Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

mua. ( Trích giáo trình kế tốn hoạt động thương mại và dịch vụ - trường Đại học

Thương Mại)

Theo VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác”:

Bán hàng được định nghĩa là: bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán

hàng hóa mua vào.

 Khái niệm doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu.

Theo VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác”, doanh thu và các khoản giảm trừ

doanh thu được định nghĩa như sau:

- Doanh thu: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kì kế

tốn, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp

góp phần tăng vốn chủ sở hữu.

Trong chuẩn mực VAS 14 cũng nêu rõ: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ kinh tế phát

sinh doanh thu như doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách

hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngồi giá bán (nếu có).

Khi bán hàng, còn phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu, tức các khoản theo

quy định cuối kỳ được trừ khỏi doanh thu thực tế, bao gồm chiết khấu thương mại,

giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Theo VAS 14 định nghĩa như sau:

- Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

- Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm

chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

- Giá trị hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ

bị khách hàng trả lại và từ chối thanh tốn.

Ngồi các khoản giảm trừ doanh thu trên trên còn phát sinh trường hợp là chiết

khấu thanh toán, theo chuẩn mực số 14 định nghĩa là:

- Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do

người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.

 Khái niệm giá vốn hàng bán.

Ngồi việc ghi nhận doanh thu, kế tốn đồng thời ghi nhận giá vốn hàng bán:

Theo chuẩn mực VAS 02: là giá gốc của hàng xuất kho để bán, bao gồm “chi phí



mua, chế biến và các phần giá trị bị tổn thất của các khoản nợ phải thu quá hạn thanh

toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể khơng đòi được do khách nợ khơng có

khả năng thanh tốn (theo thơng tư số 228/2009/TT-BTC)chi phí liên quan trực tiếp

khác để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại” .

Ngoài ra khi bán hàng các khoản thu khó đòi và việc trích lập dự phòng nợ phải

thu khó đòi:

+ Phải thu khó đòi: là các khoản nợ mà người mắc nợ khó hoặc khơng có khả

năng trả nợ đúng kỳ hạn trong một năm kế hoạch (Giáo trình kế tốn tài chính -Học

viện tài chính)

Các khoản giảm trừ doanh thu:

Các khoản giảm trừ doanh thu theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu và thu

nhập khác bao gồm:

- Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho

khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.

- Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm

chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.

Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ

bị khách hàng trả lại và từ chối thanh tốn.

1.2 Đặc điểm hoạt động bán hàng

Bán hàng đóng vai trò quan trọng khơng chỉ đối với bản thân mỗi doanh nghiệp

mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế.

Đối với doanh nghiệp: Hoạt động bán hàng chính là điều kiện tiên quyết giúp

cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển, giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi

vốn kinh doanh đồng thời tạo ra lợi nhuận. Lúc này doanh nghiệp có điều kiện để thực

hiện phân phối lợi ích vật chất giữa doanh nghiệp với Nhà nước thông qua các khoản

thuế và lệ phí, doanh nghiệp với người lao động thơng qua tiền lương và các khoản ưu

đãi hoặc giữa doanh nghiệp với chủ doanh nghiệp thông qua lợi nhuận.

Đối với nền kinh tế quốc dân: Việc thực hiện tốt khâu bán hàng là điều kiện kết

hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thơng tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền

mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền, là điều kiện để ổn định và nâng cao cuộc

sống của người lao động nói riêng và tồn xã hội nói chung.



1.2.1. Các phương thức bán hàng

 Phương thức bán bn hàng hóa

Bán bn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị, các doanh nghiệp

sản xuất…để thực hiện bán ra hoặc gia công chế biến rồi bán ra.

Đặc điểm của hàng hóa bán bn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông,

chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Hàng hóa thường được bán với số lượng lớn, giá bán

biến động tùy thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh tốn. Trong bán

bn hàng hóa thường có hai phương thức là: Phương thức bán bn hàng hóa qua

kho, Phương thức bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng.

