Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.1.1.



Khái niệm về vốn kinh doanh



Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm

về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau

về vốn.

Theo quan điểm của Mác, dưới góc độ các yếu tố sản suất, Mác cho rằng "Vốn

(tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản suất". Định

nghĩa của Mác về vốn có tầm khái qt lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò

của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức

khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công...

David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn

là :Vốn hiện vật và vốn tài chính cùa doanh nghiệp . "Vốn hiện vật là dự trữ các

hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hố khác". "Vốn tài chính là các giấy

tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp". Như vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài

sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.

Theo giáo trình kinh tế doanh nghiệp thương mại của Trường đại học Thương

Mại do PGS. TS phạm Cơng Đồn và TS. Nguyễn Cảnh Lịch đồng chủ biên: “ Vốn

là biểu hiện bằng tiền các tài sản của doanh nghiệp”

Theo giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại của Trường đại

học Thương Mại do PGS.TS Trần Thế Đông làm chủ biên: “ Nguồn vốn kinh doanh

lànguồn vốn được huy động để trang trải cho các khoản chi phí mua sắm tài sản sử

dụng trong hoạt động kinh doanh”.

Qua các khái niệm trên cho thấy, doanh nghiệp dù hoạt động trong bất cứ lĩnh

vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện các

khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập doanh nghiệp, chí phí mua sắm tài sản

cố định, nguyên vật liệu... Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật

chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số

tiền mà doanh nghiệp thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp được



các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi. Q trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

1.1.1.2.



Đặc điểm của vốn kinh doanh



Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có thể nhận thấy vai trò quyết định của

vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp.Việc quản lí và sử dụng vốn như thế nào có ý

nghĩa quan trọng và có thể ảnh hưởng tới sự sống còn của doanh nghiệp. Để huy

động, quản lý sử dụng VKD của mình một cách tiết kiệm, hiệu quả hơn trong quá

trình SXKD cần phải tìm hiểu các đặc trưng của vốn kinh doanh. Những đặc trưng

đó bao gồm:

Thứ nhất, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản thực nhất định. Nghĩa là

vốn được thể hiện bằng giá trị của các tài sản có thực trong doanh nghiệp( có thể là

hữu hình hoặc vơ hình). Cụ thể, được thể hiện bằng tài sản hữu hình trong doanh

nghiệp như: nhà xưởng, máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải…v…v..và

tài sản vơ hình như: chi phí mua bằng phát minh sáng chế, giá trị lợi thế về vị trí địa

điểm kinh doanh của doanh nghiệp…v…v.

Thứ hai, Vốn có giá trị về mặt thời gian. Do sự tác động của rủi ro, khả năng

sinh lời và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác như lạm phát, sự thay đổi của

giá cả, sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ… nên sức mua của đồng

tiền ở mỗi thời điểm khác nhau sẽ khác nhau. Một đồng vốn kinh doanh trong hiện

tại sẽ có giá trị kinh tế khác với một đồng vốn kinh doanh trong tương lai. Do đó,

nhận thức được đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp xác định các biện pháp để tận

dụng tối đa vốn trong thời điểm hiện tại, tránh lãng phí.

Thứ ba,vốn phải được vận động vì mục đích sinh lời. Tiền tệ chỉ được coi là

vốn khi chúng được đưa vào SXKD, chúng vận động và hình thái biểu hiện có thể

thay đổi, tuyi điểm xuất phát của vòng tuần hồn là hình thái tiền tệ và điểm cuối

cùng là hình thái tiền tệ với giá trị lớn hơn, tức là kinh doanh có lãi. Đây cũng là

mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp.

Thứ tư, vốn phải được gắn với chủ sở hữu để được quản lý chặt chẽ. Trong

nền kinh tế, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng do đó đồng vốn cần phải gắn với



liền với chủ sở hữu, khơng thể có đồng vốn vơ chủ, nhưng tùy nguồn vốn mà có thể

có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Việc vốn được gắn với chủ

sở hữu sẽ giúp nó được khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nhất tránh tình

trạng lãng phí thất thốt vốn trong sản xuất kinh doanh.

