Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về Chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh ủy bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng; xác định dồn điền, đổi thửa, tổ chức mô

Thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về Chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh ủy bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng; xác định dồn điền, đổi thửa, tổ chức mô

Tải bản đầy đủ - 0trang

nơng nghiệp và cuối cùng là chính sách hỗ trợ kinh tế như chính sách vay vốn,

chính sách đảm bảo đầu ra cho sản phẩm…

Hoàng Thị Thu Huyền (2016) trong luận án “tích tụ ruộng đất trong nơng

nghiệp ở vùng Tây Nam bộ” cho rằng tích tụ ruộng đất có tác động đến đời sống

kinh tế xã hội nông thôn Tây Nam Bộ ở nhiều khía cạnh. Bên cạnh việc góp phần

nâng cao sản lượng, năng suất cây trồng, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa và

chun mơn hóa sản xuất của cả vùng, tích tụ ruộng đất còn cải thiện thu nhập, đời

sống, thậm chí làm giàu cho hộ gia đình có tích tụ. Tuy nhiên, tích tụ ruộng đất cũng

là một trong các yếu tố góp phần tạo ra chênh lệch giàu nghèo từ việc chênh lệch

ruộng đất. Hơn thế nữa, tích tụ ruộng đất cũng là một trong những nguyên nhân của

hiện tượng nông dân không đất sản xuất, làm mất đi sinh kế truyền thống, tạo ra tâm

lý tiêu cực trong một bộ phận người dân nơng thơn. Mặc dù vậy, tích tụ ruộng đất

đã và đang được sự ủng hộ của người dân và vẫn là phương cách phù hợp cho sự

phát triển kinh tế nông nghiệp ở vùng Tây Nam Bộ.

ThS. Phạm Thanh Quế (2011) khi nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình tích tụ và

tập trung đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyên Phú XuyênThành phố Hà Nội. Tác giả nhận thấy kết quả công tác chuyển đổi ruộng đất huyện

Phú Xuyên đã làm tăng đáng kể quy mơ diện tích thửa và giảm số thửa/hộ. Diện tích

bình qn/thửa tăng từ 4 lần đến 5 lần. Số thửa đất bình quân/hộ giảm từ 4 lần đến 5

lần. Số thửa bình quân trên hộ trước chuyển đổi là 6,44 thửa/hộ thì sau chuyển đổi bình

quân chỉ còn 2,21 thửa/hộ. Giá trị ngày cơng lao động sau chuyển đổi cũng cao hơn

nhiều so với trước. Trước chuyển đổi GTGT/cơng/ha thấp nhất đạt 27 nghìn

đồng/cơng, cao nhất đạt 147 nghìn đồng/cơng thì sau chuyển đổi GTGT/cơng/ha thấp

nhất cũng đã đạt 47 nghìn đồng/cơng và cao nhất đã đạt đến 950 nghìn đồng/cơng.

Năm 2014 tác giả nghiên cứu điền đổi thửa tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cho

thấy sau dồn điền đổi thửa số thửa/hộ giảm từ 4,5 thửa/hộ xuống 1,4 thửa/hộ, diện

tích/thửa tăng từ 463m2 lên 1.650m2.

Chu Mạnh Tuấn (2007) nghiên cứu dồn điền đổi thửa tại Hà Tây cho thấy thực

trạng manh mún đất đai trước dồn điền đổi thửa xã Liên Bạt là 11,2 thửa/hộ, sau

dồn điền đổi thửa giảm xuống còn 3,2. Xã Vạn Thái là 8.7 thửa/hộ. thửa/hộ sau dồn

điền đổi thửa giảm xuống còn 2,8.