 Phương thức bán bn hàng hóa qua kho: là phương thức bán bn hàng hóa

mà trong đó hàng hóa được xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Trong phương

thức này có hai hình thức:

- Bán bn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Theo hình thức

này, khách hàng cử người mang giấy ủy nhiệm đến kho của doanh nghiệp trực tiếp

nhận hàng và áp tải hàng về. Sau khi giao nhận hàng hóa, đại diện bên mua ký nhận đã

đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán đồng thời trả tiền hoặc ký nhận nợ.

- Bán hàng qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh

tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng của người mua xuất kho gửi hàng cho người mua

bằng phương tiện vận tải của mình hoặc th ngồi. Chi phí vận chuyển gửi hàng bán

có thể do bên bán chịu hoặc có thể do bên mua chịu tùy theo hợp đồng kinh tế đã ký

kết. Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đến khi nào bên mua

nhận được hàng, chứng từ và đã chấp nhận thanh tốn thì quyền sở hữu hàng mới được

chuyển giao từ người bán sang người mua.

 Phương thức bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng: là phương thức bán bn

hàng hóa mà trong đó hàng hóa bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không đem về nhập

kho của doanh nghiệp mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng.

Phương thức này có thể thực hiện theo các hình thức:

- Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (Hình thức giao

tay ba): Doanh nghiệp bán buôn sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp của mình thì giao

bán trực tiếp cho khách hàng của mình tại địa điểm do hai bên thảo thuận. Sau khi giao

hàng hóa cho khách hàng thì đại diện bên mua sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và



quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao cho khách hàng, hàng hóa được xác định

là tiêu thụ.

- Bán bn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Doanh nghiệp sau khi

mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc th ngồi vận

chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thoả thuận. Hàng hoá chuyển

bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận tiền

của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận

thanh tốn thì hàng hoá chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.

 Phương thức bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các

tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.

Đặc điểm của hàng hóa bán lẻ là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thơng và đi

vào lĩnh vực tiêu dùng. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ, giá bán

thường ổn định. Phương thức bán lẻ hàng hóa thường có các hình thức sau:

 Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Là hình thức bán hàng tách rời nghiệp vụ

thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua. Mỗi quầy hàng có một

nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết các hoá đơn hoặc tích kê cho

khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Căn cứ vào

hố đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định

số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy

nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

 Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng

trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng

kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày và lập báo

bán hàng, đồng thời làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ.

 Hình thức bán hàng tự phục vụ: Ở hình thức này, khách hàng tự chọn những

hàng hóa mà mình cần, sau đó mang đến bộ phận thu tiền để thanh tốn tiền hàng.

Nhân viên thu tiền sẽ tiến hành thu tiền và lập hóa đơn bán hàng.

 Hình thức bán hàng trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua

hàng theo nhiều lần trong một thời gian nhất định và người mua phải trả cho doanh

nghiệp bán hàng một số tiền lớn hơn giá bán trả tiền ngay một lần.



 Phương thức bán hàng đại lý

Bán hàng đại lý là phương thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại

giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau

khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp và được hưởng

một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý.

Các phương thức thanh toán tiền hàng

Sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh tốn thì bên bán có thể

nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào sự tín nhiệm, thỏa

thuận giữa hai bên mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp.

1.2.2. Phương thức thanh toán

Phương thức thanh toán trực tiếp (thanh toán ngay)

- Phương thức thanh toán chậm trả

 Phương thức thanh toán trực tiếp (thanh toán ngay): Là phương thức thanh

toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay

sau khi quyền sở hữu của hàng hóa bị chuyển giao. Thanh tốn trực tiếp có thể bằng

tiền mặt, séc, ngân phiếu hoặc có thể bằng hàng hóa.

 Phương thức thanh tốn chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở

hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng so với thời điểm chuyển quyền sở

hữu về hàng hóa, do đó hình thành khoản cơng nợ phải thu khách hàng.