Thứ năm,vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể

phát huy được tác dụng. Do đó, để đầu tư vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp

không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn

vốn như kêu gọi góp vốn, phát hành cổ phiểu, liên doanh. Điều đó khơng những

giúp doanh nghiệp khuyếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu mà còn có thể giúp

doanh nghiệp phân tán được rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Thứ sáu, trong nền kinh tế thị trường, VKD không chỉ là điều kiện tiên quyết

đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn là một loại hàng hóa đặc biệt. Vốn được

đưa vào thị trường và được lưu thông từ những người thừa vốn đến những người

thiếu vốn. Người huy động vốn phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định

cho chủ sở hữu nguồn vốn. Như vậy, khác với hàng hóa thơng thường, vốn khi “bán

ra” sẽ không bị mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng, người mua được

quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.

1.1.1.3.



Phân loại vốn kinh doanh



Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình

thành từ nhiều nguồn khác nhau. Để tổ chức và lựa chọn hình thức huy động vốn

thích hợp cần thiết phải có sự phân loại vốn. Ta có thể phân loại vốn căn cứ vào các

cách thức sau:

Căn cứ vào nguồn hình thành vốn:

 Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp.

Số vốn này khơng phải là một khoản nợ, doanh nghiệp khơng phải cam

kết thanh tốn, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được

do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp đẽ được chia cho các cổ đơng

theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp,



vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau. Thơng

thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối.

 Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngồi vốn pháp định được hình thành từ

nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một

thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả

lãi và gốc. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều

kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp...) nhưng

không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Vốn vay có hai loại là

vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn.

Căn cứ thời gian huy động vốn:

 Vốn thường xun là nguồn vốn có tính chất ổn định và dái hạn mà

doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vao ftài sản cố định và một bộ

phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động

doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài

hạn của doanh nghiệp.

 Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà

doanh số có thể sử dụng để đap sứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất

thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản

chiếm dụng của bạn hàng.

Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn kinh doanh:

 Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận đầu tư ứng trước về tài

sản cố định và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển từng

phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng

tuần hồn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.

 Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động

và tài sản lưu thơng nhằm đảm bảo cho q trình tái sản xuất của doanh

1.1.1.4.



nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục.

Vai trò của vốn kinh doanh



Vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Nó là cơ sở, là

tiền đề cho một doanh nghiệp bắt đầu khởi sự kinh doanh. Muốn đăng ký kinh

doanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có đủ số

vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây khơng chỉ

gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của các chủ

doanh nghiệp). Rồi để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải th nhà

xưởng, mua máy móc thiết bị, cơng nghệ, ngun vật liệu, thuê lao động... tất cả

những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành và duy trì những hoạt

động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra.

Khơng chỉ có vậy, trong q trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,

vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu,

đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cao chất lượng sản

phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động... cũng như tổ chức bộ máy

quản lý đầy đủ các chức năng. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng

cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

1.1.2. Khái quát chung về hiệu quả sử dụng vốn

1.1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh

trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa

nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở

hữu.

Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thơng qua hệ thống các chỉ tiêu về hiệu

suất sử dụng vốn cố định, vốn lưu động, sức sinh lời của vốn, tốc độ luân chuyển

vốn … Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của q trình sản xuất kinh

doanh thơng qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu

được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được

càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Do đó, nâng

cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp phát triển vững

mạnh.



Hiệu quả sử dụng vốn được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh với số vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp trong

một kỳ nhất ñịnh. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

thường thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đầu ra và các yếu tố đầu vào để tạo ra kết

quả đó.



1.1.2.2.



Mục tiêu của phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh



Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nhằm nhận thức, đánh giá đúng

đắn, toàn diện khách quan tình hình sử dụng vốn trong doanh nghiệp, thấy được sự

ảnh hưởng của nó đến việc thực hiện các nhiệm vụ kết quả kinh doanh. Qua phân

tích, có thể đánh giá được tình hình tổ chức, huy động và phân bổ vốn kinh doanh

đã hợp lý chưa?