Huỳnh Văn Chương (2013) nghiên cứu thực tiễn công tác dồn điền đổi thửa

tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả chính sách dồn điền đổi thửa

trong gần 10 năm qua đã làm giảm đáng kể số thửa đất canh tác bình quân của hộ,

28



trung bình chỉ còn 2,26 thửa/ hộ, diện tích của mỗi thửa đất cũng được tăng 747,51

m2 so với trước. Đến năm 2011 huyện đã cấp được GCNQSDĐ cho 8.970 hộ, số

GCNQSDĐ đã cấp là 20.855 giấy; Diện tích đất các loại đất luôn biến động trong

những năm qua. Tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến việc phát triển nông

nghiệp và nông thôn tại các xã của huyện là khá rõ, hiệu quả sử dụng đất tăng tác

động tích cực đến kinh tế hộ nơng nghiệp và góp phần phát triển nông nghiệp và

nông thôn mới thông qua quy hoạch sản xuất, xây dựng hệ thống giao thông, thuỷ

lợi. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện các cơng trình giao thông, thủy lợi, cấp lại

GCNQSDĐ, mức độ cơ giới hóa vẫn còn chậm.

Trần Việt Dũng (2014) nhờ có định hướng đúng, các địa phương đã chủ động

trong việc dồn điền, đổi thửa, quy hoạch lại hệ thống thủy lợi nội đồng nhằm mục

tiêu cơ giới hóa nơng nghiệp. Thực tế chuyển đổi ở nhiều nơi cho thấy, do chưa có

chính sách chung, nhất qn nên tình trạng chuyển đổi còn chưa thực hiện được

triệt để. Do vậy, nhiều nơi vẫn chưa phát huy được hiệu quả sản xuất nhằm nâng

cao năng suất đất và nước. Hệ thống thủy lợi nội đồng ở nước ta vẫn còn manh

mún, xuống cấp, nhiều nơi còn thiếu, chưa được quan tâm đầu tư, nâng cấp gây lãng

phí nước, tưới tiêu khơng chủ động, hiệu quả sử dụng nước thấp. Để có thể thực

hiện chuyển đổi và áp dụng phương pháp canh tác tốt, canh tác tiên tiến với việc

đưa mực nước thấp vào ruộng và có thời gian để lộ ruộng thì cần phải quy hoạch

thành những vùng chuyên canh, dồn điền, đổi thửa, quy hoạch vùng và đặc biệt quy

hoạch hệ thống thủy lợi nội đồng hoàn chỉnh. Quy hoạch hệ thống thủy lợi nội đồng

cần được thực hiện song song với dồn điền đổi thửa. Theo đó kết cấu đồng ruộng

bao gồm các thửa ruộng có diện tích 0,3-1,0 ha có nguồn tưới tiêu chủ động và hệ

thống đường nội đồng đảm bảo cơ giới hoá các khâu trong sản xuất; cơng trình mặt

ruộng phải tạo điều kiện chủ động trong tưới tiêu và thuận lợi trong canh tác. Tức là

chủ ruộng thực hiện việc canh tác trên thửa ruộng của họ mà không làm cản trở việc

canh tác trên các thửa ruộng liền kề.

Huỳnh Văn Chương (2013) kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự manh mún

đất đai của huyện với bình quân 3,91 thửa/hộ đã làm cản trở và làm tăng chi phí sản

xuất của hộ gia đình cũng như cả cộng đồng lên rất nhiều. Công tác dồn điền đổi

thửa đã giảm số thửa xuống còn 2,26 thửa/hộ và diện tích của mỗi thửa đất cũng

được tăng 747,51m2 so với trước là rất có ý nghĩa đem lại những hiệu quả thiết thực

và làm tăng lợi ích cho cả hộ gia đình và cộng đồng.