1.3 u cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán bán hàng trong doanh nghiệp



 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng

Trong quá trình bán hàng, tài sản của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hàng hóa

sang hình thái tiền tệ. Do đó để quản lý nghiệp vụ bán hàng, doanh nghiệp cần phải

quản lý cả hai nhómtiền và hàng. Cụ thể, quản lý nghiệp vụ bán hàng cần đáp ứng các

yêu cầu sau:

 Quản lý chặt chẽ doanh thu bán hàng hóa vì đây là cơ sở quan trọng để xác

định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước, đồng thời là cơ sở để xác định

chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quản lý doanh thu bao gồm các nội

dung sau:

- Quản lý doanh thu thực tế, doanh thu thực tế là doanh thu được tính theo giá

bán ghi trên hóa đơn hoặc trên hợp đồng bán hàng hóa.

- Quản lý các khoản giảm trừ doanh thu: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng

bán và hàng bán bị trả lại.

- Quản lý doanh thu thuần.

 Quản lý tình hình thu hồi tiền, tình hình cơng nợ và thanh tốn cơng nợ phải

thu người mua. Kế tốn cần theo dõi sát xao tình hình thu hồi cơng nợ để tránh tình

trạng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp.



 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng

Nhằm phát huy vai trò của kế tốn trong cơng tác quản lý hoạt động sản xuất

kinh doanh, kế toán bán hàng cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:

- Ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàng của doanh nghiệp

cả về số lượng, cả về trị giá theo từng mặt hàng, nhóm hàng.

- Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình cơng nợ và

thanh tốn cơng nợ phải thu ở người mua.

- Tính tốn chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chính xác kết

quả bán hàng.

- Cung cấp những thơng tin kế tốn cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ sở

đó có những biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho ban

giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp mình và kịp

thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường. Định kỳ tiến hành phân tích

kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu thập và phân phối kết quả của doanh nghiệp.



1.4 Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

1.4.1 Kế toán bán hàng theo quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam

 Quy định của Chuẩn mực chung – VAS 01

Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản

đối với kế tốn trong doanh nghiệp, trong đó có một số nguyên tắc tác động trực tiếp

đến kế toán bán hàng được quy định tại các đoạn 03, 05, 06, 07, 08, bao gồm:

Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến

tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn

vào thời điểm phát sinh, khơng căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền

hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài

chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Theo nguyên tắc này, khi

các điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng đều thỏa mãn, kế toán tiến hành ghi nhận

doanh thu khi phát sinh giao dịch, không phụ thuộc vào việc tại thời điểm đó, người

mua đã trả tiền (người bán đã thu được tiền) hay chưa.

Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản

được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính tốn theo giá trị

hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.

Nguyên tắc phù hợp: Doanh thu và chi phí phải được ghi nhận phù hợp với nhau.

Khi ghi nhận một khoản doanh thu, kế toán phải ghi nhận một khoản chi phí liên quan

đến việc tạo ra doanh thu đó. Nguyên tắc này yêu cầu khi tính chi phí được coi là chi

phí hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ phải dựa trên cơ sở chi phí nào tạo nên

doanh thu được hưởng trong kỳ, vì có những khoản thu phát sinh kỳ này nhưng chi phí

bỏ ra để có được doanh thu đó lại phát sinh từ kỳ trước. Hoặc có những chi phí phát

sinh kỳ này nhưng khơng được coi là chi phí hoạt động kỳ này, vì nó tạo ra doanh thu

ở kỳ sau.

Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải

được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi

chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của

sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. Cụ thể, trong doanh nghiệp,

phương pháp tính giá trị hàng xuất kho, phương pháp khấu hao cần nhất quán giữa các

kỳ để đảm bảo tính so sánh được của Báo cáo tài chính.



Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc phán đoán cần thiết

để lập các ước tính kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Ngun tắc thận

trọng đối với kế tốn bán hàng đòi hỏi: Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập

quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; doanh

thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được

lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát

sinh chi phí. Ngun tắc này giúp kế toán bán hàng xác định được thời điểm phát sinh

doanh thu và giá vốn hàng bán cũng như chi phí liên quan đến hàng bán.

Chuẩn mực kế toán VAS 02 “Hàng tồn kho”

Chuẩn mực kế toán VAS 02 “Hàng tồn kho” được ban hành theo QĐ số

149/2001/QĐ - BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

Mục đích của chuẩn mực số 02 là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc,

phương pháp kế toán hàng tồn kho gồm: Xác định giá trị và kế toán bán hàng tồn

kho vào chi phí, ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể

thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán

và lập báo cáo tài chính.

Giá gốc hàng hóa mua vào, bao gồm: Giá mua, chi phí thu mua (vận chuyển, bốc

xếp, bảo quản hàng từ nơi mua về kho doanh nghiệp, chi phí bảo hiểm.), thuế nhập

khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ mơi trường (nếu có), thuế GTGT hàng nhập

khẩu (nếu không được khấu trừ).

Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong

kì sản xuất, kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính để hồn thành sản phẩm và

chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.

Giá trị thực tế của hàng xuất bán trong kì được tính bằng một trong các phương

pháp sau:

Phương pháp tính theo giá đích danh: được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít

mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này thì giá trị của từng

loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự

đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung



bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc và

tình hình của doanh nghiệp.

Phương pháp nhập trước, xuất trước: áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho

được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối

kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp

này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lơ hàng nhập kho ở thời điểm đầu

kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở

thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

Cuối kì kế tốn phải phân bổ chi phí mua hàng cho hàng bán ra và cho hàng tồn

kho cuối kỳ.

Chuẩn mực kế toán VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác”

Chuẩn mực kế toán VAS 14 “Doanh thu và thu nhập khác” được ban hành theo

QĐ số 149/2001/QĐ - BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính.

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và

phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác, gồm: Các loại doanh thu, thời điểm

ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ

kế tốn và lập báo cáo tài chính.

Xác định doanh thu (theo đoạn 05, 06, 07, 08 của VAS 14): Doanh thu được xác

định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. Doanh thu phát sinh từ

giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử

dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ

thu được sau khi trừ, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán,

hàng bán bị trả lại. Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận

ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản

sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ

lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá

trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.

Theo đoạn 10, VAS 14, doanh thu bán hàng được ghi nhận đồng thời thỏa mãn cả

5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở

hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua.



- Doanh nghiệp khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu

hàng hóa hoặc người kiểm sốt hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Theo đoạn 10, VAS14 “Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là

doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao

dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố khơng chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi

yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong. Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong

trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là khơng thu

được thì phải hạch tốn vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà khơng được ghi

giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải thu là khơng chắc chắn thu được thì phải lập

dự phòng nợ phải thu khó đòi mà khơng ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu

khó đòi khi xác định thực sự là khơng đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng

nợ phải thu khó đòi.

1.4.2 Kế tốn bán hàng theo quy định của chế độ kế toán hiện hành

1.4.2.1 Chứng từ kế toán

a) Chứng từ sử dụng trong hạch toán nghiệp vụ bán hàng

Tùy theo phương thức, hình thức bán hàng mà kế tốn nghiệp vụ sử dụng các

chứng từ sau:

- Hóa đơn GTGT: Là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành chocác tổ

chức, cá nhân khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Bắt đầu từ ngày

01/01/2011, các doanh nghiệp được phép tự in hóa đơn hoặc đặt in hóa đơn theo nghị

đinh 51/2010/NĐ-CP của Chính Phủ, tuy nhiên, nội dung, phương pháp lập, ký duyệt

hóa đơn vẫn phải tuân theo quy định của Chính Phủ. Hóa đơn GTGT được lập thành

ba liên: Liên 1 lưu tại cuống, Liên 2 giao cho khách hàng, Liên 3 luân chuyển.

