di tích lịch sử văn hố, trong đó 32 di tích được xếp

hạng (16 cấp quốc gia và 16 cấp tỉnh) cần được tôn tạo và bảo vệ. Huyện có lễ hội

truyền thống là lễ hội chùa Bổ từ ngày 15 tháng 2 âm lịch.

Với truyền thống văn hiến, truyền thống cách mạng, cần cù sáng tạo, ý chí tự

lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, những

thành quả đạt được, Việt Yên có điều kiện để phát triển mạnh kinh tế - xã hội trong

giai đoạn tới.

2.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế

35



Mức tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt khá; tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn

ước đạt 5.351 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 13,4%. Giá trị sản xuất

công nghiệp - xây dựng ước đạt 2.334 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất

đạt 17,9%, trong đó tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 15,2%; giá

trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 1.496 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng

đạt 5,5%; giá trị sản xuất ngành dịch vụ ước đạt 1.521 tỷ, tốc độ tăng trưởng giá trị

sản xuất đạt 15%. Tổng

2.1.2.2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và KHCN

Thu hút đầu tư trên địa bàn (ngoài KCN) giảm so với cùng kỳ 2015, Ước trong

năm, tồn huyện có 9 dự án được chấp thuận đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu tư 406,4

tỷ đồng; nâng tổng số dự án trên địa bàn lên 113 dự án; số doanh nghiệp đăng ký thành

lập mới 65 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 1.609 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp

trên địa bàn lên 790 doanh nghiệp. Cấp mới giấy chứng nhận kinh doanh: mới 692 hộ

cá thể; cấp lại 154 trường hợp; đã hồn thành việc chuyển đổi mơ hình HTX theo Luật

HTX 2012 và thành lập mới 10 HTX; chấm dứt hoạt động 21 hộ kinh doanh cá thể và

01 HTX, rà soát lập hồ sơ để quyết định giải thể bắt buộc 54 HTX (trong đó: 37 HTX

nơng nghiệp; 17 HTX phi NN). Tồn huyện có trên 6.000 hộ sản xuất tiểu thủ công

nghiệp, thương mại, dịch vụ tạo việc làm cho gần 14.000 lao động; Tính đến ngày

31/10/2016, các doanh nghiệp (do tỉnh và do huyện quản lý thu thuế) đã nộp NSNN

trên 100,9 tỷ đồng, đạt 93,2% dự toán; các hộ kinh doanh nộp NSNN 6,922 tỷ đồng,

đạt 100,3% dự toán, tăng 77% so với cùng kỳ năm 2015; điều này góp phần quan trọng

vào việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

2.1.2.3. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

Trồng trọt:

UBND huyện đã chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất theo hướng sản xuất nơng nghiệp

hàng hố, tiếp tục đổi mới cơ cấu giống và mùa vụ, tăng cường đầu tư thâm canh,

ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống cây, con có năng suất cao, chất lượng tốt

vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế. Tổng diện tích gieo cấy các loại

17.330ha/17.102ha, đạt 101,3% kế hoạch; trong đó cây lúa: 12.986,3ha/12.850ha, đạt

101,06% kế hoạch; cây ngô: 282,6 ha/250 ha KH, đạt 113,04 % kế hoạch; cây lạc

835,2 ha/835 ha, đạt 100,02 % so với kế hoạch; Cây Khoai lang: 758 ha /711 ha KH,

đạt 106,6 % kế hoạch; Rau đậu các loại: 2.191,3 ha/2.000 ha KH, đạt 109,5 % kế



36



hoạch; cây trồng khác (bao gồm cây dược liệu, hoa cây cảnh, sắn ...): 331 ha/456ha,

đạt 72,58%; tổng sản lượng lương thực có hạt 78.882 tấn.

Năng suất lúa đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha với cùng kỳ 2015, sản lượng ước đạt

75,912 tấn, tổng giá trị sản xuất trên 1ha đất ước 96,2 triệu đồng, đạt 100,2% so với

kế hoạch, tăng 11,2 triệu/ha so với cùng kỳ 2015.

Chăn ni:

Tình hình chăn ni trên địa bàn phát triển ổn định, Cơng tác phòng chống

dịch bệnh được chú trọng, không để dịch bệnh lớn xảy ra. Giá cả vật tư, sản phẩm

chăn nuôi tương đối ổn định, người chăn ni có lãi. Trong năm, tiêm phòng 1.770

liều vacxin dại cho đàn chó, mèo; 94.630 liều vacxin cúm gia cầm, 13.850 liều Tụ

huyết trùng lợn, 17.800 liều dịch tả lợn, 14.520 liều phó thương hàn lợn, 390 liều

E.coly, 390 liều Tai xanh, 177 liều LMLM và 300 liều THT Trâu bò. Thường xun,

kiểm sốt giết mổ trâu, bò tại thơn Phúc Lâm; Ước đến 31/12/2016, tổng đàn lợn toàn

huyện là 140.800 con, đạt 110,87% kế hoạch, tổng đàn trâu là 1.696 con, đạt 99,76%

kế hoạch; đàn bò 16.893con, đạt 99,4% kế hoạch; tổng đàn gia cầm là 877.000 con, đạt

109,6% kế hoạch. Sản lượng thịt hơi các loại 21.590 con, giảm so với cùng kỳ 2015.

Lâm nghiệp: Tổ chức trồng cây xuân Bính Thân 2016 đồng thời chỉ đạo các

địa phương chăm sóc tốt diện tích rừng, cây phân tán đã trồng, kết quả đã trồng

được khoảng 70.000 cây đạt 111,11% kế hoạch. Tổ chức kiểm kê diện tích rừng

năm 2016, tăng cường chỉ đạo kiểm tra, triển khai kế hoạch phòng chống cháy rừng:

mua sắm dụng cụ, làm đường băng cản lửa đối với các xã có rừng; tuy nhiên trong

năm vẫn xảy ra 02 vụ cháy rừng tại xã Vân Trung, Hương Mai trong đó thiệt hại về

cây rừng khoảng 1ha.

Thủy lợi: Chuẩn bị các điều kiện để ứng phó với mùa mưa bão 2016: kiểm tra,

đánh giá chất lượng, phân loại đê, kè, cống sung yếu để kịp thời sửa chữa, nâng cấp

phục vụ công tác PCTT năm 2016; tổng kết công tác PCTT năm 2015 triển khai kế

hoạch công tác PCTT năm 2016; kiện tồn BCH- PCTT huyện, phân cơng nhiệm vụ,

địa bàn phụ trách cho các thành viên; phối hợp với Lữ đoàn Tăng thiết giáp 409 Quân khu 1 thống nhất phương án ứng cứu hộ đê, tìm kiếm cứu nạn, di dời dân,

khắc phục hậu quả sau lũ, lụt, bão; chuẩn bị, huy động và sử dụng lực lương,

phương tiện, vật tư, trang thiết bị, các điều kiện khác theo phương trâm 4 tại chỗ.

Thành lập Ban chỉ đạo xử lí vi phạm pháp luật về đê điều và Phòng chống thiên tai



37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phải có sự tập trung, vào cuộc quyết liệt, thống nhất cao, phân công trách nhiệm rõ ràng của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị, từ tỉnh đến cơ sở trong tổ chức thực hiện. Vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền rất quan trọn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×