Trần Thanh Đức (2017) kết quả nghiên cứu cho thấy dồn điền đổi thửa đã làm

tăng đáng kể quy mơ diện tích thửa từ 593 m 2 lên 1.102 m2 và giảm số thửa trên hộ từ

29



7,2 thửa xuống còn 4,1 thửa. Dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất giao thơng và

thủy lợi nội đồng; góp phần tăng diện tích, năng suất và sản lượng của một số cây trồng

chính. Đa số người dân được phỏng vấn đều đồng ý với chính sách dồn điền đổi thửa

và cho rằng sau dồn điền đổi thửa, giao thông, thủy lợi nội đồng và áp dụng cơ giới vào

sản xuất nông nghiệp thuận lợi hơn, giảm thời gian và công sức của người dân trong

quá trình sản xuất so với trước dồn điền đổi thửa.

Nguyễn Thị Thu Thảo (2015) cho rằng việc thực hiện công tác dồn diền đổi

thửa đã một phần khắc phục được tình trạng manh mún đất nơng nghiệp đang diễn ra

tại các địa phương trên cả nước, đem lại hiệu quả cho người sử dụng đất. Nam Định

là tỉnh có 3/9 huyện hồn thành cơng tác dồn điền đổi thửa, nhưng vẫn còn 6/9 huyện

đang gặp khó khăn ở một số bước trong quy trình dồn điền đổi thửa, do vậy nghiên

cứu kết quả công tác dồn điền đổi thửa của tỉnh nhằm đưa ra giải pháp hồn thiện

cơng tác dồn điền đổi thửa của tỉnh là có cơ sở thực tiễn cao. Kết quả điều tra cho

thấy sau dồn điền đổi thửa, số thửa/hộ giảm nhiều (số thửa bình qn trên tồn tỉnh là

2) và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng đất.

Mặc dù chương trình dồn điền đổi thửa đã diễn ra ở nhiều địa phương trong cả

nước. Tuy nhiên, đến nay vấn đề manh mún đất đai vẫn chưa được giải quyết triệt

để. Nhiều địa phương vẫn chưa tham gia dồn điền đổi thửa.

Ở huyện Việt Yên đã có một số đề tài nghiên cứu về manh mún đất đai và dồn

điền đổi thửa khoảng những năm 2010 khi đó huyện Việt n đang thực hiện

chương trình nơng thơn mới và dồn điền đổi thửa. Trong bối cảnh đó, chưa có nhiều

xã về đích chương trình dồn điền đổi thửa, như vậy việc đánh giá lợi ích kinh tế của

DĐĐT có thể chưa thực sự khách quan, hơn nữa mỗi một giai đoạn thực hiện lại

xảy ra những bất cập riêng cần được nghiên cứu rút kinh nghiệm. Đặc biệt, những

xã mà tác giả chọn nghiên cứu trong giai đoạn năm 2017 chưa có tác giả nào nghiên

cứu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu DĐĐT ở Việt Yên Trong giai đoạn hiện nay là

điều cần thiết.



30



CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía Tây Nam tỉnh Bắc Giang, có phạm vi

ranh giới như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Tân Yên.

+ Phía Nam giáp thành phố Bắc Ninh và huyện Quế Võ.

+ Phía Đơng giáp huyện n Dũng và thành phố Bắc Giang.

+ Phía Tây giáp huyện Yên Phong và huyện Hiệp Hồ.

Huyện có toạ độ địa lý:

+ 21011’29’’ đến 21020’26’’ vĩ độ Bắc.

+ 10600’08’’ đến 10609’57’’ kinh độ Đơng.

Việt n có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế - xã hội:

là đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 37, Tỉnh lộ 298, nối

vùng đồng bằng tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và Bắc của

tỉnh và các tỉnh lân cận; có các tuyến giao thông huyết mạch xuyên Việt như quốc lộ

1A, đường sắt Bắc Nam và giao thông đường thuỷ trên sông Cầu; Nằm tương đối

gần với thủ đô Hà Nội (cách 42km) và một số trung tâm kinh tế - văn hoá - du lịch

như thành phố Bắc Giang, thành phố Bắc Ninh,… . Với vị trí của mình Việt Yên có

điều kiện để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát

triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và tồn tỉnh Bắc Giang nói chung.