Đồng thời phân tích hiệu quả sử dụng vốn cũng nhằm mục đích tìm ra những

điểm còn tồn tại trong cơng tác tổ chức, sử dụng vốn, các nguyên nhân dẫn đến tồn

tại và đề ra giải pháp khắc phục.

1.1.2.3.



Ý nghĩa của phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh



Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn. Cụ thể:

Đối với chủ doanh nghiệp, giúp họ đánh bắt được tình hình huy động, phân phối,

quản lý và sử dụng vốn, khả năng sinh lời của vốn kinh doanh, khả năng rủi ro tài

chính và những giải pháp có thể phòng ngừa. Căn cứ vào số liệu, tài liệu phân tích

để làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra những quyết định hữu hiệu cho hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp.

Đối với các nhà đầu tư, những thơng tin phân tích hiệu quả sử dụng vốn, việc

phân tích hiệu quả sử dụng vốn giúp họ có các thơng tin về khả năng sản xuất của

doanh nghiệp, giá trị tăng thêm của vốn đầu tư, khả năng sản xuất và khả năng sinh

lời của vốn kinh doanh, để từ đó họ đưa ra các quyết định có nên đầu tư vào doanh

nghiệp hay khơng.



Đối với ngân hàng và các tổ chức cho vay vốn, việc phân tích hiệu quả sử

dụng vốn giúp họ có các thông tin về khả năng sản xuất và khả năng sinh lời của

vốn kinh doanh, để từ đó họ đưa ra các quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp

hay không.

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan thuế … các thơng tin phân

tích hiệu quả sử dụng vốn sẽ là những căn cứ khoa học, tin cậy cho việc soạn thảo

các chủ trương, chính sách quản lý kinh tế trên phương diện vĩ mô và vi mô.

Đối với các doanh nghiệp bán hàng cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp, giúp

họ có cơ sở đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp , tù đó

quyết định việc có nên hay khơng nên ký kết các hợp đồng kinh doanh đối với

doanh nghiệp.

Đối với người lao động giúp họ thấy được tình hình tăng trưởng vốn, khả

năng kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó thêm gắn bó với doanh nghiệp.

1.2. Nội dung về phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.2.1. Phân tích tình hình sử dụng vốn kinh doanh

1.2.1.1. Phân tích cơ cấu và sự biến động của vốn kinh doanh

Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản. Phân tích sự biến động của tổng vốn kinh doanh

cho ta thấy được quy mô và khả năng hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp.

Để thấy được kết quả trong việc quản lý và sử dụng vốn ta phải xem xét đến

các chỉ tiêu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ như tổng doanh thu bán

hàng và lợi nhuận kinh doanh.

Cơ cấu vốn kinh doanh phản ánh khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp.

Phương pháp phân tích cơ cấu vốn kinh doanh dựa trên cơ sở lập biểu so sánh giữa

hai năm của các khoản mục nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn

vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.1.2.



Phân tích cơ cấu và sự biến động vốn lưu động



Việc phân tích sự biến động vốn lưu động chính là phân tích các tài sản ngắn

hạn. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp thương mại, dịch vụ bao gồm tài sản



bằng tiền, đầu tư tài chính, cơng nợ phải thu, vật tư hàng hóa tồn kho và các tài sản

lưu động khác.

Phương pháp phân tích tình hình tài sản ngắn hạn được thực hiện trên cơ sở

so sánh, lập biểu so sánh giữa số cuối kỳ so với đầu năm để thấy được tình hình

tăng giảm và ngun nhân tăng giảm, tính tốn, so sánh tỷ trọng của các khoản mục

trên tổng số tài sản ngắn hạn để đánh giá tình hình phân bổ tài sản ngắn hạn. Để

phân tích nội dung này cần làm rõ một số chỉ tiêu sau:

Giá trị thực của

TSLĐ



=



Tổng giá trị TSLĐ



-



Tổng chi phí dự phòng giảm giá

TSLĐ



Tổng chi phí

dự



phòng



giảm



giá



=



Chi phí dự phòng

giảm giá ĐTNH



+



Chi phí dự phòng

phải thu khó đòi



TSLĐ



1.2.1.3.