- Hóa đơn bán hàng là hóa đơn bán hàng nội địa dành cho các tổ chức, các nhân

khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Số liên cần lập và phương pháp lưu

chuyển tương tự như hóa đơn GTGT.

- Bảng kê bán lẻ hàng hóa: Doanh nghiệp bán hàng hóa có tổng giá thanh tốn

dưới 200.000 VNĐ khơng cần lập hóa đơn mà chỉ lập bảng kê bán lẻ. Cuối ngày, kế



tốn lập 1 hóa đơn ghi tổng số tiền bán hàng hóa, dịch vụ trong ngày thể hiện trên

dòng tổng cộng của bảng kê, ký tên và giữ liên giao cho người mua tại cuống, tên

người mua trong hóa đơn ghi “Bán lẻ khơng giao hóa đơn”. Hóa đơn này lập riêng cho

từng loại thuế suất.

- Phiếu xuất kho: Phản ánh số lượng hàng tồn kho xuất ra để bán hoặc sử dụng

tại doanh nghiệp. Trên phiếu xuất kho ghi số lượng hàng xuất, số lượng này phải trùng

với số lượng ghi trên hóa đơn GTGT hay hóa đơn bán hàng.

- Bảng thanh tốn hàng đại lý: Sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp có bán

hàng bằng phương thức đại lý, dùng để thanh tốn hàng, tiền với bên nhận đại lý.

- Ngồi ra kế tốn còn sử dụng một số chứng từ khác tùy theo yêu cầu của

nghiệp vụ phát sinh như: Phiếu nhập kho, các chứng từ phản ánh tình hình thanh tốn

(phiếu thu, phiếu chi, giấy báo nợ, báo có của ngân hàng), Giấy nộp tiền của nhân viên

bán hàng, hóa đơn cước phí vận chuyển, Hóa đơn th kho, bãi, thuê bốc dỡ hàng hóa,

Hợp đồng kinh tế với khách hàng, Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày…

b) Trình tự xử lý luân chuyển chứng từ trong quy trình bán hàng

Khi có nghiệp vụ bán hàng phát sinh, nhân viên bán hàng nhận đơn đặt hàng và

chuyển cho kế toán vật tư. Kế toán vật tư tiến hành lập Phiếu xuất kho và chuyển cho

thủ kho. Thủ kho nhận Phiếu xuất kho và tiến hành xuất hàng, sau đó chuyển cho nhân

viên bán hàng. Nhân viên bán hàng nhận hàng từ thủ kho, tiến hành lập Hóa đơn

GTGT hoặc Hóa đơn bán hàng và chuyển hàng cho khách hàng. Hóa đơn GTGT hoặc

hóa đơn bán hàng được lập thành 3 liên: Liên 1 lưu lưu tại cuống, liên 2 giao cho

khách hàng, liên 3 dùng để lưu chuyển nội bộ. Khách hàng nhận hàng và Hóa đơn từ

nhân viên bán hàng và làm thủ tục thanh toán. Nếu khách hàng chưa thanh tốn kế

tốn cơng nợ ghi sổ cơng nợ. Nếu khách hàng thanh tốn ngay, nhân viên bán hàng

nhận tiền từ khách hàng và chuyển cho kế toán bán hàng. Kế toán bán hàng lập Phiếu

thu và chuyển tiền cùng Phiếu thu cho thủ quỹ. Thủ quỹ nhận Phiếu thu, thu tiền và

ghi sổ quỹ, sau đó chuyển Phiếu thu cho kế toán tiền. Kế toán tiền ghi sổ tiền nhómvà

bảo quản phiếu thu.

1.4.2.2 Tài khoản kế toán

Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này

dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp cùng các

khoản giảm trừ doanh thu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×