2.1.1.2. Địa hình

Địa hình huyện Việt n có thể chia thành 3 dạng chính:

- Địa hình đồi núi thấp: dạng địa hình này được phân bố rải rác ở các xã: Việt

Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung ở phía Bắc và Trung Sơn, Tiên Sơn,

Ninh Sơn, Vân Trung ở phía Nam huyện. Đỉnh cao nhất là đỉnh Mỏ Thổ 161m.

Những đồi núi thấp này đa phần có độ dốc bình qn 15 0 (chỉ khoảng 20% diện tích

có độ dốc bình qn dưới 150).



31



- Địa hình gò thấp: dạng địa hình này được phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc

huyện và 3 xã Ninh Sơn, Trung Sơn, Tiên Sơn. Độ cao trung bình từ 15 - 25 m so

với mặt biển. Hầu hết diện tích này đều đã được đưa vào sử dụng làm đất ở.

- Dạng địa hình vùng đồng bằng có lượn sóng: dạng địa hình này tập trung ở

các xã phía Đơng đường Quốc lộ 1A (Quang Châu, Vân Trung, Hoàng Ninh,…) và

một số xã vùng giữa huyện (Hương Mai, Tự Lạn, Bích Sơn, Hồng Thái). Độ cao

bình qn so với mặt biển từ 2,5 - 5 m. Độ nghiêng của địa hình theo hướng Bắc

xuống Nam và Tây Tây Bắc sang Đơng Đơng Nam.

2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết

Việt n nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùa

nóng, ẩm, mưa nhiều (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô, lạnh (từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau). Những đặc điểm chung của khí hậu thời tiết như sau:

- Chế độ nhiệt: Các chỉ tiêu chủ yếu về chế độ nhiệt của huyện được tổng hợp

trong bảng 2.1.

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu chế độ nhiệt trong năm

Chỉ tiêu

Nhiệt độ bình quân

Trung bình tối cao

Trung bình tối thấp

Biên độ nhiệt ngày đêm



Đơn vị

tính

O

C

O

C

O

C

O

C



Cả

năm

23,4

26,9

20,5

6,4



Mùa nóng

(tháng 5-10)

24,5 - 27,3

28,7 - 31,1

21,0 - 24,3

6,8 - 7,3



Mùa lạnh

(tháng 11-4)

15,9 - 23,6

19,5 - 26,6

13,1 - 21,2

5,0 - 7,8



Từ bảng trên cho ta thấy chế độ nhiệt của vùng phân hố theo mùa rõ rệt, trong

năm có 4 tháng nhiệt độ bình quân nhỏ hơn 20 OC. Đây là yếu tố rất thích hợp cho

việc bố trí cơ cấu cây trồng ngắn ngày tương đối đa dạng, đặc biệt đối với một số loại

rau thực phẩm ưa nền nhiệt thấp. Với nhiệt độ bình quân cả năm cao, nên tổng tích ơn

đạt trên 8.500OC cho phép phát triển nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm.

- Chế độ mưa và bốc hơi, độ ẩm khơng khí

Việt n có lượng mưa bình qn năm 1.581 mm nhưng phân bố khơng đều.

Lượng mưa trong mùa nóng (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm đến 85,4% tổng lượng

mưa cả năm. Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7 và tháng 8. Trong hai tháng

này thường có những cơn mưa với cường độ lớn gây xói mòn rửa trơi đất và ảnh

hưởng lớn đến cây trồng nơng nghiệp. Ngồi ra một số xã có địa hình trũng thấp

thường hay bị úng ngập. Mùa khơ lượng mưa bình qn 22 mm/tháng.

Lượng bốc hơi bình quân của vùng là 1.012 mm/năm. Các tháng trong mùa

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân về Chỉ thị của Ban thường vụ Tỉnh ủy bằng nhiều hình thức phù hợp với từng đối tượng; xác định dồn điền, đổi thửa, tổ chức mô

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×