Chi

+



phí



dự



phòng giảm giá

hàng tồn kho



Phân tích cơ cấu và biến động của vốn cố định



Phân tích tình hình biến động vốn cố định cũng chính là phân tích tài sản dài

hạn trong doanh nghiệp.

Phân tích tình hình tăng giảm và cơ cấu tài sản dài hạn được thực hiện bằng

phương pháp so sánh và lập biểu so sánh giữ số cuối kỳ với số đầu năm, so sánh tỷ

trọng của từng khoản mục trên tổng số tài sản dài hạn căn cứ vào các số liệu trên

bảng cân đối kế tốn.

Việc phân tích ngun nhân tăng giảm của tài sản cố định hữu hình căn cứ

theo cơng thức:

Ngun giá

TSCĐ cuối =

kỳ



Nguyên



giá



TSCĐ cuối kỳ



Nguyên

+



TSCĐ

trong kỳ



giá



Nguyên giá



tăng - TSCĐ giảm

trong kỳ



Đồng thời cũng cần so sánh giữa tổng nguyên giá của tài sản với giá trị hao

mòn lũy kế để xác định giá trị còn lại của tài sản, hệ số hao mòn của TSCĐ được

xác định theo cơng thức:



1.2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh

1.2.2.1. Phân tích hiệu quả sự dụng vốn kinh doanh

Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp phản ánh kết quả

tổng hợp quá trinh sử dụng toàn bộ vốn, tài sản. Các chỉ tiêu này phản ánh chất

lượng và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:

Chỉ tiêu thứ nhất: Hệ số Doanh thu trên vốn kinh doanh ( vòng quay tổng

vốn kinh doanh)



Đây là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ. Nó phản ánh bình

qn một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất, kinh doanh sẽ mang lại

bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất sử dụng vốn càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử

dụng vốn càng cao. nhìn vào chỉ tiêu trên ta thấy hiệu suất sử dụng vốn phụ thuộc

vào hai nhân tố: doanh thu thuần và tổng vốn bình qn. Như vậy, để có hiệu suất

sử dụng vốn cao thì một mặt doanh nghiệp phải tăng doanh thu thuần, mặt khác

doanh nghiệp phải tiết kiệm vốn. Doanh nghiệp nên giảm các khoản thu, tính tốn

lượng hàng tồn kho hợp lý, tăng cường các biện pháp tiêu thụ hàng hóa, liên tục cải

tiến khâu thanh tốn đảm bảo khả năng thu tiền từ khách hàng nhanh nhất, hiệu quả

nhất.

Chỉ tiêu thứu hai: Hệ số lợi nhuận vốn kinh doanh:



Chỉ tiêu này phản ánh bình quân một đồng vốn tham gia thu được bao nhiêu

đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lời của doanh

thu càng cao do đó việc sử dụng vốn càng có hiệu quả và ngược lại.

Chỉ tiêu thứ ba: Hệ số lợi nhuận/chủ sở hữu



Chỉ số này cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra khi bỏ ra một đồng

vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu càng

hiệu quả.

Chỉ tiêu thứ tư: Hệ số lợi nhuận vốn/cổ phần:



Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từ một cổ phần của các cổ đơng

tham gia góp vốn. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn góp càng hiệu

quả.

1.2.2.2.



Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động



Vốn lưu động là biểu hiệu giá trị bằng tiền của tài sản ngắn hạn sử dụng trong

kinh doanh. Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta sử dụng một số chỉ tiêu

sau:



Chỉ tiêu thứ nhất: Hệ số doanh thu trên VLĐ



Chỉ số thứ hai: Hệ số lợi nhuận trên VLĐ



Khi phân tích hai chỉ tiêu trên nếu hệ số doanh thu và lợi nhuận trên vốn lưu

động bình quân tăng thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng và ngược lại.

Chỉ tiêu thứ ba: Tốc độ chu chuyển VLĐ chung



Chỉ tiêu thứ tư: Số ngày chu chuyển của VLĐ



1.2.2.3.



Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định



Chỉ tiêu thứ nhất: Hệ số doanh thu/VCĐ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×